Phạm Huy Thưởng
Tiếp theo phần 1/8
Sau khóa học tôi trở về Trung đoàn công tác với một tinh
thần mới. Tôi càng hiểu đầy đủ hơn về một con người được trang bị những kiến thức
văn hóa cao hơn. Đại đội tôi nổi tiếng là đơn vị hát tập thể hay. Trung đội tôi
ngay khi đi dã ngoại vẫn duy trì đầy đủ những đêm sinh hoạt văn nghệ thứ năm
hàng tuần như ở trong doanh trại. Anh em chúng tôi hát nhiều tới mức đòi hỏi phải
có cách hát gì mới hơn là vừa hát vừa vỗ tay. Thế là mặc dù là hát tập thể, cả
trung đội chúng tôi vẫn tập dựng những lối hát cao hơn. Mở đầu là bài hát
"Du kích ca" với lối hát canon. Một tiểu đội được phân công hát bè đuổi
ở lần hát thứ hai. Chúng tôi chỉ tập một buổi tối anh em đã vào bè, vào nhịp rất
chuẩn. Tiếp đó tôi soạn một bè đơn giản cho bài "Tiến bước dưới quân kỳ",
bởi vì bè hai bài này của nhạc sĩ Doãn Nho có mấy chỗ rất khó hát cho tập thể.
Một tiểu đội được tôi dành riêng học hát bè hai. Sau mấy tối học hát riêng, cả
trung đội tập hát ghép hai bè. Bài "Tiến bước dưới quân kỳ" được cả
trung đội của tôi hát khá chuẩn cả hai bè. Những lúc hát tập trung toàn đại đội
thì anh em bè hai hát càng lớn. Học hát tập thể như vậy anh em rất thích. Những
hiểu biết về hòa âm tuy rất nhỏ ấy đã làm anh em tự hào hơn về đơn vị của mình.
Và trung đội tôi là một trung đội luôn luôn được làm những nhiệm vụ độc lập.
Chúng tôi thường đi công tác dã ngoại, đóng quân ở nhà
dân nên mỗi lần sinh hoạt đại đội là một lần gây ngạc nhiên hứng thú cho bà
con. Bà con nhận xét "Có một số chú trong đơn vị hát sai điệu, nhưng nghe
kỹ lại thấy hay". Tiếp đó tôi soạn bè hai cho anh em học tiếp "Bài ca
trên đường dây" (Nguyễn Đức Toàn), "Cùng nhau đi hùng binh",
"Giải phóng miền Nam"... Bài "Vì nhân dân quên mình" cũng
được tôi soạn bè cho anh em hát. Với bài "Vì nhân dân quên mình", ở
đoạn cuối cùng chúng tôi còn đưa lên một giọng với cao một bát độ. Vì chúng tôi
có Trần Bảy, còn gọi là Bảy lùn, một chàng trai có giọng tenor khá chuẩn. Coi
như chúng tôi đã hát tập thể bài này với ba bè.
Cách hát như thế làm cho anh em trong đơn vị rất vui
và càng tự hào về đơn vị mình. Có một lần các nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn, Huy Du,
Văn An và các nhà thơ Chính Hữu, Xuân Miễn đi thâm nhập ở Trung đoàn 132. Trong
tối sinh hoạt tại Trung đội 3 của tôi, sau khi nghe anh em chúng tôi hát bốn
năm bài tập thể, anh Văn An hỏi Phạm Khắc Vinh:
- Đây là đội tuyển của các cậu phải không?
Vinh nói:
- Đây là trung đội của Huy Thưởng, một trong mấy chục
học trò của anh ở lớp sáng tác ca khúc Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc đó. Anh em
hát mãi một giọng sinh chán nên Huy Thưởng soạn bè cho trung đội nó hát chơi mà.
Anh nghe có lọt lỗ tai không?
- Nếu hát tập thể mà được như thế này thì quá giỏi còn
gì. - Anh Văn An khen.
Cả trung đội của tôi sướng mê lên vì lời nhận xét của ông
nhạc sĩ gạo cội của quân đội ta.
...
Sau một chuyến đi công tác ba tháng ở vùng lửa Nghệ
Tĩnh về đến Trung đoàn, tôi nhận được lệnh về Phòng Chính trị để đi học một
khóa học văn nghệ. Về tới cơ quan Phòng Chính trị tôi được biết là đi học lớp
chỉ huy đồng ca. Lớp học có gần bốn mươi người, tất cả đều là hạt nhân văn nghệ
của các đơn vị trực thuộc Bộ. Lớp học tuy chỉ có hơn hai tháng nhưng chúng tôi
được học khá kỹ cả về kỹ thuật cộng minh, ký sướng âm nâng cao và chỉ huy đồng
ca nhiều bè. Trong tình hình chiến tranh đã trở nên rất ác liệt trên cả hai miền.
Bom Mỹ đã phá nát những đoạn quốc lộ giáp Hà Nội. Máy bay phản lực Mỹ đã nhiều
lần bay qua bầu trời Hà Nội. Một lớp học như vậy được mở ra trong tình hình như
vậy, phải nói đó là một tư tưởng chỉ đạo rất căn cơ. Rất hiểu điều đó nên chúng
tôi học tập hết sức chăm chỉ và đạt kết quả rất cao.
Tôi còn nhớ một lần trong giờ nghe nhạc và ghi âm, thầy
đang cho ghi những âm trong gam Đô trưởng và La thứ, bỗng thầy bấm đàn đưa một
nốt nhạc rất lạ tai. Mỗi người trong lớp gọi tên nốt nhạc ấy một cách rất khác nhau.
Riêng tôi nhẩm lại cả dãy âm và phát hiện đó là nốt Fa#. Chi tiết này
cho thấy, tuy chỉ là một lớp quản ca nhưng cả thầy giáo và học trò chúng tôi đều
dạy và học rất chí thú. Cũng lạ, giữa buổi học có báo động phòng không, anh chị
em phân tán ra hầm. Hết báo động chúng tôi lại phân bè tập những hòa âm rất căn
bản và chuẩn xác.
Mệt nhất là giờ luyện thở, luyện thanh mỗi buổi sáng.
Sau giờ tập này chúng tôi cảm thấy như toàn bộ năng lượng trong người đã bị dốc
ra hết. Suất ăn sáng biến đi đâu mất cả chỉ còn cái bụng rỗng cứ sôi lên ùng ục.
Có một buổi tập thở, trong khi tất cả chúng tôi đang lim rim mắt định thần vào
việc nén hơi thì bỗng nhiên có tiếng ồn ào nổi lên. Thì ra Đinh Tuyết Lan, một
cây văn nghệ của Trung đoàn 134 bị đuối hơi ngã ngất xuống sàn lớp. Ít phút sau
tỉnh lại Tuyết Lan kể:
- Em cố tập trung tư tưởng ghìm nén hơi thở nên quên
đi không nhả hơi theo khẩu lệnh của thầy. Rồi em cảm thấy mình không còn chút sức
nào nữa. Em nghĩ mình chết rồi.
- Thế khi tỉnh lại thì Tuyết Lan thấy thế nào?
- Đầu tiên em cảm thấy mình thoát chết rồi. Lúc tỉnh hẳn
thì em thấy chị Thu Hiền đang ngồi trên bụng em.
Cả lớp cười ầm lên về cảm nhớ của Tuyết Lan khi hồi tỉnh.
Trong lớp học này có Sĩ Hùng, một giọng baryton rất khỏe.
Lê Ngọ với tôi là giọng bass trụ cột của bè trầm. Lê Ngọ nói với tôi:
- Tôi rất hứng thú khi hai đứa mình đứng bên nhau trong
bè trầm. Sự cộng hưởng của giọng hai đứa làm rung cả lồng ngực mình lên. Giọng
hát của mình thấy tăng sức mạnh lên rất nhiều.
Tôi và Lê Ngọ có thể hát theo xuống đến dây trầm nhất
của đàn ghi ta, tức là nốt mì3.
Giảng viên chia lớp học chúng tôi thành hai bè dựng bài
"Tiến bước dưới quân kỳ" và bài "Giải phóng miền Nam". Tại
hội nghị toàn quốc sơ kết việc thực hiện chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng
về công tác văn hóa văn nghệ thời chiến, lớp học chúng tôi đã trình bày rất
thành công hai bản hợp ca này.
Lần đầu tiên trong đời chúng tôi được biểu diễn tại sân
khấu Nhà hát lớn Hà Nội nên tôi nhớ rất rõ buổi biểu diễn ấy. Chúng tôi có một
tốp ca nam trình bày bài "Anh vẫn hành quân". Phạm Khắc Vinh đệm đàn accordion
cho chúng tôi hát bài này. Giữa hai đoạn của bài hát có một đoạn nhạc đệm. Khi
chạy những chùm ba nốt móc kép với hợp âm bốn ngón tay phải, Phạm Khắc Vinh bị
lỗi vấp một nốt nhạc. Lỗi này làm nhóm hát bè cao vào chệch khoảng một phần tư
nhịp. Nguy cơ đổ vỡ tiết mục này trong không đầy một phút tiếp theo là điều có
thể thấy rõ. Để cứu tiết mục này, khi vào đoạn hát đuổi của bè hai, tôi nắm chặt
tay Lê Ngọ, tôi với Ngọ giữ vững nhịp hát cho cả bè trầm. Với giọng hát áp đảo
của hai đứa chúng tôi trong bè trầm, tốp ca trở lại nhịp chuẩn cho đến hết bài.
Tôi với Lê Ngọ trở nên thân nhau từ sau lớp học ấy. Sau này ra quân Lê Ngọ hát
trong tốp nam đoàn Văn công Hà Nội.
Rất nhiều học viên của lớp này đã trở thành những hạt
nhân nòng cốt trong phong trào văn nghệ Binh chủng Thông tin. Nhiều lần sau đó
tôi gặp lại Thanh Trà, Việt Hồng, Lê Ngọ (Trung đoàn 205); Tuyết Lan, Thu Hiền
(Trung đoàn 134)... Cũng từ khóa học này, tôi được củng cố và mở rộng thêm kiến
thức âm nhạc. Tôi hiểu đầy đủ hơn về rất nhiều điều mà tôi đã học và đã đọc trước
đây. Đặc biệt là về thanh nhạc, đây là một kiến thức hoàn toàn mới đối với tôi
khi đó. Sau này tôi đã ứng dụng rất thành công những hiểu biết này vào việc luyện
thanh và luyện hát bè cho Đội Tuyên truyền Văn hóa xung kích (TTVHXK) Trung
đoàn 132.
Tôi rút ra một bài học cho hoạt động văn hóa nghệ thuật
cũng như các công tác khác là làm việc gì cũng phải có những ý tưởng táo bạo. Đồng
thời cũng phải tìm mọi cách để thực hiện bằng được những ý tưởng táo bạo đó.
Tôi càng hiểu rằng không có việc gì là không thể làm được. Là một trợ lý, tôi
hiểu rằng chỉ có làm bằng được một phần công việc mới nào đó, rồi sau đó mới đặt
ra những điều kiện cho việc thực hiện cả ý tưởng. Chính những kết quả ban đầu
làm ra từ hai bàn tay trắng sẽ chứng minh khả năng thực hiện của ý tưởng. Ví dụ
như trong hoạt động của Đội TTVHXK thì khó nhất là việc tìm người. Mỗi người về
đội phải là người có năng khiếu và phải là người rất tích cực tự giác hoạt động.
Những người như thế lại chỉ có thể tìm thấy ở các đại đội, chứ không được tuyển
bên ngoài vào. Mỗi đại đội thiếu một hai quân nhân cũng chẳng ảnh hưởng gì mấy
đến công việc chung. Nhưng khéo chọn lọc, huấn luyện và sử dụng những quân nhân
đó khi tập trung về cơ quan, hóa ra anh em có thể làm được những công việc mà
trước đó chính họ cũng không dám tưởng tượng tới.
Khi mà những trái bom Mỹ đã đổ xuống vùng đất ngoại vi Hà Nội là lúc chúng tôi thành lập Đội TTVHXK ở Trung đoàn. Tất cả các đơn vị trực thuộc Bộ đều thành lập đội TTVHXK. Tôi không rõ theo chỉ thị nào nhưng tôi nhớ rõ quy định rất khắt khe của việc thành lập đội. Mỗi đội chỉ được không quá mười lăm người. Một đợt tập trung về Trung đoàn bộ hoạt động chỉ được giữ lại không quá một phần ba số người của đợt trước. Trong chương trình biểu diễn phải có nhiều tiết mục tự biên về đơn vị mình. Những yêu cầu "không quá" trên đây buộc chúng tôi phải có một kế hoạch thường xuyên phát hiện chiến sĩ có năng khiếu ở đại đội, phải có một kế hoạch học tập rất công phu cho những anh em về tập trung và nhất là phải tập hợp được một nhóm sáng tác mạnh. Phải chăng chính vì cách làm như thế mà ta đã có phong trào văn nghệ rất mạnh trong Binh chủng Thông tin. Phải chăng chính từ phong trào ấy mà một trung đoàn "ăn no vác nặng" như Trung đoàn 132 lại sinh ra hàng chục “sĩ cấp quốc gia" các loại. Trung đoàn có đủ cả nhạc sĩ, họa sĩ và văn sĩ... còn hàng sĩ được anh em trong đơn vị vinh phong cho thì nhiều lắm.
Còn nữa
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005)
0 comments:
Đăng nhận xét