30.10.25

"Nhạc sĩ" của Trung đoàn (3/8)

Phạm Huy Thưởng

Tiếp theo phần 2/8

Bây giờ tôi xin kể đến hoạt động nghệ thuật quần chúng ở cấp trung đoàn. Bởi nếu phong trào ở cấp này không mạnh thì đừng nói gì tới cái mạnh ở cấp Binh chủng. Và xét đến cùng, sự chỉ đạo của Bộ mạnh như thế nào cuối cùng thì hiệu quả cũng thể hiện ở cấp trung đoàn.

Phải nói rằng khi ra quyết định thành lập Đội TTVHXK ở 132 thì cả thủ trưởng Trung đoàn và anh em chúng tôi đều tràn đầy bầu "máu liều" trong tim. Khi đó Trung đoàn chỉ có ba người có khả năng sáng tác được ít nhiều. Đó là Phạm Khắc Vinh, Vũ Trọng Ngà và tôi. Ngày anh em từ các đại đội về đến Văn Điển, chúng tôi mới chỉ có trong tay bài "Thông tin lên đường", ca khúc của tôi ở lớp học sáng tác của Bộ. Vũ Trọng Ngà nhận viết một tổ khúc chèo về lính đường dây. Tiếp đó, do mối quen biết từ xưa với Trung đoàn phó Lê Văn Thành, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý viết bài "Hành khúc dây trần" mà sau này anh em trong đơn vị vẫn quen gọi là bài "Từ Việt Bắc năm nào ta ra đi". Ngày ngày anh em chúng tôi luyện thở, luyện thanh, luyện hòa âm và dựng bài hát của tôi và bài của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý. Chúng tôi lại sưu tầm được bài "Đoàn quân 303", một bài hát truyền thống của đơn vị có từ thời chống Pháp. Bài này do ông Nguyễn Vũ Việt, một cán bộ của Đại đội 303 ngày trước sáng tác. Sau này chúng tôi gặp lại ông ở Bộ Cơ khí Luyện kim. Chúng tôi cũng dựng được một số bài moden chống Mỹ thời đó như "Hoan hô các cụ Thanh Hóa bắn rơi máy bay Mỹ", "Quảng Bình quê ta ơi"... Ít ngày sau Vinh làm thêm được bài hát "Tôi là chiến sĩ đường dây". Kế đó Trọng Ngà xin duyệt tổ khúc chèo "Hát về đường dây". Và phải đến gần hết thời gian tập luyện, Phạm Khắc Vinh mới viết xong vở kịch "Lý Tự Trọng, người chiến sĩ liên lạc của Đảng".

Trong dàn dựng tập luyện chúng tôi gặp rất khó khăn. Cái khó nhất là trong vở kịch Lý Tự Trọng có một vai nữ. Đó là vai một bà bán hàng rong ở cảng Sài Gòn. Sau nhiều lần bàn bạc chưa tìm được người đóng thế chúng tôi phải mượn một cô gái trong xã vào vai này. Thật ra đây chỉ là cách tạm thời để kịp diễn báo cáo cho đúng thời gian quy định. Về lâu dài đi diễn ở các đại đội thì phải có người trong đơn vị. Có một biện pháp rất cổ nhưng tạm sử dụng trong lúc đó là chúng tôi đã chọn người đóng giả nữ. Anh chàng Cao Xuân Thảo, người Hà Nội được chọn đóng vai bà hàng rong. Thảo có giọng nói rất con gái, còn động tác thì hoàn toàn là một anh con trai vụng về. Chúng tôi phải rất công phu trong việc hóa trang cho Cao Xuân Thảo vào vai này. Bản thân Thảo cũng dày công luyện tập để vai kịch có thể được bộ đội chấp nhận.

Cái khó nữa là thiếu nhạc cụ và thiếu người chơi. Nhạc cụ khó sắm vì không đủ tiền, tuy nhiên cuối cùng chúng tôi vẫn kiếm được cách để có những cây đàn. Riêng người chơi đàn thì phải luyện tập mới đủ người chơi. Chúng tôi đã giải quyết khó khăn này bằng hai cách. Một là khi phối âm cho dàn nhạc đệm chúng tôi chọn chủ yếu là nhạc cụ dân gian: sáo, nhị, đàn tam, đàn tứ, thập lục, đàn bầu với ba loại trống là trống chầu, trống đế và trống cái. Anh em chơi nhạc cụ này phải học nhạc lý để biết cách sử dụng phần phối khí. Thậm chí các nhạc công của dàn bát âm này còn phải chơi được một số bản nhạc nước ngoài thịnh hành khi đó như La Paloma (Cánh buồm xa xưa), Bengawan Solo (Dòng sông Solo), Hoa đẹp Chămpa và Cachiusa... Còn cây đàn mandolin, ghi ta, accordion và cả kèn harmonica nữa thì chúng tôi phân công nhau mỗi người tập một thứ để chỉ đệm cho một bài, thậm chí tập để hơi thành thục một đoạn nhạc, để khi biểu diễn anh có thể trình bày đoạn độc diễn đó thật hay. Thanh Phương với cây acccordion 36 phím ngày đêm tập đi tập lại một đoạn nhạc mở đầu của bài "Tiến bước dưới quân kỳ". Huy Thưởng ôm cây mandolin sáng trưa tối chỉ tập một đoạn nhạc dạo của bài "Tiếng đàn ta lư", đoạn nhạc có một chùm tám nốt móc kép. Nguyễn Văn Kha tập đệm với cây đàn ghi ta. Kha nguyên là tay chơi nhị và đàn tam khá tốt, nay tập ghi ta có những cái khó riêng.

Tập để chơi thành thạo một nhạc cụ nào đó người ta phải mất nhiều năm. Nhưng chỉ tập cho thành thục một vài câu nhạc hoặc một hai bài hát với một cây đàn nào đó thì có thể thấy trong thời gian ngắn là làm được. Kết quả là trên sân khấu người xem thấy anh em chúng tôi ai cũng biết chơi đàn. Buông cây nhị ở tiết mục trước, tiết mục sau bà con thấy anh chàng Kha ôm cây ghi ta, mà lại chơi khá chuẩn đoạn nhạc solo dành riêng cho anh ta. Nào ai biết để chơi cho nổi đình đám, anh ta đã mất cả mấy tháng trời tập đi tập lại chỉ một đoạn nhạc chưa đầy 20 nhịp.

Sau hai tháng vừa tập luyện vừa sáng tác dàn dựng chúng tôi đã có một chương trình biểu diễn 105 phút, trong đó phần tự biên chiếm hơn 60 phút. Một thành công ngoài sức tưởng tượng của cả chúng tôi và các thủ trưởng Trung đoàn.

Sau đêm diễn báo cáo Đảng ủy và thủ trưởng Trung đoàn, chúng tôi diễn đêm đầu tiên tại sân kho thôn Cổ Điển B, xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì, nơi Trung đoàn sơ tán đóng quân từ tháng 8 năm 1964. Đêm diễn đầu tiên này có một giọng ca khá nổi ở địa phương là Minh Tâm tham gia. Tiết mục đơn nữ hai bài "Tây Nguyên ơn Bác" và "Cô dân quân miền núi" do Minh Tâm trình bày là tiết mục đệm trong khoảng thời gian hóa trang cho vở kịch.

Tiếp đó chúng tôi đi biểu diễn ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Tây, Thanh Hóa, tại những nơi có các đại đội đang làm các công trình đường dây ở đó. Đợt đi diễn này  kéo dài khoảng ba bốn tháng. Đi biểu diễn hết vòng các đại đội, chúng tôi về Trung đoàn bộ. Chúng tôi tổng kết, rút kinh nghiệm xong là giải tán cho anh em về đại đội.

Tại Trung đoàn bộ, chúng tôi lại bắt tay chuẩn bị cho đợt hoạt động tiếp theo. Chúng tôi trình lên thủ trưởng Trung đoàn danh sách mới của Đội TTVHXK đợt tới. Những chiến sĩ có năng khiếu ở đại đội mà chúng tôi tìm được trong suốt đợt biểu diễn vừa qua. Chúng tôi gom lại các tiết mục mới. Những sáng tác của chúng tôi và của anh em trong các đại đội mà chúng tôi sưu tầm được trong chuyến đi khắp miền đất nước. Chúng tôi sáng tác thêm, và tiếp tục tìm kiếm những tiết mục đang nổi trong và ngoài quân đội. Trên dưới hai tháng làm việc như vậy chúng tôi chuẩn bị chu đáo cho đợt tập trung mới của Đội TTVHXK. Đợt hai này Phạm Khắc Vinh có bài "Hoan hô anh nuôi". Bài hát có một đoạn gây ấn tượng mạnh cho người xem là "Giôn xơn Giôn xiếc, Tay lơ Tay liếc, Ma ra Ma riếc tất cả đều thua... Thua cái chôn nồi... nồi anh nuôi". Đợt này tôi viết được bài “Chuyện cái sứ". Mấy tháng sau lại một chương trình mới với một đợt diễn mới. Rút kinh nghiệm từ đợt trước, đợt này chúng tôi tập luyện và dàn dựng một cách có bài bản, nhanh gọn và chất lượng cao hơn.

Có một lần đội chúng tôi lên biểu diễn ở Nhà hát lớn Hà Nội. Tốp ca nam hát bài đầu tiên chút nữa thì bị hỏng. Lý do là vì ở nhà quen tập trong phòng nhỏ. Ra sân khấu lớn tiếng hát như bị hút đi đâu mất. Sau lần đó chúng tôi không tập hát trong nhà nữa. Chúng tôi tập hát ở ngoài sân, thậm chí tập cả dưới trời mưa phùn. Bởi vì quanh năm suốt tháng chúng tôi đến các đại đội đều diễn ở ngoài trời. Thấy anh em sức khỏe yếu, hát không đủ hơi, chúng tôi tập chạy dài mỗi tuần ba lần, thay vì cho một lần như điều lệnh quân đội quy định.

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005)

 

0 comments:

Đăng nhận xét