Phạm Huy Thưởng
Tháng 5 năm 2003, tại cuộc gặp mặt kỷ niệm 50 năm
thành lập Trung đoàn 132, tôi đã gặp được gần hai trăm anh em cán bộ chiến sĩ
cũ của Trung đoàn. Chúng tôi mừng mừng tủi tủi, tình cảm sâu đậm không biết kể sao
cho hết. Có một điều tôi hết sức cảm động là tất cả anh em đều gọi tôi là
"nhạc sĩ". Một cách gọi thân quen từ gần ba mươi năm trước. Cũng có một
số anh em quên tên tôi, nhưng khi anh em khác nhắc lại: "Huy Thưởng, tác
giả cưỡi mây lên gõ cổng trời đó mà", thì không một ai là không nhớ đến
tôi.
'Đêm đó tại nhà Đặng Trường Lưu, tôi nằm thao thức không
ngủ được. Kỷ niệm cũ một thời làm tôi muốn ngợp thở. Tôi trằn trọc một điều:
"Con đường để tôi trở thành nhạc sĩ đã diễn ra như thế nào?".
* * *
Tôi yêu nhạc từ thuở nhỏ. Có điều là nhà tôi nghèo, tôi
không được học đàn. Với cây đàn mandolin mượn được từ người anh họ, tôi đã
nhanh chóng nắm được cấu tạo của cây đàn bốn dây. Tiếp đó, tôi mượn được của người
chú cây ghi ta, một thời gian sau tôi hiểu thêm được cây đàn ghi ta nữa. Tuy
nhiên phải đến khi đi làm cán bộ vật giá thương nghiệp tôi mới được học một
khóa nhạc lý ở câu lạc bộ Lao động Hải Phòng. Khóa học gần ba năm này cho tôi
những kiến thức cơ bản đầu tiên về hòa âm, khúc thức và kỹ năng nghe và ghi nhạc.
Toàn bộ kiến thức đó mới chỉ giúp cho tôi viết bài thiếu nhi đầu tiên. Sau khi
gửi báo Thiếu niên Tiền phong, anh Phong Nhã trả lời: "Bài hát của em nội
dung rất tốt, tuy nhiên bài hát thiếu cái gọi là rhythm nên không sử dụng
được". Tiếp đó, nhân dịp tháng 8 sinh nhật cô bạn gái, tôi viết bài hát lấy
tên là "Tháng tám hoa sen nở" để tặng cô ta. Bài hát thay cho một số
tiền mua quà tặng sinh nhật mà tôi không có. Bài hát này đã được hoan nghênh
nhiệt liệt tại buổi lễ sinh nhật. Ông già của cô bạn gái tuyên bố: "Một
món quà của cháu Thưởng rất có ý nghĩa vì người ta dù có nhiều tiền cũng khó mà
có được cái đó". Được lời đó tôi nở từng khúc ruột. Trong đám bạn của cô
gái đó có rất nhiều anh chàng con nhà giàu với những món quà nước ngoài rất đắt
giá. Bằng bài hát của mình tôi đã thắng tất cả, tuy nhiên tôi chỉ không thắng
được cô bạn gái.
Ngày 12 tháng 4 năm 1962, gần tròn hai mươi tuổi, tôi
nhập ngũ. Tôi được điều về Trung đoàn 205. Sau thời gian huấn luyện tân binh
tôi nhận quyết định về Trung đoàn 132. Vốn hiểu biết về nhạc của tôi nhanh
chóng tạo ấn tượng với đơn vị. Đơn vị giữ vững những đêm sinh hoạt văn nghệ thứ
năm hàng tuần. Và những đêm đó tôi đem những bài hát in trên Tạp chí Văn nghệ
Quân đội ra dạy cho anh em trong đại đội hát. Trung bình mỗi tháng anh em trong
đại đội thuộc và hát tập thể trơn tru thêm một bài hát mới. Chúng tôi có thể
hát cả tiếng đồng hồ mà không hết những bài hát tập thể của đại đội.
Tiếp đó tại Đại hội Liên chi đoàn thanh niên Lao động
của đại đội, tôi trúng cử Phó bí thư Liên chi đoàn. Một đồng chí trợ lý thanh
niên ở Cục Thông tin liên lạc về dự đại hội này đã để ý đến tôi. Đồng chí này
nói là bản báo cáo của Liên chi đoàn mang tính chiến đấu rất cao, tất nhiên kể
cả trình độ hát tập thể của đại đội. Sau đó, tôi được Phòng Chính trị, Cục
Thông tin liên lạc gọi đi học lớp tập huấn về múa hát do Tổng cục Chính trị mở.
Cả một tháng trời ở thị xã Bắc Ninh, chúng tôi học các điệu múa đôi, múa vòng.
Đây là những điệu múa và bài hát tập thể được quy định thống nhất trong toàn quân.
Cuối khóa, cả lớp chúng tôi dựng thêm bản hợp ca không nhạc đệm của nhạc sĩ
Nguyễn Văn Tý. Đó là bài "Ngày miền Nam", một bài hát đối đáp - bốn
bè, giai điệu Nam Trung Bộ rất hay.
Hàng ngày tại Nhà hát nhân dân thị xã Bắc Ninh, gần ba
trăm học viên nam nữ toàn quân về học. Tất cả chia thành ba vòng người, chúng
tôi tập bài múa vòng, lúc chạy ngược, lúc chạy xuôi rất nhịp nhàng. Mỗi vòng người
có đủ loại sắc phục. Anh bộ binh áo xanh lá cây nhạt. Anh lính biên phòng áo
màu lá cây sẫm. Anh lính thủy phất phơ tấm yếm kẻ sọc và hai dải dây mũ. Anh lính
không quân màu áo xanh da trời. Mấy anh chị công nhân quốc phòng áo xanh lục. Lại
có mấy cô đến ngày cữ mặc thường phục áo trắng, áo nâu... Dưới ánh nắng chiều,
ba cái vòng màu sắc ấy vẽ nên những vòng tròn tuyệt đẹp trên nền cỏ xanh của
sân Nhà hát nhân dân thị xã. Một tháng học ở vùng đất quan họ ấy cho tôi thêm kỹ
năng dàn dựng bài hát. Khóa học ấy bổ sung cho tôi nhiều cảm xúc và tư duy về
âm nhạc rất quý báu.
Tôi cứ nghĩ, nếu đất nước không có những biến chuyển dữ
dội thì có lẽ tôi cũng chỉ biết làm tốt công việc của một anh quản ca tập thể.
Đó là sự kiện Vịnh Bắc Bộ 5 tháng 8 năm 1964, bom đạn giặc Mỹ dội thẳng lên miền
Bắc. Chúng đánh phá bằng không quân vô cùng ác liệt. Ác liệt tới mức chính những
người lính như chúng tôi sau này có lúc tự hỏi: Làm sao mà một con người nhỏ bé,
lúc nặng cân nhất cũng chỉ tới 49kg. Làm sao mà một chàng trai con một ở đất
thành thị yếu ớt như tôi có thể leo Trường Sơn suốt nhiều mùa mưa nắng. Chúng tôi
lại còn vác dây, gùi sứ, leo dốc cao, vượt thác lũ? Hành quân bộ giữa cơn sốt
39 - 40 độ. Vất vả là thế, đời sống gian khổ là thế mà đêm đêm chúng tôi vẫn thức
để viết những tấu hài, làm thơ, viết ca khúc hết bài này đến bài khác? Thậm chí
mấy anh chính ủy trẻ ngày nay đã hỏi tôi: "Làm sao hồi đó các bác làm công
tác chính trị giỏi như thế?".
Sau 5 tháng 8 năm 1964 có một chỉ thị của Ban Bí thư
Trung ương Đảng, chỉ thị số bao nhiêu tôi không nhớ rõ nhưng anh em quen gọi là
chỉ thị "ngắn, gọn, nhỏ, lẻ". Các anh ở Phòng Chính trị Bộ tư lệnh
Thông tin đã tập huấn cho chúng tôi nhiều lần nên ghi nhớ được nội dung chỉ thị
này. Chỉ thị của Đảng nói: chuyển sang thời chiến, ta phải tạm ngưng lại những
vở diễn vài ba tiếng đồng hồ, các tiết mục văn nghệ chuyển sang làm ngắn gọn,
nhỏ, lẻ. Thậm chí chúng tôi đã dựng một vở kịch ngắn 6 phút rưỡi để thử nghiệm
tư tưởng chỉ đạo mới.
Những ngày đầu, Hà Nội chưa bị đánh bom, nhưng báo động
máy bay Mỹ đã diễn ra ngày ngày càng nhiều hơn. Cuộc sống thời chiến cực kỳ
nóng bỏng. Trận địa phòng không đã xuất hiện dày đặc trong và ven đô bày ra ở khắp
vùng nông thôn, đặt ngay cả trên các mái nhà cao tầng. Bốn chục năm nay tôi vẫn
không quên cái cảm giác khi tiếng còi báo động phòng không vang lên. Tiếng còi
cảnh báo thôi thúc ấy làm cho ta đau thắt, tim gan cộn lên khi ta đang ngồi
trong rạp, cùng cô bạn gái xem một bộ phim hay. Giữa lúc như thế, từ khu Bốn
khói lửa, tôi được lệnh về Hà Nội dự lớp sáng tác ca khúc. Gần hai chục anh em ở
các đơn vị đã về dự lớp này. Ngày ngày, chúng tôi nghe các nhạc sĩ Huy Du, Nguyễn
Đức Toàn, Vũ Trọng Hối, Văn An giảng về kết cấu câu, đoạn nhạc và bản nhạc.
Chúng tôi vỡ ra những hiểu biết về thể ca khúc AB, ABA', ABB', ABC... Mỗi chủ
nhật tôi và Phạm Khắc Vinh tới ngôi nhà của anh Huy Du ở phố Cửa Bắc dưới dốc
đê Yên Phụ. Tại đây chúng tôi được nghe những bản nhạc cổ điển. Chị Nguyễn Thị
Nhung, vợ anh Huy Du là người giảng giải, giới thiệu, phân tích cho chúng tôi
hiểu những tác phẩm của Haydn, Moza, Beethoven, Tchaikovsky, Shostakovich...
Lớp học sáng tác ca khúc được mở ngay tại cơ quan Phòng
Chính trị. Anh Nguyễn Văn Khoan là người phụ trách lớp.
Lần đầu tiên ở trong hoàn cảnh như vậy, chúng tôi có đủ
điều kiện để sáng tác một bài hát nhưng chúng tôi chưa tìm được cách của riêng
mình để làm. Khi đó tôi chưa biết đầy đủ thế nào là cảm xúc âm nhạc. Tôi hoàn toàn
bị động bởi quy định "Phải có một bài hát". Lớp học dự định mở trong
thời gian sáu tuần lễ. Mỗi tuần chúng tôi được nghe từ hai đến ba ngày giảng
bài. Những ngày còn lại trong tuần dành cho sáng tác. Đến gần hết tuần thứ ba
tôi vẫn chưa ghi được một nốt nhạc nào trên giấy. Tôi chưa tìm ra quy trình của
sự sáng tác nhạc. Khi trong ý tưởng của mình, những câu nhạc xuất hiện trước thì
đó lại là những giai điệu quen thuộc, nghèo nàn. Còn khi những ý tưởng văn học
xuất hiện trước thì đó là những câu hát mà lời thì có ý tứ, nhưng giai điệu thì
lại rất "sến sẩm".
Và rồi ý tứ của bài hát cũng hình thành dần dần trong
tôi. Tôi nghĩ đến hình tượng đội quân thông tin lên đường. Dấu chân của họ in
trên mọi vùng đất của Tổ quốc. Họ lên đường vào miền Nam giải phóng đất nước. Đội
quân ấy khi ra đi là quyết lập chiến công. Câu nhạc đầu tiên xuất hiện: "Chúng
ta đi dấu chân in ngàn sông núi". Câu nhạc với điệu thức Mi thứ làm
tôi thấy phấn chấn. Khi đó cả đất nước cùng ca vang bài hát "Giải phóng miền
Nam" của Huỳnh Minh Siêng. Với bài ca chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải
phóng miềm Nam, có phải đây là lần đầu tiên một bài hát hành khúc mang điệu Mi
thứ xuất hiện trong ca khúc Việt Nam hay không tôi không dám khẳng định. Tuy
nhiên bài hát này hấp dẫn tôi rất nhiều. Bài hát "Khi chúng ta lên đường"
đã theo kịp mô đen thời đó.
Hai tuần sau tôi hoàn thành bài hát. Tôi nộp bài đúng hạn và được nhạc sĩ Huy Du khen ngợi trong buổi tổng kết lớp. Các đồng chí lãnh đạo Phòng Chính trị cũng khen thưởng tôi xứng đáng về kết quả học tập này. Tôi mừng là đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tôi càng mừng hơn vì lần đầu tiên viết được một bài hát trong giới hạn về thời gian và theo một định hướng nội dung. Sau đó bài hát này được in trên trang bìa ba Tạp chí Văn nghệ quân đội tháng 9 năm 1967.
Còn nữa
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005)
0 comments:
Đăng nhận xét