Cố nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha (1949-1925) –
nguyên cán bộ Phòng Tuyên huấn Binh chủng
Tiếp phần 3/6
Càng lấn dần tới hợp điểm, tôi càng hồi hộp. Liệu niềm
tin kỹ thuật có đổ vỡ không? Tôi đã bám sát khá tốt như tính toán. Một chiều,
sau khi bẻ góc cuối cùng, mũi đo đạc lao nhanh đến một khoảng hang bằng bặn. Bỗng
nghe nước đổ ầm ầm đâu đây. Tôi chạy lên trước. Sông B...! đây rồi. Tôi muốn
hét bật tung niềm vui giữa không gian. Tôi chạy ngược chạy xuôi như điên theo bờ
Bắc. Tôi phát hiện ra ngay hai con suối ghi trên bản đồ. Lòng tôi như có con
chim nhảy nhót. Sung sướng quá.
Tôi đã làm chủ được những điều trước đây không bao xa tôi
còn lo lắng, sợ sệt nó. Men theo bờ Bắc sông, chúng tôi ùa ra đường tìm mũi đo
của Hiệu. Ở một sân bóng của đơn vị công binh bên kia đường thấy lố nhố toàn
người quen. Kia rồi, Hiệu đang búng bóng với anh em đo đạc. Thì ra mũi đo của
Hiệu chỉ còn ngày mai là cũng tới hợp điểm. Gặp nhau tay bắt mặt mừng. Chúng
tôi hình thành nhanh chóng một đội bóng. Trận đấu sôi nổi với đơn vị công binh
chiều ấy hân hoan như một cuộc vui mừng thắng lợi.
Chưa bao giờ thấy xe vào nhiều như mùa khô 1974. Ngày
nào cũng như ngày nào. Không ngớt các đoàn xe vào, xe ra. Bụi cuốn, lốc xoáy suốt
Trường Sơn. Những thước đường nhanh chóng trườn lên phía trước. Những đường ống
dùi lòng núi vươn về phía trước. Bên cạnh đường dây, các trạm quân bưu, các xe
thông tin với ăng ten cao ngất cũng rải suốt trục đường. Thực tế đó dấy lên trong
lòng lính nhiều dự cảm. Dự cảm về một điều lớn lao, mới mẻ thì thầm trong câu
chuyện, trong công việc.
Chúng tôi hăm hở đến bến G. Từ lòng thung hẹp này, cảm
thấy gần Đà Nẵng rồi, xuôi theo sông là vùng TM, giáp ranh địch ta. Giữa lòng bến
G bật lên cây phượng xòe hoa chói đỏ. Nhìn màu hoa như lửa, tôi nhớ lại cuộc gặp
gỡ của cha con anh Võ Xuân Lan, đoàn trưởng đoàn Lam Sơn. Tháng 6 năm 1973, anh
Lan còn là trợ lý Phòng Công trình Bộ tư lệnh Thông tin. Trong chuyến đi khảo
sát đường dây năm ấy, anh Lan đã gặp con gái của mình sau mười chín năm xa
cách. Sau đình chiến 1954, anh bộ đội Võ Xuân Lan về Đại Lộc quê anh và lấy vợ.
Mấy tháng sau, anh lại chia tay vợ, ra Bắc tập kết. Không ngờ những ngày cuối
cùng ấy lại là ngày bắt đầu cuộc đời của Huệ, con gái anh. Huệ lớn lên không ở
với mẹ. Mẹ đã bị ép bỏ chồng, lấy ác ôn. Ở với ông bà đến tuổi thanh niên, Huệ
đã tham gia cách mạng và từng ra tù vào tội. Năm 1973, Huệ ra vùng giải phóng.
Đúng lúc này, anh Lan tới TM công tác. Vì hai cha con không biết mặt nhau, nên
tại trạm khách, Huệ nhìn mấy người trong đoàn không biết ai là cha mình. Cô cứ
mếu máo bấm tay mọi người: "Chú ơi! ba cháu đâu?". Người bị Huệ nắm
tay cuối cùng chính là anh Lan. Không đủ sức kéo dài cảnh tượng ấy nữa, anh Lan
òa khóc. Đo với đường dây "thống nhất", những người thân bị chia lìa bởi
bao năm xa cách đã gặp nhau.
* * *
Không ngờ lúc đang hăng hái làm việc, tôi lại bị sốt. Có
lẽ vì nóng quá. Đúng như câu "Nắng bến Giàng, ruồi vàng Đắc Pét". Sau
buổi chiều ở tuyến về, tôi thấm mệt, ăn cơm xong thì người ran lên. Trèo vào
võng, thấy người bải hoải, choáng váng. Đầu tôi nhói buốt. Càng vào sâu Trường
Sơn càng lạ lẫm, khắc nghiệt. Liên tiếp mấy ngày, tôi chỉ ăn cầm hơi. Đêm không
sao chợp mắt. Thiếp đi lúc nào cũng toàn mộng mị. Giữa những cơn mơ tỉnh chập
chờn, tôi nhớ Lộc da diết. Lộc! Bây giờ em ở đâu? Tại sao chuyện ấy lại xảy ra
như thế. Tưởng dứt khoát, ra đi sẽ thanh thản hơn, nhưng năm tháng trôi qua, có
lúc nào tôi nguôi thương nhớ Lộc. Lộc quên chưa bao kỷ niệm của một thời đi học
đẹp như hoa? Những tự trọng kiểu học sinh chỉ làm khổ nhau thôi. Có đêm buột mồm,
tôi gọi mẹ. Mẹ có thể nào hình dung ra con trai của mẹ đang nằm mê man trên con
thuyền võng trôi bồng bềnh bên con sông Giàng xa lắc này không? Cầu xin mẹ cho
con sức mạnh.
Chỉ một tuần, người tôi rũ như tầu lá. Tôi không bước
nổi. Các bạn phải chặt cho tôi hai cây gậy chống. Từ củ sắn lùi đến nắm rau má,
các bạn săn sóc tôi bằng tình người chân thực. Nhưng túi thuốc bé xíu của y tá đại
đội không dẹp nổi cơn hỏa hoạn đang cấu xé thân tôi. Chuyến xe cấp cứu đưa tôi
tới phân viện F471. Vào viện, tôi vẫn sốt liên miên rồi mê man dần.
Người trực tiếp săn sóc tôi là y tá Vụ quê ở Nam Hà. Nhờ
tận tâm và có kinh nghiệm, Vụ đã đưa tôi qua cơn hiểm nghèo. Tôi tỉnh dần. Thật
buồn cười, cái trưa tôi vui mồm, lẩm nhẩm hát vài câu tiếng Nga, anh hốt hoảng
chạy vào ngỡ tôi bị biến chứng ác tính.
Khỏe hơn một chút, tôi muốn ra viện ngay. Nghe phong
thanh quân ta nhổ chốt Đắc Pét của địch, tôi càng sốt ruột. Ở ngoài, anh em biết
tôi ốm, nhân chuyến xe vào ai cũng hỏi thăm. Phong gửi cho tôi hai lọ thuốc bổ gan.
Cầm hai lọ thuốc lọt thỏm, tôi lặng đi. Hồi đi học, tôi không ưa Phong lắm. Do
xốc nổi tuổi trẻ, chúng tôi đã từng to tiếng với nhau. Cùng đi bộ đội, cùng vào
Trường Sơn, cuộc sống lính đã kéo chúng tôi lại gần nhau. Ở chiến trường lạ lắm,
chỉ cần gặp nhau một quãng là thành bạn bè tri kỷ. Chỉ cần kề võng một đêm là
có thể trút hết tâm sự. Trong chiến tranh, kẻ thù tàn phá đất đai nhưng không
sao ngăn được tình cảm nảy nở giữa những con người. Càng gian khổ, càng thương
nhau.
Tham mưu phó Hiệu gặp tôi. Chính anh là người trao quà
của Phong cho tôi. Anh nói giọng Huế khẽ khàng: "công tác với nhau, lúc đầu
mình cũng chưa hiểu Kha. Qua anh em và thời gian công tác mới rồi, mình đã hiểu
hơn. Đúng là phải có thời gian, Kha nhỉ!". Tôi biết nếu chưa hiểu tôi, anh
Hiệu có thể buông lời hỏi thăm khách sáo với tư thế cấp trên. Những lời trên khác
thế. Nó được cất lên từ đáy lòng. Tôi tin như vậy. Lòng tôi như có một đợt sóng
xô dậy. Một cảm giác gì cứ lâng lâng mãi.
* * *
Chiến dịch Đắc Pét nổ ra. Chúng tôi được lệnh, tạm dừng
khảo sát về phía Nam. Rời công việc khảo sát đo đạc, sau ít ngày dưỡng bệnh cho
lại sức, tôi xuống theo dõi thi công ở các đơn vị.
Nếu có sức thần mà bay một mạch, rà sát các góc rừng của
khối Trường Sơn Bắc, ta sẽ thấy bên cạnh những mạch đường đỏ au đặc biệt là đường
14 có một vệt đường thứ hai nhỏ mảnh hơn, ngoằn ngoèo bám xoắn xuýt con đường
14 như dây leo, như anh em sinh đôi, là kỳ tích con đẻ của mẹ Trường Sơn. Rà
sát chút nữa, ta sẽ thấy những sợi dây lờ mờ kẻ qua vực sâu, núi cao. Những sợi
dây óng ánh dưới nắng. Anh sẽ nghe tiếng rìu chặt cây, tiếng cây đổ ầm ầm, tiếng
dô hò dựng cột và tiếng nói cười lay động suốt khoảng rừng. Đó là trận tuyến đường
dây.
Độ này, đang giữa mùa khô. Nắng chói chang. Nắng gắt.
Xế chiều đột ngột trút cơn mưa. Trời vẫn trong veo. Như đàn ong xây tổ, các chiến
sĩ đường dây cần cù thi công. Dọc đường 14, xe vật liệu đi về như con thoi. Đảm
bảo công việc này có Tiểu đoàn 8 và Đại đội 13. Vật liệu được lấy ở kho thuộc Đại
đội 9 đảm bảo. Còn bệ cột và bệ dây co thì lấy ngay trên công trường của Đại đội
8. Ở những nơi có đường nhánh, xe được đẩy vào sâu hơn. Đến chỗ không thể cơ giới
được nữa, những tấm lưng bắt đầu gánh vác. Công việc đầu tiên là chuyển vật liệu.
Tuy khá mảnh nhưng mỗi thước cột sắt cũng nặng 9 cân. Các chiến sĩ phải đỡ trên
vai 54 cân khi vác cây cột 6 mét. Nhìn thanh cột rập rình trên vai người vác, chẳng
tin nó nặng đến thế. Phức tạp hơn là công việc gùi bệ cột. Cuộc vật lộn thật
quyết liệt. Những khối bê tông vuông cứng, nặng gần 50 cân được buộc vào dây
võng, bao bượng. Lính cũng nó trên lưng. Nhìn những chàng trai nhỏ bé lom khom
gùi bệ lên dốc, tôi nao nao nhớ những ngày còn ở đơn vị. Những ngày gùi vật liệu
thế này thật căng thẳng. Tôi ngỡ như ngực tôi đang run lên trong hơi thở gấp
gáp của những người đang bước lên dốc tức. Gùi nhiều, khi tắm cho nhau, xoay lưng kỳ cọ thường còn gặp vết
máu rớm đọng khô. Gùi bệ cứng thế kia, lâu ngày sẽ thành chai ở cuối lưng. Cuộc
chiến đấu của những người lính đường dây trên Trường Sơn thầm lặng nhưng gian
khổ, chẳng kém gì chiến sĩ dưới đồng bằng. Gian lao qua từng ngày chậm chạp.
Chiều về, hì hụp tắm suối như một bàn tay mềm mại xoa dịu bớt những bụi bặm và
mồ hôi. Giấc ngủ đêm như vị thuốc tiên khiến con người trở nên tỉnh táo mỗi ban
mai. Nhưng có lúc, dòng suối và giấc ngủ cũng không mầu nhiệm nữa. Khi quá mệt,
sáng rồi mắt không muốn mở. Nhất là buổi trời mưa. Nằm vặt tay lên trán tự đấu tranh
với thân thể mệt mỏi của mình. Lên tuyên hay không lên tuyến? Những người lính
nghĩ đến nhau. Chia sẻ cùng đồng đội chính là niềm vui vô tận. Tôi đã thắng lại
nhiều sớm suy tư với lý lẽ đó. Giờ đây, tôi hiểu những người bạn trẻ này cũng
thế. Mang gùi lên dốc, họ nhữ những nốt móc đơn đang lướt nhanh giai điệu lạc
quan nên Trường Sơn.
Vật liệu vào tuyến khi lỗ cột đã đào xong. Tay người cầm
choòng đục đã rớm máu nắm tay người gùi vật liệu nóng bỏng. Vai chai, tay chai
và chai ở cuối lưng, những người lính đường dây lại xúm vào lắp ghép dựng cột.
Bài dô ta thô trần và đôi mắt thường của lính đã nâng dậy hàng cột thẳng tắp.
Ngày nắng, ngắm nhiều hoa mắt muốn ngất xỉu. Ngày mưa tối trời căng mắt ngắm vẫn
mờ. Đến với những đơn vị đang dựng cột, tôi hình dung ra những đoạn tuyến mình
đã đo đạc. Sức người thật kỳ diệu. Từ một con đường "chuột chạy" mờ mờ
rúc trong rừng sâu đã mở ra đường dây hiên ngang một đường cột. Các cây cột
dang tay đỡ dậy. Rồi dây được căng lên như những sợi đàn của cây đàn Trường
Sơn.
Còn nữa
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005)
0 comments:
Đăng nhận xét