Cố nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha (1949-1925) –
nguyên cán bộ Phòng Tuyên huấn Binh chủng
Tiếp phần 5/6 và hết
III
Bộ tư lệnh chính thức giao nhiệm vụ năm 1975 cho Đoàn
Lam Sơn. Lập tức, kế hoạch được triển khai. Để có một đường dây xuyên Trường
Sơn phục vụ chiến dịch đúng ngày N+1 trong tháng hai 1975, phải có một phương
án thật tỷ mỷ. Lính thật nhạy cảm. Ngay từ khi huấn luyện, thấy trong giáo án
có phần cột gỗ, các "tham mưu con" đã xì xào suy đoán. Chúng tôi cũng
nóng lòng mong mỏi. Bây giờ thì trần lưng ra mà làm. Muốn rút ngắn thời gian khảo
sát đo đạc để bộ đội nhập tuyến sớm, cần tung ra ngay trong tháng 11 năm 1974 tám
mũi đo đạc cùng một lúc. Được cử phụ trách Tiểu ban, tôi băn khoăn mãi. Người
lên tuyến thì có, nhưng anh em có kinh nghiệm chỉ còn có Hiệu và Bổng. Liệu anh
em mới có đảm đương được không?
Buổi triển khai nhiệm vụ trong Tiểu ban thật sôi nổi. Tôi
phân công dặn dò công việc khá tỷ mỷ. Sáu đồng chí trung cấp kỹ thuật và mười đồng
chí sơ cấp kỹ thuật được bổ sung vào tám mũi đo. Vì cán bộ trung cấp kỹ thuật
không đủ nên có hai mũi phải giao cho hai đồng chí sơ cấp kỹ thuật. Sông và Luộc
làm mũi trưởng. Lo lắng về hai mũi này một phần, tôi còn lo đồng chí Điền khó đảm
đương mũi trưởng. Trong số bốn đồng chí trung cấp kỹ thuật mới về, Điền yếu
chuyên môn nhất. Thời gian gấp gáp bồi dưỡng thêm không là bao nhưng chẳng còn
cách nào hơn cả. Đồng chí Quyết tuy là cán bộ trung cấp kỹ thuật có kinh nghiệm
nhưng mới đi viện về, sức khỏe còn yếu nên được phân công coi hậu cứ và tăng
gia sản xuất. Cuộc họp gần như có thể kết thúc được thì Quyết xin có ý kiến.
Sau cái đằng hắng quen thuộc, Quyết nói chậm rãi, anh chàng này định nói gì mà
kỳ vậy? Tôi thoáng nghĩ... Quyết đột nhiên nghiêm nét mặt:
- Không! Tôi cám ơn các đồng chí thật sự. Bệnh của tôi
chết thì chết rồi. Tôi còn sống tức là còn nhập tuyến được. Tôi yêu cầu được nhập
tuyến.
Ngạc nhiên quá. Từ khi về Tiểu ban, tôi thường nhìn Quyết
như một anh chàng hơi lập dị. Làm ăn tạm được nhưng hay buông những câu ngang
phè, châm chọc. Có lần, chỉ vì nhắc nhở Quyết không nên dậy muộn, Quyết đã to
tiếng với tôi. Sau lần ấy, giữa chúng tôi như có một khoảng trống ngăn cách. Việc
Quyết đi viện khiến tôi nhẹ nhõm hẳn. Thế là thoát nợ. Ai dè một đêm mưa, Quyết
trở về như ma hiện. Việc Quyết trở về
đơn vị không tránh khỏi làn sóng ngầm dư luận. Có người khen Quyết khôn biết
đánh lớn định quay vào để "dính dáng". Có người chê Quyết lẩm cẩm. Giấy
tờ Quyết đem về thì hợp pháp nhưng nhìn tạng người gầy nhom của Quyết, tôi nghĩ
chỉ có việc coi hậu cứ và tăng gia sản xuất là hợp, tuy nhiên, Quyết lên tuyến
được thì vẫn tốt hơn.
Suy nghĩ rất nhanh, tôi vẫn giữ ý kiến ban đầu. Để anh
em làm cố sau này mang tiếng lắm. Tôi nói:
- Đồng chí Quyết có tinh thần, Tiểu ban hoan nghênh. Nhưng
làm ăn còn lâu dài. Đồng chí cứ yên tâm chấp hành.
Tôi chưa nói dứt câu, Quyết đã đập bàn đứng phắt dậy:
- Cứ cho là chống lệnh cũng được nhưng tôi không ở nhà.
Tôi cần lên tuyến. Tôi không phải là thứ bỏ đi như các anh tưởng.
Toàn thân tôi như bị xối nước lạnh. Tôi không ngờ Quyết
lại quyết liệt đến thế. Lần trước, tôi muốn anh làm việc, anh cũng cáu tôi. Lần
này, tôi muốn anh nghỉ ngơi, anh lại nổi nóng. Nhìn Quyết, tôi bỗng cảm động nghẹn
ngào. Không dễ gì nhìn thấy cái đáy sâu thẳm trong lòng người lính. Những đánh
giá chủ quan không được thời gian kiểm nghiệm đều không sao nhận ra điều ấy. Mới
thấy làm chỉ huy không dễ.
Thế là Quyết cùng đoàn khảo sát lên đường. Ngày nào,
cơ yếu cũng giao cho tôi bức điện báo cáo tình hình. Nhìn những con số ghi trên
điện, lại nhìn căn nhà trống trải còn độc mình tôi, tôi thương và nhớ anh em biết
bao.
* * *
May sao, chỉ nửa tháng sau, tôi được cùng Phó Chính ủy
Nghiêm Xuân Linh và đoàn cán bộ nhập tuyến lên đường. Bộ phận tham mưu ngoài
tôi, còn có hai trợ lý tham mưu và là Tô và Kiều.
Thời hoàng kim của đường 14 không còn nữa. Nhiều đoạn
ta luy đường sập lở. Nhiều đoạn, bùn lầy còn lết bết. Ở các ngầm lớn, nước sông
đánh phá mạnh. Anh Linh quyết định đi bộ.
Vượt dốc B... chúng tôi nhanh chóng tụt xuống bến G...
Trở lại con sông Giàng mùa mưa, nước mênh mang. Mũi tên màu đỏ trên ngã ba đường
chỉ thẳng đường vào Tây Nguyên như niềm thúc giục. Phải đi khá vất vả, chúng
tôi mới theo kịp Phó chính ủy. Không ngờ với cái dáng nhỏ bé nhất Đoàn, Phó
chính ủy lại đi nhanh như thế. Vừa đi, anh vừa đùa dí dỏm. Rất ít mồ hôi trên khuôn
mặt anh. Đi suốt từ sáng đến trưa, anh vẫn chưa hề nhấp nước. Anh đi vững chãi.
Trông dáng bền bỉ ấy, đủ hiểu anh quen thuộc chiến trường chừng nào.
Là con một gia đình cố nông, anh sớm phải đi ở cho địa
chủ. Những đòn roi, đói rét nặng nề suốt tuổi thơ anh làm thân hình anh chậm
phát triển. Cách mạng tháng Tám thành công, anh bỏ nhà địa chủ, về với mẹ. Bố
anh đã chết trong những tháng năm tha phương cầu thực kiếm ăn. Năm 1949, anh nhập
ngũ và trở thành chiến sĩ dây trần của Đại đội 303. Bao nhiêu tuổi quân là bấy
nhiêu tuổi gắn bó với dây trần, anh là chính ủy duy nhất trưởng thành từ chiến
sĩ đường dây. Suốt thời gian hòa bình ở miền Bắc, anh cùng tiểu đoàn X (lúc ấy
chỉ có tiểu đoàn dây trần) dọc ngang khắp mọi nơi chăng dây, tỏa mạng. Sau khi Đoàn
Lam Sơn thành lập, năm 1967, anh theo đoàn vào chiến trường. Lúc ấy, anh còn
làm Chính trị viên Đại đội 3. Đại đội trưởng Đại đội 3 bấy giờ chính là anh Phạm
Luân. Giữa anh và anh Luân có một kỷ niệm thật sâu sắc. Sau khi kéo dây phục vụ
Tổng tấn công Mậu Thân 1968, Đại đội 3 rút ra thì bị địch vây ở thung lũng A sầu - A Lưới. Không thể phí
toàn bộ lực lượng vào lúc này được, ban chỉ huy đại đội quyết định chỉ để lại một
bộ phận nhỏ thu hút địch, còn đại bộ phận thì rút ra phục vụ thông tin hướng
khác. Giữa anh và anh Luân ai cũng giành phần ở lại. Khi ấy, anh Luân đã có ba
con trai, còn anh Linh thì mới có một con gái. Với suy nghĩ thương bạn bè, anh
Luân dùng quyền đại đội trưởng quyết định anh Linh phải rút ra. Sau này, anh Luân
có nói về chuyện ấy như sau: "Mình đã có ba con trai, lão ấy thì độc một mống
con gái. Biết sống chết thế nào. Lão ấy ở lại nhỡ có bị làm sao thì mình ân hận
suốt đời...". Chính anh Luân từng tham gia vào hội làm mai, làm mối cho
anh Linh. Khi ấy, anh Linh còn là một chiến sĩ ít nói. Đóng quân tại một vùng
xe tơ, dệt lụa, cô gái xinh nổi tiếng làng ấy vừa xe tơ, vừa im lặng quan sát
các anh bộ đội đóng ở nhà mình. Anh chàng ít nói, lam làm Nghiêm Xuân Linh đã lọt
vào mắt xanh của cô. Cô gái mang tên hoa Huệ trắng và thơm tinh khiết đã trở
thành chị Linh. Có với nhau một mụn con, chị Huệ bồng con lên quê chồng ở với mẹ
chồng để chồng an tâm vào chiến trường. Vùng đồi Hà Bắc nằm kề nhánh nhỏ con
sông Thương đã chở che túp lều xiêu vẹo với hai người đàn bà và một mụn con gái
bao năm tháng anh đi. Mặc dù tuổi đã cao, năm nay anh Linh vẫn ở Trường Sơn, vẫn
chung thủy với đường dây, ít khi anh tâm sự với ai về chuyện riêng nhà mình.
Nhưng những chiến sĩ gần nhà anh đã kể cho bè bạn về hoàn cảnh gia đình của Chính
ủy kính mến. Chuyện gia đình anh thành lời động viên lẫn nhau trong chiến sĩ.
Muốn khuyên bạn đừng băn khoăn về chuyện nhà cửa, có chiến sĩ đã nói: "Nhà
cậu khó khăn bằng nhà Chính ủy Linh không? Cậu còn trẻ mà chính ủy thì già.
Chính ủy cũng băn khoăn như cậu thì liệu Đoàn ta có vững được không?". Anh
nổi tiếng về sự liêm khiết và gương mẫu trong công việc. Năm 1972 lúc đường dây
dã chiến được kéo đến Thừa Thiên cũng là lúc tiểu đoàn 86 ở rất xa đường vận
chuyển lương thực. Chính trị viên Nghiêm Xuân Linh không vắng mặt bao giờ trong
những ngày gùi hàng gian khổ. Ai cũng kính nể anh về phương pháp làm việc. Khi
còn làm việc thì thoải mái, khi đã thành nghị quyết thì chỉ có chấp hành. Anh
là người gương mẫu chấp hành đầu tiên và triệt để nhất.
Dọc đường đi, gặp những đoạn có đường dây vượt qua,
anh nhận xét ưu, nhược điểm rất đúng. Trong đoàn có Trợ lý tham mưu Kiều có
dáng dấp lắm. Người Kiều tầm thước, đầu to, trán hói. Đi công tác chuyến này, Kiều
lại mang theo khẩu K59 xinh xắn. Một lần, anh Linh và Kiều đi trước để tìm chỗ
nghỉ đêm. Chúng tôi đến sau tìm mãi không ra. Quay lại gặp đồng chí coi kho gần
đấy, đồng chí chỉ tay vào một khe suối:
- Chính ủy đầu hói của các anh cùng công vụ hơi già đi
sâu vào trong kia kìa.
Chúng tôi bấm nhau không nhịn được cười. Đêm ấy, Kiều
bị chúng tôi trêu cho một mẻ. Anh Linh chỉ cười:
- Thời đại khoa học kỹ thuật. Vài năm nữa là các ông chỉ
huy thật đấy. Tôi cũng mong đến ngày ấy để thấy quân đội mình trưởng thành. Có
làm lính cho các ông cũng mát mặt.
Trời đã vào kỳ rét lạnh. Tuy vậy, chúng tôi cố gắng hành
quân sớm. Lính thì thầm mùa khô tới sẽ nhổ Kon Tum trước. Có chỗ lại đồn đánh
Plây Cu xong mới vây Kon Tum. Đánh chỗ nào thì bí mật quá rồi. Nhưng chuẩn bị
thế này không thể không đánh lớn được. Một đêm, nghỉ lại căn nhà công binh bỏ
trống, người giữ kho vừa khơi lửa cùng chúng tôi ngồi sưởi vừa chặc chặc lưỡi:
- Ghê thật, các bố là thánh lắm. Cứ đường dây đi tới đâu,
y như rằng mình "xơi" đến đó. Đây! Đắc Pét rồi Thượng Đức đấy. Mùa
khô này, không biết các bố xơi đến đâu. Lính nức lòng lắm.
- Nét vô tư của người lính giữ kho khiến chúng tôi vui
lên. Chúng tôi thần thánh gì đâu. Tất cả nằm trong ý đồ trên cả. Ngay cả việc mở
đường của các anh cũng thế. Không có con đường sao có đường dây được. Nhưng thường
ai làm nghề gì thường quên khuấy tầm quan trọng của người đó.
Từ giã những thước dây cuối cùng, chúng tôi đến với những
ngọn núi đầu tiên của Tây Nguyên. Để lại đằng sau hàng trăm cây số đường dây vững
vàng qua thử thách mùa mưa, chúng tôi tiếp tục đưa đường dây vươn tới.
Đến sân bay V..., chúng tôi đã qua 200 cây số đường 14.
Dừng lại trạm giao liên, nơi trú quân của Đại đội 10 đo đạc, chúng tôi nắm tình
hình và bàn bạc cách triển khai. Qua những đâu, anh em cả tám mũi đo tỏ ra làm ăn
khá tốt. Nhờ có sự tham gia của Quyết, không những mũi đo của Quyết sớm được giải
quyết, Quyết còn sang giúp mũi đo của Sơn tức là mũi đối đầu với mũi đo của Quyết.
Tôi nhờ anh em Đại đội 10 chuyển cho Quyết 200 viên ca vét mà khi ra đi, tôi
không quên mang theo. Ở phía trước, nhận được món quà này hẳn Quyết sẽ vững tâm
làm việc hơn. "Người đau dạ dày gặp ca vét khác gì cá gặp nước". Anh
Mộng Chính trị viên Đại đội 10 vừa nói vừa đưa gói ca vét vào xắc cốt. Tôi hỏi
tình hình mũi đo của Chuẩn qua Đắc Pét. Dựa vào công binh, mũi đo căn cứ Đắc
Pét đã bảo đảm an toàn. Khi giao trách nhiệm này cho Chuẩn, tôi rất tin. Tuy mới
ra trường nhưng Chuẩn là một đảng viên tỏ ra tháo vát và hăng hái lao vào thực
tế.
Mùa khô. Những tảng đất sụt lớ sục bùn khô nhanh rồi
tan ra thành bụi. Bụi ngụt lên. Bụi đỏ. Đi suốt mùa mưa với dự cảm chất chứa. Dự
cảm bốc cháy trong mùa khô. Nắng lau nhanh ướt át trên khuôn mặt của rừng. Các
mắt lá ngước nhìn xanh hy vọng. Gió! Gió lồng lên phóng khoáng. Câu chuyện của
người mẹ Chính ủy Nguyễn Ngọc Chi ở miền Hội An bao năm chờ đợi con, mắt đã lòa
mờ, mùa này tự nhiên sáng trở lại, đã loang khắp Đoàn. Má có biết con má đang toàn
đoàn tiến vào Tây Nguyên không?
Băng qua thung lũng Khâu Đức ngút ngàn ngô xanh đường
dây cắt "cua, hai đỏ". Men dốc lúc "lò xo" đường dây xuyên
qua chiều dài một một rừng thông ẩn dật. Đi qua đây ngỡ như biển rất gần. Thông
reo xao xác.
Nhịp độ thi công của đơn vị vô cùng khẩn trương. qua Đắc
Pét, mũi tên ghi dấu trên tiến độ thi công đã chỉ đến Đắc Ong. Đường dây xuyên
qua bát ngát nương sắn, cách sân bay S... và đi tiếp. Các xe thông tin chuyển
vào sâu hơn. Các đơn vị dây bọc cũng cùng một lúc triển khai khiến mạng thông
tin càng dày đặc. Lên Tây Nguyên, ta gặp bầu trời bao la mà bấy nhiêu năm với rừng
già, ta không sao gặp nổi. Trên cao nguyên bằng bặn này, con đường thẳng như kẻ
chỉ. Không khí huyên náo không ngớt đêm ngày trên Tây Nguyên.
Lúc này, anh Bàn, Phong, Quy đã theo đường giao liên
Trường Sơn Tây vào tới Đác Công. Tất cả chuẩn bị gấp. Tất cả Tiểu ban kỹ thuật
tung lên tuyến. Số thì vượt sông Pô Cô đến với đơn vị đang thi công tới Đắc Tô –
Tân Cảnh. Số thì vượt đỉnh N... theo đơn vị làm tuyến cột gỗ vào đến sở chỉ huy
chiến dịch. Mặc máy bay ngày đêm tuôn bom trút đạn, toàn Đoàn rạo rực thi công
trong khí thế bừng lửa mùa khô.
Mùa xuân qua nhanh bởi khí thế sục sôi trên công trình.
Sau đêm cả Tiểu đoàn 86 đốt đuốc căng bám những thước dây cuối cùng, đúng ngày
N+1, đường dây xuyên Tây Nguyên hoàn thành. Cả Tiểu ban kỹ thuật lại lao vào tổ
chức nghiệm thu cùng đơn vị.
Đoàn cán bộ cùng Đoàn trưởng Võ Xuân Lan gấp rút bám
sát đợt nghiệm thu. Chiếc com măng ca lao vùn vụt qua gầm sông Pô Cô. Nước Pô
Cô mùa này cạn trong vắt nhìn thấy đá lô nhô dưới lòng sông. Con sông cùng người
lái đò A Sanh đã chảy vào bài hát suốt thời sinh viên, bây giờ tôi mới gặp.
Càng đi, càng thấy yêu vô cùng đất nước. Trường Sơn quen thuộc đã ngấm vào máu
thịt người lính chiến trường. Mát ga thế nào mà người lái xe đưa chúng tôi vượt
qua Cống Ba Lỗ, nơi đường dây tạm dừng lúc nào không hay. Nếu không có người
gác đường đơn vị bộ binh ngăn lại, có khi xe đã lao vào thị xã Kon Tum rồi. Từ
đây vào Kon Tum còn bao xa đâu. Dọc đường, anh Lan phấn khởi nói chuyện suốt. Từ
Phòng Công trình, anh Lan được điều xuống làm Đoàn trưởng Đoàn Lam Sơn khoảng
hơn nửa năm nay. Anh chỉ huy Đoàn đúng vào giai đoạn cuối cùng lịch sử. Anh là
người biết tận dụng và nhìn rõ khả năng của lực lượng kỹ thuật hơn cả. Điều gì
năm chưa chắc, anh đều hỏi chúng tôi. Xông xáo, táo bạo, quyết đoán, thương yêu
và tin cấp dưới, đó là tính cahs chỉ huy của anh.
Đứng dưới cột trung kế, chúng tôi nghẹn ngào khi nghe
chuông máy lẻ báo thông mạch trên các đôi dây. Đêm ấy, tôi không ngủ được: Sự
kiện đường dây và vẻ đẹp của nó đã khiến tôi thao thức, muốn hát lên điều gì. Chớm
sáng, tôi đã bừng tỉnh. Tiếng bầy chim kêu ríu rít gợi lên một âm hình đẹp đẽ.
Cảm xúc như một trái chín ngắt được. Mê mẩn một mình, tôi đã viết xong bài hát "Mùa
xuân đường dây qua Tây Nguyên".
Chỉ sau đó ít ngày, ta bắt đầu đánh Gia Nghĩa. Bất ngờ,
ngày 12 tháng 3 năm 1975, ta tấn công Buôn Mê Thuột. Đòn điểm huyệt khiến địch
bỏ Tây Nguyên rút chạy. Cuộc thảm bại của kẻ thù năm 1975 bắt đầu.
Hết
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005)
0 comments:
Đăng nhận xét