25.7.25

Đường Hồ Chí Minh và anh hùng Cầm

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Địa hình nước ta, dài hơn một nghìn bảy trăm cây số. Phía Bắc rộng sáu trăm cây số, phía Nam rộng ba trăm năm mươi cây số. Quãng giữa dài một nghìn cây số, mà có chỗ bề ngang vẻn vẹn năm mươi cây số thôi. Xem thế thì biết đường bộ giữa Nam và Bắc xa biết chừng nào. Trong khoảng đường dài một nghìn cây số ấy, còn tám phần mười là núi, núi ra sát đến tận bể.

Địa thế như vậy, mà trong lúc kháng chiến, địch chiếm vùng Bình - Trị - Thiên, chiếm miền Nam Trung Bộ. Nó lại có bộ binh mạnh, có không quân và hải quân.

Đảng và Chính phủ lãnh đạo toàn quốc kháng chiến. Như thế thì việc liên lạc khó khăn biết nhường nào.

Nhất miền Nam Trung Bộ. Đất bằng chỉ có từng dẻo mong manh và ngắn ngủi. Còn phía Tây, toàn là núi, cao nguyên, rừng rậm, đất đỏ. Đồng bào Thượng ở cao nguyên tốt lắm, nhưng nhiều chỗ bị chúng nó lừa dối, nhất là bị khủng bố dữ dội.

Vùng Quảng Ngãi là một nơi phong trào cách mạng rất mạnh; dù chúng nó đánh từ Thừa Thiên vào, Nha Trang ra, từ Tây Nguyên xuống, mà Quảng Ngãi vẫn vững, vẫn tự túc được vô số thứ, vẫn đánh càng ngày càng mạnh.

Liên lạc từ Bắc vào, qua Cà Roòng, U Bò, đường số 9, động Li Hi An Điềm, vào cho được đến Quảng Ngãi, đã khó lắm rồi. Nhưng từ Quảng Ngãi, tức là Liên khu 5, mà vào tới chiến khu miền Đông Nam Bộ, mới thật là ghê gớm. Những đội liên lạc dùng ghe thuyền của chúng ta, cực kỳ anh dũng, vượt ra khơi, tránh tàu giặc, kéo buồm vào Nam, rồi bất thình lình, tạt vào bờ, lách qua các đội tuần bể, tránh các đèn chiếu của chúng nó, đổ bộ, đem công văn vũ khí chuyển vào chiến khu. Có lần bắt gặp giặc, không làm sao được nữa, thì tự đánh chìm, hy sinh. Có lần bị giặc đuổi, lẩn được thì vào bờ, dìm thuyền giấu tài liệu, vũ khí vào khe đá, nó đi, thì lại mò thuyền tiếp tục đi. Cũng có lần, nó đuổi gấp, thuyền ta lượn qua các tảng đá ngầm, trong khi chúng nó còn tìm cách đổ bộ, bắn đuổi theo, ta khiêng cả thuyền lên. Nó vây ở ngoài, chắc mẩm là liên lạc viên ta nằm trong vó rồi, nhưng suốt đêm ta đã khiêng được thuyền qua núi, thả xuống đằng sau, và tiếp tục hành trình.

Thật là anh dũng tuyệt vời!

Nhưng cũng chỉ chuyển được một số vũ khí và công văn thôi. Đưa cán bộ đường ấy thì may rủi quá.

Chuyển cán bộ và công văn, những vũ khí tinh vi, phải tìm đường khác nữa.

Đường nào? Chỉ còn đường cao nguyên. Ba trăm cây số núi non, trùng trùng điệp điệp, không có đường, người không quen, tiếng không biết. Địch lại luôn luôn chọc vào. Thú dữ cũng ủng hộ chúng nó.

Không có đường, nhưng trên tinh thần, cái dây liên lạc ấy gọi là đường Hồ Chí Minh. Tinh thần Hồ Chí Minh giúp cho liên lạc đặt lấy được từ Khu 5 đến Khu 6, Khu 7.

Ai có gan đảm đương đường này. Trung đoàn tìm một chiến sĩ kỳ cựu nhất, nhất là một chiến sĩ bản chất cốt cán, quen gian lao từ nhỏ tới lớn, từ lúc vào bộ đội đến bây giờ. Đồng chí Cầm. Bé đi ở, lớn làm thợ. Mười tám tuổi đầu quân, đánh quân Anh, quân Nhật, quân Pháp. Mặt trận vỡ. Cầm làm nhiệm vụ vác gạo liền mấy tháng. Đơn vị rút lui, Cầm phụ trách chuyển 9 thương binh nặng, mà giữa rừng mất liên lạc. Hơn một trăm ngày đằng đẵng, không gạo, không muối, không có tiền, lại cũng không dám đi gặp ai, vì sợ lộ, đồng chí đã kiếm rau, kiếm củ nuôi bạn, kiếm củi sưởi lúc đêm đông, nhất là giữ vững được tinh thần anh em cho đến khi tìm được đơn vị.

Sau đó, làm tiểu đội phó trinh sát, lúc địch vây chiến khu, đã luôn luôn bám sát địch, rồi đưa được Ban chỉ huy ra ngoài vòng vây.

Bao nhiêu bài học gian khổ, kinh nghiệm trinh sát, kinh nghiệm lãnh đạo, đã rèn cho đồng chí Cầm, để xứng đáng được đơn vị trao cho nhiệm vụ và vinh dự giữ đường Hồ Chí Minh.

Ba trăm cây số rừng núi - qua những vùng đồng bào hết sức thưa thớt. Giặc đã phái vào đó hoạt động, những tên cáo già trong nghề thuộc địa, chúng nó đã treo giải thưởng lấy đầu bộ đội ta, từ năm trăm đến hai ngàn đồng bạc trắng. Chúng nó phục kích, dử dân, bắt dân đi phục kích, làm cho mấy đồng chí chúng ta đã hy sinh.

Anh em trên đường, một số đâm gờm, thấy người thì chực bắn, sợ bị lộ. Trước đây thực dân đã gây và nuôi mãi những mâu thuẫn giữa người Thượng và người Kinh. Bây giờ mà lại bắn bừa thế, thì thế nào?

Làm cán bộ phụ trách đường, Cầm thấy là mình phải có nhiệm vụ đi công tác với anh em, đã chắc là gian khổ hơn chuyện ở nhà mà tổ chức rồi, nhưng có như thế mới sát anh em; chia phần khó khăn và nắm vững được tình hình nội bộ, thuyết phục được anh em, để tránh những cử động sai lầm.

Cứ kể, đi cật lực, mà đeo nhẹ, thì mỗi chuyến mất chín ngày. Nhưng... ngoài công văn còn chuyển vũ khí. Lại còn đèo chín ngày gạo để ăn đường nữa chứ. Có khi chuyển cả những hòm tiền nặng nữa. Thôi thì gùi, cõng, vác, khiêng, đeo lịu địu quanh mình. Mà lại cứ phải đi đường vòng; đi đường quang, gần làng, lại sợ lộ, địch nó theo dõi. Làm quân nhân, gặp địch, có vũ khí trong tay, mà cứ phải lủi, thật là tức bực; nhưng anh em nhớ nhiệm vụ chuyển vũ khí của người giao thông. Vũ khí này phải chuyển vào cực Nam, hay miền Đông, trao tận tay cho anh em các khu trong đó. Càng đi vòng vào các nẻo sâu, thì lại hay va phải voi, đụng phải cọp. Bụng đói, chỉ một phát đạn thôi cũng no được mấy bữa. Nhưng cứ phải nhịn. Ních chặt dây lưng lại. Gạo một ngày phải để ăn bốn năm ngày. Ăn đói mà lại vác nặng! Có lần tránh địch, phải đi vòng đến mười bốn ngày, đói quá, lả đi. Bốn đồng chí đặt gánh nặng xuống, không đứng lên được nữa, thở hắt ra, nằm lại trên con đường đau khổ nhưng vinh quang của kháng chiến. Chỉ ba ngày nữa là tới đích thôi, mới chua xót chứ.

Làm đội trưởng, Cầm còn mệt hơn mọi người. Lúc này, cái danh nghĩa là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương, đã làm cho đồng chí nhỏm dậy, đi kiếm củ cho anh em ăn đỡ đói mà chờ đấy. Một mình dấn lên, hái lá, gặm vỏ cây, cố đến được đơn vị, để yêu cầu người đi đón chuyến hàng.

Những lần đưa cán bộ, tuy mang nhẹ hơn, nhưng gian nan cũng không kém. Địch lùng càng ráo riết, phần lớn phải đi đêm, bằng những nẻo thật bí mật. Thôi thì vượt suối mùa lũ, đóng bè, xuống ghềnh, qua thác. Tắc vì địch, tắc vì nước lên, có lần chịu đói ở hốc núi sáu, bảy ngày. Cán bộ, phần nhiều yếu, ai nấy dọc đường đều được đồng chí Cầm săn sóc chu đáo.

Công tác khắc khổ đã rèn cho đồng chí Cầm càng thêm vững chắc, mà đồng chí Cầm cũng rèn cho anh em trong đội thành những chiến sĩ xương sắt, da đồng; qua những thử thách trên đường, đồng chí đã nhìn thấy những đức tính tốt đẹp trong mỗi người, đồng chí để tâm tuyên truyền giáo dục, rồi đi đến thành lập được chi bộ, phát triển được đến mười lăm đảng viên.

Lý tưởng của Đảng làm cho công tác của cái chi bộ trên đường ấy, ngày càng phong phú hơn. Bắt đầu gây cơ sở trong đồng bào Tây Nguyên men đường. Trước kia, ai thấy bộ đội cũng chạy. Nhưng đã tranh thủ được mấy người thanh niên, rồi dần dà nói rõ chính sách với nhân dân, đưa những người sơ tán trở lại làng làm ăn. Đồng bào không có nông cụ, anh em xuống tận bờ bể, bẩy đường sắt, đem về cho đồng bào. Suốt dọc đường, thế là có cơ sở. Con đường có dân, từ rày mới thật là đường Hồ Chí Minh.

Địch biết, nó vẫn thường tiến công, cắt đường, nhiều độ cạn lương. Cầm lãnh đạo anh em tăng gia sản xuất, tự túc thứ ăn được đến hai năm, các đoàn cán bộ ra vào, cũng đều được giúp đỡ.

Mười bốn lần, giặc cắt đường, năm lần giặc vây quét. Nhưng đường đứt, đồng chí Cầm lại nối lại; vây quét, anh em lại gây lại cơ sở. Bảy mươi đoàn cán bộ từ Bắc vào, từ Nam ra, đều đi được trót lọt.

Đồng chí Cầm lại được cử lập một đội vũ trang tuyên truyền, hoạt động rộng ra hai bên đường. Bắt đầu bày cho dân sống vệ sinh cho đỡ bệnh tật, rồi tăng gia mạnh cho đời sống đủ no. Từ chỗ chạy Tây, đến đưa dân đi đánh Tây bằng bẫy, bằng tên nỏ thuốc độc, làm ngụy vận, kêu gọi được hơn trăm hội tề và lính dõng về hàng, bắt mấy chục tên phản động. Suốt các xã trên đường, đều đã có tổ chức dân quân.

Con đường liên lạc Nam - Bắc đã mở rộng thênh thang trong lòng nhân dân Tây Nguyên từ đó.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND) 

24.7.25

Các chị giao thông

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Trong kháng chiến, những tỉnh chịu đựng nhất, như Hưng Yên, Thái Bình, rồi Sơn Tây, Bình - Trị - Thiên, Quy Nhơn, Phan Thiết, cả Chợ Lớn - Sài Gòn, bị giặc chiếm đóng gần khắp, có khi khắp cả. Lúc ấy, thì con đường, con sông, thành ra những vách ngăn chặn, những sợi dây ác nghiệt của một cái mạng nhện độc địa, trong đó còn nổi lên những cái nhọt, cái ung, như Quỳnh Lang.

Giặc khoe khoang, vội bôi màu vào những khoảng trên bản đồ nước ta, bao vây những vùng ấy bằng những lô cốt, boong-ke, bằng vòng đai trắng. Trong vòng đai, chúng càn đi quét lại, có khi bằng hàng chục tiểu đoàn, hay đóng đanh vào những đồn, bốt, ăn sâu vào bằng những tháp canh, điếm gác, những tổ chức ngụy quyền. Đem hàng mấy vạn quân đội, vây một, hai, ba vòng, thít dần lại, để giết chóc. Vươn những cánh cung ghê rợn, rồi khép lại. Bắt đầu, giăng ngang từ bờ đê, đẩy dần xuống bể, hay từ trong đánh ra, dồn dân ra bờ sông, trong khi tàu chiến lớn bé quấy nước đục ngầu.

Nhưng địch đi qua, các khu ta lại mở; nó tràn đi đằng trước, khu tự do nổi lên đằng sau. Trên những đám gạch vụn tro tàn, ở lại vẫn có dân quân ta độn thổ; có khi trong một xã ra mặt phản động, vẫn còn có những tấm lòng vàng son.

Rồi xã đội, huyện đội, vẫn họp lại, đại đội và tiểu đoàn, quân vẫn hoạt động; rồi một đêm, mấy trung đoàn, một đại đoàn tiến vào. Cơ sở bên trong, sức mạnh bên ngoài, đã biến đất địch chiếm ra đất ta, bóp chặt những đồn lũy của chúng nó lại.  Một giọt máu nhỏ xuống đất, nảy lên những lực lượng phi thường tốt tươi.

Cái gì đã chắp nối các lực lượng lẻ tẻ, chọc vòng đai, đi đến Trung ương, đón lãnh đạo về.

Đó là những người giao thông của chúng ta, trong đó là những đồng chí nữ giao thông viên của chính quyền địa phương, của đoàn thể, của bưu điện, của quân đội.

Điển hình, là một chị giao thông Hưng Yên, giữ liên lạc từ Hưng Yên sang Hà Đông, bị bắt bảy lần, bị tra tấn thảm khốc, nhưng không xưng gì cả, không mất công văn một chuyến nào.

Chị Phi đưa một cán bộ chuyển đạt đi truyền lệnh. Trên đường 39 miền Tiên - Duyên - Hưng, Thái Bình, khác nào một sợi chỉ căng trên chậu nước, mà gặp ngay một tiểu đội ngụy binh. Đồng chí nam giới đã luống cuống. Phi bảo, anh cứ đi trước, tự nhiên, để tôi đi sau. Đến chỗ gặp bọn ngụy, anh cán bộ nghe thấy chị giao thông nói giọng ấm áp:

- Ra tỉnh, thì anh mua cho em một bánh xà phòng thơm nhé!

Một lần khác, tình hình thật căng thẳng, không còn đường nào đi nữa. Chị Đong giắt lệnh vào mái tóc, kiếm đâu được gánh chè, gánh qua giữa thị xã, bằng con đường phố chính, ngay trước mũi thằng tỉnh trưởng. Lệnh chị mang, đã chuyển được kịp thời.

Ban chỉ huy Trung đoàn sớm dậy, nhìn một vòng, tất cả bốn phía đều có hiệu báo địch đến. Mình lộ mất rồi! Chúng nó giữ được bí mật hành quân! Đồng chí tham mưu trưởng gọi một chị, trao cho phong thư:

- Đồng chí cầm thư này sang sông, đưa cho đơn vị bên ấy. Chúng tôi chắc rằng, đồng chí mà còn, thì thư này được đến nơi. Đồng chí đi.

Chị cầm lấy công văn, ra một chỗ khuất, giấu kín.

Hôm ấy mặt trời chưa lặn, bộ đội ta trong đánh ra, bên kia sông đánh sang. Mấy chỗ, vòng vây địch bị toạc. Bộ đội bạn sang sông, có cả chị giao thông đi theo.

Thế là chị vẫn còn, chị đã hoàn thành nhiệm vụ, công văn đã đưa được đến nơi.

Chị không kể, mà cũng không ai dám hỏi xem chị đã vượt những khó khăn, hy sinh như thế nào, để bảo đảm được kế hoạch tác chiến của đơn vị.

Ở đây, không nói rõ tên chị là gì. Những người anh hùng - không gọi là anh thư - như chị, dân tộc ta vinh dự có rất nhiều. Các chị đã hy sinh tất cả vì nhân dân.

Chúng ta tưởng nhớ những chị đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ, chúng ta chúc những chị đã chiến đấu anh dũng, ngày nay được dự phần xứng đáng trong hạnh phúc xã hội chủ nghĩa, con con, cháu cháu các chị được sung sướng lâu dài.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND) 

Lưới thông tin nhân dân

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Khu tự do trong vùng địch hậu, rộng có mười một cây số. Thế mà, trong đó từ chính quyền nhân dân, công an, bộ đội, cho đến tổ chức đoàn thể, không thiếu thứ gì. Chợ họp đông, giữa ban ngày; tối đến, văn công, lửa trại, họp học tập.

Trên bản đồ của mấy thằng đồn trưởng, các đồn xung quanh, cái khu hình quả trám, tô bút chì đỏ ấy, như chọc vào mắt chúng nó. Phi cơ đã đến thả bom năm bảy dạo, nhưng, góc ruộng, dọc đường, đều có hố cá nhân; vừa có tiếng ù ù, thì gà chíp chíp gọi con vào bờ tre, trâu cũng xuống hầm, cánh đồng bát ngát lặng ngắt. Bom nổ thì đã đành, nhưng thế nào cũng có mấy quả tịt ngòi. Thế là hôm sau, ình oàng trên đường cái, khối thằng chết. Địch cũng rút kinh nghiệm, không tiếp tế mìn cho du kích bằng lối ấy nữa.

Chỉ còn đánh chọc hẳn vào giữa khu. Đã cẩn thận giữ bí mật. Lúc tập họp, lính tráng của chúng mới biết là đi càn. Thế mà đi một mũi, hai mũi, mấy mũi đi nữa, vào cũng chỉ thấy đồng không mông quạnh. Điên tiết lên, đốt nhà, phá lúa, phá được mấy mảnh thì mỏi chân, mà thỉnh thoảng lại có thằng rống lên một cách khủng khiếp vì những bàn chông có ngạnh.

Liều mạng, đánh sâu vào, thì đánh được đấy, có ai ngăn trở gì đâu, nhưng đi đâu cũng chẳng thấy bóng người nào cả, chỉ thấy tiếng trống thùm thùm ngay sau lưng.

Đánh trở ra, nhưng ra mới là cái việc khó; vô số thằng vào thì đi hai chân, nhưng ra thì lại được nằm cáng.

Cơn cớ là như thế này:

Đối diện đồn đằng đông có cây sung cao, xóm ở sát đồn phía Đoài cũng có cây đa cổ thụ. Những cây này biết nói cả. Bà con từ xa, cứ nhìn cây là đủ biết, cái cành cây như mào gà ấy, nó ngả về phía nào là Tây đi về phía ấy đấy.

Đến lúc chúng nó tiến sâu vào, chỗ trực tiếp gặp nó thì nổi trống. Trống là gấp nhất, nghe thấy là ai xuống hầm, xuống ngay, ai đi bố trí, bố trí ngay. Chỗ nào nghe thấy trống thì rung chuông. Thấy tiếng chuông là biết rằng Tây còn ở làng bên cạnh, ta còn tranh thủ làm được đôi việc. Nơi nghe thấy chuông thì hạ mõ. Tiếng mõ báo cho đồng bào hay rằng Tây còn ở cách ít ra là hai làng, nghĩa là vẫn có thể ra đồng, đi làm như thường; có nghe thấy chuông mới phải về chuẩn bị.

Ấy cứ như thế.

Như thế, mà giặc đi đến đâu, cũng chỉ nghe thấy trống, không trông thấy người. Tạt ra hướng nào cũng thế cả, cứ quẩn trong những tiếng trống, tiếng chuông, tiếng mõ, không hiểu đầu đuôi xuôi ngược ra thế nào, tức lên, sặc máu, chân cứ chọc vào chông.

Đêm thì có tù và. Tiếng tù và âm u, tiếng mõ rỏ giọt; với địch thì tẻ ngắt hay rùng rợn, nhưng với đồng bào, thì dù em bé tý cũng biết những tiếng ấy nói gì, những tiếng ấy thông báo tình hình địch, kêu gọi bà con cảnh giác.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND)

23.7.25

Đồng chí Bưu điện Đồn Vàng

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Giặc đánh, nhảy dù, chiếm Đồn Vàng, bất ngờ...

Ông chủ sự phòng Bưu điện vội tháo máy, vớ cái kìm, chạy ra. Phải chạy về phía tỉnh. Nhưng cứ mỗi quãng, ông lại leo lên cột, cắt đôi dây đi về phía địch, rồi nối máy vào đầu kia, báo cáo tình hình về tỉnh.

Địch chiếm thị trấn Đồn Vàng.

Nhưng phòng Bưu điện Đồn Vàng vẫn tiếp tục công tác trên đỉnh Đèo Khế.

Hoan hô đồng chí Bưu điện, người bạn chiến đấu của Binh chủng Thông tin.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND)

22.7.25

Đài vô tuyến điện trong địch hậu

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Đồng chí Ái mang theo một cái máy MK hai cổ và nặng chình chịch, mấy bình ắc quy chì, thêm chiếc máy nổ Béc-na vê đúp không. Phụ việc là cụ Uy, với một chú nhỏ. Đơn vị bạn là một đồng chí mật mã.

Tất cả đi theo Ban chỉ huy đánh giặc. Thấy nói đã có Cục Thông tin, nhưng lúc này thì chưa đợi được trang bị gì mới. Chủ yếu là tự lực.

Đánh giặc trong địch hậu, theo kịp Ban chỉ huy, với các thiết bị như kể trên, đã là một cái nặng. Bữa hai lưng cơm, vụ bốn chín, cứ đánh đu với con sông Luộc; sáng ở Quỳnh Côi, tối đã đặt đài bên Thanh Miện, dạt xuống Thụy Anh, Tiền Hải, nghe thấy tiếng bà cụ gọi trâu, lại vọt lên Phù Cừ.

Ban chỉ huy đi trước, đài còn ở lại, để giải quyết xong điện; khốn nỗi, làm thất thường, đã không thành phiên nữa, cứ phải làm lối gọi chèn. Hôm nay phải lắng tai nghe đài bên Đông Triều; vừa thấy nó lên tiếng, chèn ngay vào. Được cái, các đồng chí bên ấy cũng thông cảm, bỏ dở điện, nghe cho ngay. Đang đánh, thì có tin địch đã đến gần. Cũng phải cho hết điện, để bên ấy đánh gỡ cho. Bỏ dở thì biết bao giờ lại liên lạc được. Chưa hết hiệu báo nhận, súng đã nổ ở đầu ngõ; ôm máy chạy ra, không rút được hết rồi! Nhóm phải hy sinh một người.

Hôm ở Đông Quan, nó quần mãi, mà dùng dằng không dám chôn máy. Chôn máy rồi, thì chiến sĩ vô tuyến điện khác gì anh tản cư. Nhưng lũ chó săn nó nắm được địa điểm mình, phải đem đồ giấu kín vậy. Khổ với cái máy nổ, nó cứ như con lợn sề ấy. Giấu vừa xong thì vòng vây đã khép chặt. Chạy đường nào bây giờ. Cuối cùng thì, nó đi trước, mình cứ vết giày đinh mà đi theo, thế mà thoát, dù nó quây ba vòng, trên đầu bà già còn xè xè.

Bực cái là, hôm quay lại được, tìm nhược xác mới đủ bộ, vì giấu kỹ quá.

Có lúc ở Thần Đầu, Thần Huống, vùng tự do chỉ còn là một mảnh đất; cho cái máy nổ chạy thì chính quyền can thiệp, đồng bào van lơn. Sợ bị oanh tạc. Không cho máy nổ chạy, thì làm việc thế nào? Đành ra đi, tìm cái máy phát điện. Một già một trẻ lên đường thất thểu, đúng như mồm bà con lúc ấy, tả bộ đội:

- Thứ nhất thì thắt lưng da, thứ hai bị rách, thứ ba quần đùi.

Lại như: Thứ nhất thì mọc râu non, thứ hai quần áo gạch non dán bùn.

Quân phục không chính quy như thế, nhưng được bà con thương. Tìm được một chiếc máy điện và đang nghĩ cách quay, thì một đồng bào cho ngay chiếc đĩa xe đạp, với chiếc xích, tháo trong cái xe đạp mới nguyên. Chưa giải quyết được vấn đề phát, nhưng thu ngay được tin chiến thắng Đông Khê, Tây chạy tỉnh Lạng; tuyên truyền ra, nổi nang đình đám, bà con phấn chấn vô cùng.

Những tin chiến thắng đã gắn chặt đài vô tuyến điện với dân, dân bảo vệ cho đài.

Năm mươi mốt, trận càn "Con bạch tuộc"; lực lượng địch rõ ràng nó đã thành hình vòng cung. Không thoát ra cho mau, thì một là máy xuống bể, hai là càng nó khép lại. Cụ Uy, gan, ở lại, đắp chiếu, cho nổi cơn sốt, để giữ máy phát điện; còn Ái, ôm đài ra bờ đê. Tránh chỗ có đèn sáng, ai ngờ nó đứng cả chỗ tối. Suýt nữa mất máy.

Hồi chúng nó càn trận "Cam quýt", gay lắm, mà nhiều điện phải đánh lên Bộ. Đánh cả ban ngày. Nguy hiểm cũng đánh, có thế thì Bộ mới nắm được tình hình. Đánh xong một điện, lại xếp máy vào quang gánh, chạy ve ve. Không còn kịp đào chỗ nào mà giấu nữa. Cuối cùng phải để cả vào cái võng, đắp chiếu, cáng đi. Các bà mẹ, các chị em, dọc đường đi cứ ào ra, người đưa quà, người cho nước, gạt đi không được. Mẹ níu lấy cáng:

- Khốn khổ, để mẹ lau mặt cho anh ấy một tý.

Cứ chực vén chiếu lên.

Chạy cho mau, sang sông, rước đồng chí "thương binh" xuống, đánh điện ngay; nhưng điện chưa hết, đạn đại bác đã nổ ngoài sân, lại phải lê võng chạy. Lại trở lại bên này sông Luộc, đến Hưng Nhân. Luống cuống mất đâu cả bản mật mã. Ôi! Đau khổ! Mà nó lại dồn xuống Duyên Hà. Phải rẽ sang Tiên La, chuồn theo cống. Đại bác địch nã vào chỗ tập kết. Chỗ này chúng ta có sáng kiến, làm cái cầu ngầm ở dưới mặt nước, nhưng hôm ấy cầu trôi. Thanh niên xung phong nhảy ùm xuống nước, giữ cầu cho bộ đội, cho đài vô tuyến điện qua.

Địch tưởng là chúng ta chết hết với đại bác ở chỗ sông rồi. Đến ngồi giữa Trung đoàn 24, Ái mở máy ra nghe, thì nghe thấy địch nó đương huênh hoang khoe là đã diệt hết cái trung đoàn gan dạ ấy của địch hậu rồi.

Đến trận càn "Lạc đà". Càn mãi, nó cũng rút được kinh nghiệm. Chọc ra hướng nào cũng gặp địch, sau không làm sao mà theo kịp Ban chỉ huy được nữa, đài vô tuyến điện hãy tạm đi với một tiểu đoàn, xuôi rồi lại người, vượt lên Khoái Châu, sang Hà Nam, rồi lại trở về. Ngồi trong cái thúng nát, một tay ôm máy, một tay tát nước bằng cái nón rách. Ái thấy qua sông sao mà lâu đến thế! Đai sắt của máy cứ cứa vào ngực.

Nhưng những trận càn đáo để nhất, đã đi trước những thắng lợi huy hoàng nhất và đến đúng mười hai giờ đêm cái hôm tháng 7 ấy, đường hoàng đặt ở cái nhà cao nhất vùng, đài lên tiếng dõng dạc, gọi các đài khác trong khu, chuyển lệnh ngừng bắn, rồi sửa soạn đi tiếp thu thành phố Hải Phòng.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND) 

21.7.25

Thông báo mời họp

Kính gửi: Toàn thể hội viên Hội Truyền thống Bộ đội Thông tin khu vực Hà Nội.

Thường trực Ban liên lạc Hội Truyền thống Bộ đội Thông tin khu vực Hà Nội trân trọng kính mời toàn thể cán bộ, hội viên Hội Truyền thống Bộ đội Thông tin khu vực Hà Nội tới dự buổi Họp mặt Truyền thống của Hội nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công – Quốc khánh 2/9 (02/9/1945 – 02/9/2025); 80 năm Ngày truyền thống vẻ vang của Bộ đội Thông tin liên lạc anh hùng và đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh.

Thời gian: 07h30 – 12h00, ngày 17 tháng 8 năm 2025 (Chủ nhật)

Địa điểm: Sở chỉ huy Binh chủng Thông tin (Số 01, phố Giang Văn Minh, phường Giảng Võ, TP Hà Nội).

Thường trực Ban liên lạc Hội trân trọng được đón tiếp !

Trưởng ban liên lạc

Thiếu tướng: VŨ DƯƠNG NGHI

--------------------------------------------

Ghi chú:

Để công tác đón tiếp được chu đáo, yêu cầu các đ/c chi hội trưởng nắm, báo cáo quân số dự họp mặt vào 2 đợt: đợt 1 vào 05/8/2025 và đợt 2 vào 12/8/2025. Báo cáo số hội viên dự họp mặt qua số điện thoại: Đ/c Thân Ngọc Thúy: 0963 688 253; đ/c Trần Đình Luận: 0913 564 068.

Tiếp liệu

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Không nói chuyện tiếp liệu lối thông thường, như chuyện ra chợ Chờ hay chợ Đại, tìm liên lạc với bọn "thương nhân", đặt mua hàng vùng địch, thứ gì cũng có.

Không nói chuyện mua hàng của bọn "bờ lờ" chung lưng với cánh "đơ bê", chở hàng ngay bằng xe nhà binh Pháp. Tiền, thì cái gì mà chúng nó chả bán. Cũng không kể cả chuyện ra bến Diêm Điền, đặt với thuyền "Tầu Ô" mua ngay đại liên của bộ đội chính quy tụi Tưởng. Bọn này cũng thế, cái gì cũng "mại" được tuốt.

Có khi khó khăn hơn. Mua đồ mà bọn con buôn không biết rõ, hay không đưa được thứ đúng phẩm chất, phải vào tận Hải Phòng hay Hà Nội, chỉ tận nơi cho họ mua đem ra.

Tiếp liệu như vậy, bất đắc dĩ thì phải làm. Có khi được việc, nhưng cũng khi bị lừa. Hơn nữa, có khi, chúng nó theo, tìm biết nhu cầu của mình, hay từ chỗ cơ quan tiếp liệu mà dõi đến chỗ mình không muốn chúng nó đến.

Nhiều lần, nó bịt một vài thứ hàng, mong làm tê liệt một vài thứ hoạt động của ta, hay gây khó khăn cho thị trường ta. Ví dụ dầu hỏa cần cho một số máy chạy. Nó chỉ bán từng chai một. Nhưng quần chúng ta đông, từ em bé đến cụ già, mỗi người ta làm một chai, vẫn đủ hàng trăm gánh. Nó lại thường lợi dụng cái nghiện kỳ cục của những người nghiện xà phòng Gíp của Tây, nghiện bàn chải răng của Mỹ, nghiện vải phin, mà bòn tiền của ta. Ở đây, không kể những chuyện như vậy.

*

Mà kể chuyện tiếp liệu dây điện thoại mềm, bọc cao su. Cái này thì không có "thương nhân" nào dám bán. Mà thấy ai có một ít, là chúng nó bắn ngay. Chúng ta, thì chúng ta cũng không mua.

Mùa mưa là mùa bộ đội thông tin tổng kết các kinh nghiệm đông xuân, học tập tiến lên một trình độ chiến thuật và kỹ thuật mới. Số dây cũ không đủ dùng nữa. Tiểu đoàn triệu tập hai đồng chí tiểu đội Thìn với Riệu quen dân vận:

- Các đồng chí chuẩn bị đi "tiếp liệu" dây chứ.

Hai đồng chí ra đi "tiếp liệu" chẳng mang tiền bạc gì cả, chỉ có một tờ giới thiệu với hai tấm chứng minh thư, ngụy trang, vào địch hậu. Trong mỗi tiểu khu của địch, nhất là trên những đường lớn, các đồn đều có dây điện thoại nối với nhau.

Tiểu khu trên, dây đã tầu tầu rồi. Hàng không được tốt. Phải xuống khu dưới. Ở đây toàn dây mới toanh. Nhất hạng rồi!

Anh em tìm đến nhà đồng chí "chủ tịch", làng tề. Đồng chí chủ tịch không nhận cho ngủ trọ, nhưng anh em cứ nằn nèo mãi, và trong khi nằn nèo, đặt vào lòng tay đồng chí tờ giới thiệu gập làm tám.

- Các đồng chí cần bao nhiêu?

- Càng nhiều càng tốt! Ít nhất cũng hai chục cây.

- Đường bên này có một đôi dây thôi, lấy hai chục một tối, thì không gọn đâu, mà lấy nhiều lần thì không bảo đảm.

Nghĩ một lúc.

- Mấy hôm nay tạnh, đường ráo, chúng nó hay đi "ba tui". Gần đến ngâu rồi. Mưa ngâu, bọn mình làm thì tốt ra ráng!

Chủ tịch đưa hai đồng chí bộ đội sang gửi bên nhà, "hội tề" cho đảm bảo, và dặn cứ ở đây chờ mưa.

Mùa ngâu đến đúng hẹn. Mưa rả rích ba ngày đêm rồi, đường đi nhão nhoét. Diệu về đơn vị, đưa hai thuyền đến bến sông đợi. Phải hoạt động cả hai bên sông, cho chúng nó khó đoán.

Sắp ra đi, Thìn còn dặn:

- Yêu cầu cắt dài trăm thước một. Đừng cắt vụn mà phí của đấy, các đồng chí ạ.

Anh em du kích theo đường dây, hãy tháo hết dây hãm ra đã. Như thế là chúng nó vẫn liên lạc được cho đến lúc cuối cùng, không nghi ngờ gì. Bốn cột đặt một người, dao quắm sẵn sàng. Khi nghe thấy vạc ăn đêm kêu hai tiếng đều đều, là cả hai bên sông cùng hạ thủ, rồi cuộn lấy, cuộn để, ù té chạy ra bến.

Chỉ năm phút sau, trên đồn đã có tiếng súng, cự mã cửa đồn đã thấy đẩy ra một bên, nhưng mấy phát súng đến vừa vặn vào cổng đồn, nhắc chúng nó suy nghĩ kỹ cái đã. Kết quả là hai đồn đối trấn chỉ bắn nhiều loạt đại liên theo đường dây, chớ không làm trò gì hơn nữa.

Dân quân lên thuyền, tiễn bộ đội một thôi đường, như thế nếu mà sáng hôm sau, chúng nó có phát hiện, cũng không theo vết mà vào sục trong làng được.

Thế là xong một chuyến hàng.

Nhưng nhà hàng mến khách. Từ đấy trở đi, đôi ba tháng lại một lần, đồng chí chủ tịch báo cho bộ đội đến chỗ ấy, chỗ nọ, mà mang dây về.

- Đừng có để chậm mà chúng nó nhặt mất, phí của!

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND) 

19.7.25

CAT

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Suốt trong thời gian kháng chiến, Tiếng nói Việt Nam vang vang. Nói thật, thì cũng có ngừng mấy ngày. Ấy là lúc địch tiến công Việt Bắc, năm 1947. Giặc nó nhảy dù xuống Bắc Kạn, có phá được một cơ sở thông tin của ta. Ta im mươi hôm, cho nó tưởng ta hết máy rồi.

Đó là những ngày lo lắng nhất, đối với đồng bào miền xuôi, miền Nam, đồng bào hải ngoại. Địch khoác lác là nhảy dù Bắc Kạn, nhảy dù Cao Bằng, vươn hai cái càng khổng lồ để ôm lấy cả Việt Bắc. Lực lượng của Đảng, của nước, là ở trong lòng mỗi người dân khắp nơi trong nước, cả ngoài nước. Nhưng đồng bào biết rằng Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ, Bộ Tổng chỉ huy, ở cả Việt Bắc. Mà chính ngày 7 tháng 10, tiếng nói bặt. Lo quá!

Nhưng bên kia, ta thắng địch ở Bông Lau, diệt địch ở Lũng Phầy; bên này một đoàn học sinh quân đánh cụp cái mũi càng phía Tây lên, ở miền Đầm Hồng, Bản Ty, làm cho hai càng nó hẹn gặp nhau ở Bản Ty, nhưng trước sau cũng đến được đó, mà không bao giờ gặp nhau được, nghĩa là không bao giờ thật sự đóng được vòng vây Việt Bắc mà! Rồi bom nổ tan xác định ở cây số 8 Tuyên Quang, tàu địch ở sông Lô chìm dưới pháo đạn.

Hôm đài Việt Nam lại lên tiếng, những tin thắng trận ấy tung cả ra. Bao nhiêu đồng bào dán tai vào máy thu thanh, bấy nhiêu hôm, thổn thức, hôm nay mừng đến điên lên được.

*

"Đây là Tiếng nói Việt Nam, phát thanh gần Hà Nội, Thủ đô nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trên hai làn sóng điện 25 và 49 thước...".

Tiếng nói không to lắm, nhưng vang xa, đã thành một tiếng quen thuộc, như tiếng nói của người thân trong mỗi một gia đình kháng chiến. Tiếng nói từ đâu phát ra. Đố ai biết. Không ai biết nó ở đâu, mà ai cũng nghe thấy nó. Cả những người khai sinh ra nó, cũng chỉ gọi nó là CAT thôi.

"Tôi ở CAT ra", "Đồng chí đến công tác ở CAT". Thật ra, số những người ở CAT ra, hay đi vào CAT, cũng rất ít. Được đi vào CAT, thì từ biệt các bạn đồng sự, rồi theo người liên lạc đi; ngày trở lại, không biết là bao giờ. Người ở CAT ra, đi đến phố Chợ Chu, cũng ngẩn người ra: "Ồ! Chợ Chu là thế này đây à!". Vì từ ngày đi vào, đến ngày đi ra, Chợ Chu đã đổi hình dạng mấy lần, mà đến hôm chào Chợ Chu để trở lại CAT, thì CAT đã không còn ở chỗ cũ nữa.

*

Nói chuyện cho có đầu, có đuôi. Thì phải kể gốc tích đài CAT. CAT là chiếc vô tuyến điện của nhà máy điện Hải Phòng, quân Quốc dân đảng Tưởng giữ nhà máy. Một cán bộ thông tin ta ăn mặc công nhân vào, mỗi ngày tháo mang ra một mảnh; qua cửa nó hỏi, thì bảo là đem đi chữa. Đến hôm đủ bộ, nặng chừng bốn tạ, thì xếp cả xuống một chiếc thuyền máy, vù lên Hà Nội; rồi nữa, đánh xe lại phải lọt vòng canh của chúng nó lần lên gửi tận Bắc Kạn. Và đến lúc kháng chiến thì chiếc máy ấy thành máy dự bị số một.

Lúc địch nhảy dù, các công nhân quốc phòng và bộ đội, một số bố trí chặn đường, cầm cự với giặc giữ luôn mấy hôm, có đồng chí bị thương nặng mà vẫn không rút. Một số nữa khiêng máy ra đi, nặng là thế, gặp suối ngập đến cổ, đành phải đội máy trên đầu mà qua. Máy được đem đến đặt ở một chỗ thật là khỉ ho, cò gáy, tìm trên bản đồ cũng không có tên mà gọi nữa. Cái máy nổ phát điện đi kèm, cũng có một lịch sử. Anh em gọi nó là cái "máy Võ bị", vì năm trước, nó đã phục vụ, cung cấp ánh sáng cho Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn ở Sơn Tây.

Con nhà hiếm, nên cũng lắm bệnh. Mấy cái đèn của cậu, to bằng cái bát chí yêu, thường chỉ dùng được sáu tháng là cùng. Mà khốn khổ, mình có vẻn vẹn mỗi một bộ. Anh em đọc quyển sách "Trường kỳ kháng chiến" của đồng chí Trường Chinh, lại nhìn bộ đèn độc nhất, mà nao nao trong dạ. Máy nổ cũng chỉ còn vừa vặn một ống xì hơi, nó là một của lạ, bằng thép, bé như ngón tay út của cô nàng, mà lại phải khoan suốt qua một lỗ nhỏ hơn sợi tóc mây. Trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, tất cả các máy đi-den ở Đông Dương đã phải nằm co, vì không có cái ấy. Gớm chưa! Thế mà một đồng chí nguội nhà ta, đã tìm được trong lòng yêu nước, đủ kỹ thuật, để làm được mấy cái ống như vậy mà thay đổi. Phụ trách máy phát là một bác phó già, người Công giáo. Bác đã đem tất cả lòng yêu đời mà yêu chiếc máy, yêu hơn con của bác. Đến nỗi hết phiên việc, bác đun ấm nước, còn đem đến ngồi bên cạnh máy suốt ngày. Phụ trách máy nổ là một bác nữa, phục vụ đế quốc ba mươi năm, mà nó vẫn để cho bác còn mù chữ. Một bác thợ già khác coi hệ thống điện; bác này, trước đây đã hy sinh cho nghề nghiệp một chiếc tai. Cùng với ba ông già, có bốn năm bạn thợ và chiến sĩ trẻ, toàn là những người vừa khiêng máy, chữa máy, vừa phá rừng, làm lán, cầm súng xua đuổi hùm beo. Láng giềng, còn có mấy đồng chí trong bộ phận "Tiếng nói" và một đơn vị nhỏ bộ đội bảo vệ nữa.

Tất cả, thành một xã hội xã hội chủ nghĩa kháng chiến nhỏ, ở trong miền núi rừng trùng trùng điệp điệp, cắt đứt liên lạc với gia đình, với bạn bè, chỉ nối với cấp trên bằng một chú liên lạc độc nhất thôi. Có một cái phải giải quyết ngay, là mỗi tháng máy ăn chừng tám mươi gánh dầu hỏa. Trên dọc đường có mấy nhà quen ở những chỗ hẻo lánh. Các nhà ấy, thỉnh thoảng thấy một bọn gánh dầu đến, rồi mấy hôm sau lại thấy một bọn khác đến gánh đi. Cả hai bọn đều không gặp mặt nhau lần nào cả. Cái xã hội nhỏ ấy sống hầu như tự túc về mọi mặt.

Lo xa, cũng đã đặt ở một hướng khác, một đài khác nữa, đặt tên là LTK, với nhiệm vụ là, nếu CAT có mệnh hệ nào, thì lập tức lên tiếng tiếp ngay.

Lại còn phái người đi lùng hết trong nước, lặn lội ra nước ngoài, tìm mua cho lấy được, ít nhất là một bộ đèn nữa. Nhưng thời gian trôi qua, kỹ thuật cải tiến, không còn có nơi nào người ta sản xuất ra loại đèn cổ quái ấy nữa rồi.

Cái máy độc nhất, đành chỉ có một bộ đèn độc nhất!

Toàn thể công nhân, chiến sĩ, hạ quyết tâm giữ gìn mấy chiếc đèn, đồng thời viết lên tường một khẩu hiệu: "Tiếng trong và vang xa". Tiếng nhỏ bé, nhưng tiếng của Tổ quốc kháng chiến, nhất định phải trong trẻo, sắc, vang ra xa muôn trùng, nói lên sự hy sinh của nhân dân, sự anh dũng của quân đội, lời chỉ thị của Đảng, của Chính phủ, làm mạnh lòng tin tưởng của hàng chục triệu nhà, cả ở bên kia sông Cửu Long, cả ở ngoài trùng dương, thét vào mặt quân thù nỗi giận của dân tộc, báo cho các bạn quốc tế ta biết rằng: Việt Nam, dù ở trong vòng vây, vẫn chiến đấu, chiến đấu càng ngày càng mạnh!

*

Nhưng, những hôm trái nắng, giở trời, đèn lên xuống thất thường. Mệnh hệ viết trong lá số kỹ thuật, chỉ có sáu tháng, mà chốc đã là mấy năm rồi. Những hôm ấy, là những ngày lo âu. Cả bên chuyên môn, lẫn bên tiếng nói; cả cái tập thể ấy, đăm đăm theo dõi đèn, lau chỗ mồi chỗ kia. Xúm quanh giường bệnh; những người gan góc, quyết đem tình yêu cao cả, cưỡng lại số mệnh, giành lấy sự sống cho chiếc máy quý báu.

Đã hỏa tốc triệu đồng chí Lý Mạnh, người chuyên chữa các bệnh này, đã họp tất cả anh em, kẻ ít người nhiều, biết đôi chút về máy móc. Phải cứu lấy đèn! Phải thiết lập một bộ máy dưỡng bệnh cho đèn. Đèn bằng quả bưởi, mà máy nuôi to bằng cái bàn.

Cuối cùng, "nhân định thắng thiên!". Trên vỏ đèn còn dán cái lá nhãn "đời sống sáu tháng" nhưng quá sáu năm, mà đèn vẫn còn sống, vẫn trở lại tỉnh táo. Kỹ thuật cách mạng thắng trận!

Và, đến ngày Đảng và Chính phủ trở về thủ đô, đồng thời với mấy máy mới, "Chiếc máy không già" ấy, sống bằng chí khí của cuộc kháng chiến, sơn đã long lở, chắp vá nhằng nhịt, trở về, vẫn tươi, vẫn trẻ, vì một đội công nhân và chiến sĩ thông tin đã nuôi nó bằng tám năm thanh xuân của mình.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND) 

18.7.25

Chiến sĩ chuyển đạt

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Người cán bộ thông tin, trong tay nắm năm ba thứ phương tiện. Nhưng cũng có lúc chiến đấu gay go, cần vô tuyến điện gãy, máy bị phá, bộ đàm viên hy sinh, bom đạn đã cắt đường dây năm bảy đoạn, không nối kịp nữa. Mà tình hình phải liên lạc, cấp trên chờ một báo cáo mãi chưa đến, hay có một mệnh lệnh không thể đợi được nữa, cấp dưới có đề nghị bức thiết. Lúc ấy, là lúc chiến sĩ chuyển đạt ra trận.

Đi nhiều người thì hy sinh vô ích, anh từ chiến hào, một mình bò lên; tay nắm tiểu liên, nhưng anh có một nhiệm vụ quan trọng hơn nhiệm vụ bắn giặc. Anh không thể hy sinh, vì hy sinh trước khi truyền được lệnh, thì dù hy sinh rồi, mà vẫn còn chưa là làm hết nhiệm vụ. Anh lợi dụng địa hình, nấp sau ụ đất, nghiên cứu làn đạn địch, quy luật đạn đại bác rơi, thoắt chồm lên, chạy một quãng ngắn, nằm xẹp xuống, bò chỗ có thể bò, tiện dốc thì lăn nhanh, chơi hú tim với cái chết, mà nhất định phải sống; trong trận địa tơi bời, anh phải tìm cho được người nhận lệnh, lấy báo cáo, nhẩm cho nhớ, rồi trở về.

Thành là một chuyển đạt viên như vậy.

Trên hàng trận, đạn réo, bom nổ. Đại đội mũi dùi đánh lên hơn một giờ rồi, liên lạc đứt; nửa tiểu đội điện thoại lên nối, không thấy thông mà không thông thì cố nhiên không ai về. Địch đã bắn chặn một màn đạn, tách đại đội với chủ lực.

Lệnh gọi Thành, Trung đoàn trưởng đưa cho mảnh giấy:

- Đưa đại đội Một. Đồng chí đi!

Vắn tắt như thế thôi. Thành thấy trong mắt đồng chí chỉ huy, tất cả hy vọng, tất cả lòng thiết tha và tin tưởng của một đồng chí đối với một đồng chí.

Anh bỏ ra gần chỗ màn đạn đại bác nổ, chui lỏn vào một hố đạn, tìm được một kẽ ngách, xông lên. Nhưng lại phải nằm, vì một đại liên giặc, có lẽ thấy người phía sau lên, nó cứ quét đi quét lại. Nhân lúc nó quét sang bên phải, anh nhảy vọt đến sau một cái mả, rồi rạch theo sau một con bờ, đến dần chỗ bộ đội ta đang nằm bắn trong những hố cá nhân đào vội vã. Bình tĩnh đoán xem đại đội trưởng ở đâu, anh rạch đến, vừa rạch, vừa đẩy chiếc ba lô lên phía trước. Đồng chí chính trị viên đại đội vội viết:

- "Chúng tôi còn sức đánh lên, nhưng xin trung đoàn đánh vào phía bên phải".

Bò về, khó hơn đi, vì chiếc ba lô đã không được việc gì nữa. Được nửa đường, anh thấy chân trái không co lên được, bị đạn rồi. Anh sờ xem mảnh giấy báo cáo có còn ở túi bên trái không. Rồi tiếp tục tiến lên; không rạch được nữa, Thành dùng tay bám lấy đất mà nhoài. Chiếc chân vô dụng, đã nặng như quả tạ. Lại thấy nhói ở sườn bên phải. Nhưng gần đến nơi rồi, hãy về đã... - Lăn vào giao thông hào, mặt anh xám ngoét đi. Mấy đồng chí dìu anh đến chỉ huy sở. Thành cố đứng nghiêm, đặt tay lên túi bên trái, mồm mấp máy, rồi từ từ ngã sấp mặt...

Trên quả tim của đồng chí Thành, tìm thấy tờ báo cáo. Đồng chí đã hoàn thành nhiệm vụ.

*

Phía trên, giặc chiếm Bắc Kạn; phía dưới giặc ở Đa Phúc. Đại Từ nghe thấy cả tiếng đại bác từ Chợ Mới dội xuống, từ núi Đôi vang lên. Khu tự do không rộng mấy nữa. Nó đánh sang Sơn Tây, đóng Hoàng Bình, chẹn Đồn Vàng. Phía đông giữ Bắc Ninh, trấn Cẩm Lý, bến Tắm, Đông Triều. Thế là cắt đường đi Thanh - Nghệ, tách Khu 2, Khu 3 khỏi Việt Bắc rồi.

Lúc này chính là lúc phong trào du kích phải phát triển, phải được lãnh đạo. Những con đường chuyển đạt trở nên những mạch máu róc rách, chảy được qua cả những vết thương chí tử.

Đường chuyển đạt Khu 3, Khu 4, qua Sơn Tây; làm thế nào mà vẫn phải giữ cho vững. Phải giữ vững bến Hồng Hà. Phải sang sông lúc mọi người đi ngủ, rồi đi một mạch qua những vùng tề, Việt gian, tôn giáo phản động đặc như mắc cửi; trước khi trời sáng, làm sao phải đi quá núi Ba Vì, đến được vùng tề tương đối biết điều.

Rồi việc canh phòng của chúng nó ráo riết hơn, con đường lại phải quật sang phía Đông. Phải nghiên cứu, gây cơ sở, từ Bắc Giang lọt vào hướng bến Tắm, men đường cách đồn Đông Triều hai trăm thước, trèo núi Yên Phụ, qua bốn con sông, rồi vượt đường số 5, để đến các căn cứ du kích.

Sáu tháng sau, chúng nó phục kích liên miên trên đường, càn quét hai bên. Tuy vẫn còn có đêm qua được, nhưng không thể để cho đường công văn bị may rủi, lại phải quay sang phía Tây. Từ sông Bứa, vào Đồn Vàng, rồi ra bến Đề Thám, sang sông phía Chẹ, lần vào suối Đất, lại vượt đường số 6, lách đến Kim Bôi, Hạ Bì, để vào Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, sang Hải Dương. Dân Mường chất phác, nhưng một số lớn bị giặc đánh lừa. Núi rậm rì, suối rộng, trên đường gạo khan quá đỗi. Rồi đến một độ, đường số 6 cũng bị tắc nốt.

Phải ngược lên tận Yên Lập, qua Kẽm Hem. Có lần phải qua Sống Trâu, tạt Suối Rút, rồi mới đến Nho Quan được.

Qua bên này, vật sang bên kia, đói khát, vắt rừng, biệt kích, ra đi cả ngày mồng một Tết, vượt đường cả những hôm đường đã báo động, để chạy công văn hẹn giờ. Vượt đường đã thành một chiến thuật có những quy luật tinh vi, qua sông bằng phao, qua suối bằng dây, trong gần một năm trời, mỗi ngày chỉ một bát ngô; hy sinh nhiều đồng chí, nhưng làm tròn nhiệm vụ chuyển đạt đường trường.

Chỉ có một lần, trên sông Bứa, mất một chuyến công văn. Chỉ một lần thôi, nhưng cho đến bây giờ, anh em vẫn còn ân hận.

Hán là học sinh Hà Nội, học trường Bưởi. Anh thuộc cái loại, trên tàu điện, hay gây gổ với bọn học sinh Pháp trường Sa Rô. Thủ đô kháng chiến, Hán không làm thế nào mà đành theo mẹ đi tản cư được. Anh xin đầu quân. Không biết gì sâu sắc, nhưng tưởng tượng rằng toàn quyền, thống sứ lại trở lại bệ vệ ở Hà Nội, đội sếp Tây lại hống hách trên vỉa hè; cái cảnh ấy, anh không sao chịu nổi nữa.

Cầm khẩu súng cũng oai phong lẫm liệt, nhưng anh thích làm bộ đội chuyển đạt, vì nghĩ rằng: Cái ca-lô đội lệch một bên, xắc cốt lủng lẳng, anh cũng kháng chiến được, mà vẫn được đi đó đi đây, nay con đường này, mai con đường khác. Đi hết đầu sông ngọn nguồn, nhưng ghé vào những cửa hàng dưới gốc đa, làm bát nước, hút điếu thuốc, chẳng kém gì thi vị. Cuối tháng, mấy đồng bạc, nhưng cũng hả được một tý, mời bè, mời bạn, rồi còn dành được một cốc cà phê đặc.

Thế nhưng rồi, địch đánh lan ra. Đi toàn những đường mòn. Năm thì, mười họa, có một quãng đường lớn, nhưng vì giữ bí mật, lại không được lê la vào hàng; cứ phải đi một đỗi xa, mới giở ống tre ra, tợp một ngụm nước suối. Cái ca-lô vẫn là dưới gối đầu, bây giờ đã đổi lấy chiếc nón mê, "tiện y" củ nâu đã thay bộ quân phục, tuy bằng vải to, nhưng cũng còn nhuộm màu ka-ki. Cắp nón ra đi, mỗi buổi tinh sương hay mỗi lúc nhá nhem tối, cái bị cói càng ngày càng nặng hơn, giờ quy định phải đến chỗ "hợp điểm" hay "trạm tiếp sức", mỗi giờ phải cuốc cho được sáu cây số vận hành, tinh thần phải chuẩn bị để một mình giải quyết mọi khó khăn, tột bậc cũng chỉ có hai quả lựu đạn trong đáy bị; những nền nếp chặt chẽ của một con đường có tổ chức, đã rèn cho Hán thành một thanh niên đen đủi và cứng rắn dần dần.

Năm 1949, tình hình lương thực khó khăn. Trung đội của Hán đóng giữa vòng vây, trong núi, không có cách nào tiếp tế được; có được tiền cũng không có gạo đâu mà mua. Ngô với sắn cũng hiếm. Ai đi công tác, thì lĩnh một ngày một bát ngô rang hay bung từ tối hôm trước. Ai không đi công tác, thì leo lên sườn Ba Vì mua bắp. Trong điều kiện khó khăn ấy, Hán thấy mình gắn với tập thể trung đội. Trong khi gia đình không còn biết ở đâu nữa, thì những anh Hồi, anh Huyến, anh Mục, anh Tân đã thành ra những người cùng máu mủ của hắn rồi. Đi công tác về, tăng gia ráo riết để cải thiện, Hán cũng đã quen tay lao động.

Chỉ còn một nỗi là người tỉnh, Hán vẫn không dễ gần những người "nhà quê". Một đêm, khi đường đã chuyển, cùng với các đồng chí, Hán vượt đường số 5, đến một làng tề, ba giờ sáng mới đến một cơ sở. Mệt quá. Chị chủ nhà nhận canh hộ, mọi người ngủ lăn ra. Chị này rách rưới, nhà cũng lụp xụp, nên Hán vẫn coi nhẹ nhàng.

Bỗng tiếng chị gọi gấp:

- Tây vây kín làng rồi.

Mắt nhắm, mắt mở, anh em còn luống cuống, nhưng chị đã nhặt các túi công văn đem đi giấu, cầm súng lục dúi cho anh em, phân phối cho hai người yếu nhất xuống hầm, rồi dẫn đầu cho bốn anh khỏe mạnh tìm đường hẻm vượt vòng vây.

Từ hôm ấy, Hán không còn coi thường những người áo vá nữa.

Cùng với đồng chí Hà, Hán được phân công đến lập trạm "hợp điểm" giữa vùng địch chiếm, gần chỗ ba con đường gặp nhau. Tìm mãi mới được chỗ tốt. Một cái nhà chơ vơ, đi lại không ai biết, mà địch đến phía nào cũng có lối rút. Khổ một nỗi, bà cụ chủ nhà cứ nằng nặc không cho, cụ ngại rằng địch càn không ngớt, mà chứa người lạ mặt thì nguy hiểm quá. Hán xin ở tạm lại vài hôm, rồi thức khuya dậy sớm, như bà cụ, đi chăn trâu, cắt cỏ, vớt bèo chả khác gì con cụ vậy. Bà cụ thương, mà Hán cũng cảm động, được cụ gọi là con. Mà vì thế nhà bà cụ thành một cái trạm rất vững, nó càn mãi mà không phát hiện được.

Hán chịu khó, học tập các bạn chiến đấu. Thường thì đi đêm, nhưng mỗi khi có hỏa tốc, thì cũng phải qua sông, giữa ban ngày ban mặt.

Học kinh nghiệm đồng chí Tiêu, một hôm qua sông, đem theo ba bốn bó củi nữa. Bất thình lình, giữa dòng, bị hai chiếc Hen-cát quần, Hán bình tĩnh thả hết bó củi xuống, rồi lặn, bám ngầm lấy một bó. Bốn cái phao, biết bắn cái nào, nó nhả qua loa mấy băng vô hiệu, rồi đi.

Những đêm ngủ đất tề, chỉ một nửa ngủ, còn một nửa phải thức, các bạn kể cho Hán nghe những chuyện anh dũng của các đồng chí cũ trong đơn vị. Chuyện đồng chí Khoa bị giặc đuổi, còn cố chạy qua chỗ giấu xê-vê (tức là công văn), liếc mắt chỉ cho bạn, rồi phóng ra đồng cho nó bắt. Giặc đánh đồng chí Khoa thừa sống thiếu chết, để hỏi hành trình của năm trăm tân binh, Khoa nhất định không nói, và cuối cùng, trốn được về với đơn vị. Chuyện đồng chí Đông bị bắt cũng không khai, rồi nhân lúc địch rút, leo lên nấp trên trần nhà mà thoát.

Những chuyện làm cho Hán suy nghĩ nhất là chuyện các đồng chí, qua những miền địch mới đóng, phải hy sinh, tay không đi trước để dò đường và làm hiệu cho người đeo công văn đi sau. Đồng chí Kiệm hy sinh ở Khoan Lư, khi giặc tiến công Việt Bắc, đồng chí Thìn khi dẫn đường qua suối Đất, bị địch bắt, thét lên cho đội hình lùi lại, rồi hy sinh. Lòng nhủ lòng, Hán định bụng, nếu gặp trường hợp như vậy, Hán cũng nhất định hy sinh vì Tổ quốc.

Công tác mỗi ngày một thêm gân guốc, thêm chí khí cho Hán. Rút kinh nghiệm của đồng chí Dương Văn Thành đã hy sinh khi vượt sông Công, đồng chí Tề gánh ba mươi cân mà qua suối Vụ Bản mùa lũ, Hán đi đâu cũng có sẵn cuộn thừng. Giữ bến đò trong địch hậu, cứu cán bộ nóng nảy vội qua sông, có hôm chân nứt thì khâu lại mà đi. Hán đã được trung đội tin cẩn, được cùng với các đồng chí Diện, Duyệt, Hà và Thực làm một tổ phụ trách đưa công văn, chuyển bộ đội, cán bộ qua đường số 6.

Giặc biết rằng đó là con đường của ta nhất định phải qua lại, nên nó canh đáo để. Quãng đường một cây số từ Đồng Bến đến Cầu Mè, mà nó đóng đến hai đồn. Vẫn con đường phía Tây, qua Yên Lập, Suối Rút thật, nhưng việc binh gấp như lửa, đi vòng thì không được. Cho nên sống chết, anh em vẫn phải bám lấy con đường quái ác này.

Ban ngày thì "tương đối" dễ, vì leo lên cao, có thể quan sát được đường; nó có phục kích cũng còn có thể phát hiện được. Dù cho thấy nó phục kích nữa, Hát-tê (tức là công văn hỏa tốc), thì men lưng chừng núi mà leo dần sang, cũng còn được. Vả lại, nơi đường cổ họng đó, trên mặt đường, hai bên đường, thường có xác những người bị địch bắn nằm đầy. Đồng chí Kích có kinh nghiệm là vắng bóng người, thì đàn quạ sà xuống moi xác chết, kêu quàng quạc. Nghe tiếng quạ, tức là có thể yên tâm được một tẹo.

Đêm mới ghê gớm! Phải bò qua vùng có những xác người, rón rén đến gần các ổ phục kích; không thấy gì, thì men xuống đường. Có đội du kích Mường bảo đảm nơi vượt thật, nhưng, tinh thần trách nhiệm cao, hơi có động, là các đồng chí phải đóng đường. Đồng bào thì thế là được. Nhưng như thế, thì làm thế nào bảo đảm được các "hỏa tốc hẹn giờ".

Đêm hôm ấy, không có trăng. Đã là một dấu hiệu tốt. Chúng nó chưa chắc đã đi phục.

Hán được chỉ định đem công văn trao cho trạm bên kia đường và hướng dẫn một đoàn cán bộ với một trung đội. Từ chiều, anh đã ra trước để quan sát. Tình hình như mọi ngày. Tối, đoàn người và công văn đã đến nơi, Hán kiểm tra một lượt, dặn dò mọi người, rồi trao chứng minh thư của mình cho đồng đội. Anh rón rén tiến ra phía đường, vừa tiến, vừa nghe ngóng. Tất cả các chỗ địch vẫn quen nấp, đều đã được soát qua, không có gì. Cẩn thận, anh lên quá một ít, xuống quá một ít, cũng không thấy gì. Chỉ có mùi xác chết như mọi hôm, mùi mà dù công tác ở đây bốn tháng rồi, anh vẫn chưa quen được. Mỗi lần ngửi thấy, anh vẫn cảm như có quả bưởi chẹn lấy cổ, tim nhói như châm kim.

Anh trở lại chỗ nấp, dặn mọi người theo anh sau một trăm bước. Rồi lại quay ra đường.

Vừa đến mép cỏ, thì ba đứa trong đám xác chết nhổm lên, vây lấy anh, bảo sẽ: "Im!".

Hán hiểu ngay. Anh im, tức là các đồng chí của anh sẽ đi vào chỗ chết, công văn sẽ mất. Thoáng một cái, anh nhìn thấy mẹ anh, rồi bà mẹ nuôi của anh đang quằn quại, anh hét lên một tiếng: "giặc!"... rồi hy sinh.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND) 

16.7.25

Binh chủng Thông tin liên lạc tổ chức Hội nghị Quân chính 6 tháng đầu năm 2025

Sáng 16-7, Binh chủng Thông tin liên lạc tổ chức Hội nghị Quân chính 6 tháng đầu năm 2025. Thiếu tướng Vũ Viết Hoàng, Tư lệnh Binh chủng chủ trì hội nghị.

Dự hội nghị có Thiếu tướng Nguyễn Văn Trị, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Binh chủng Thông tin liên lạc.

Các đại biểu tham dự hội nghị.

Báo cáo trung tâm tại hội nghị nêu rõ: 6 tháng đầu năm 2025, Binh chủng Thông tin liên lạc quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, nhiệm vụ cấp trên giao và nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ của Đảng ủy Binh chủng. Vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng đối với mọi hoạt động của đơn vị được giữ vững, tăng cường, nội bộ đoàn kết, thống nhất. Tổ chức Đại hội Đảng các cấp bảo đảm chặt chẽ, đúng nguyên tắc, chất lượng tốt.

Bên cạnh đó, tích cực, chủ động tham mưu, đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về quy hoạch, phát triển hệ thống và thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về thông tin liên lạc quân sự; báo cáo Bộ Quốc phòng chủ trương triển khai mạng thông tin di động quân sự dùng riêng, mạng truyền dẫn băng rộng. Điều chỉnh tổ chức bảo đảm thông tin liên lạc cho cơ quan quân sự địa phương khi tổ chức bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp.

Thiếu tướng Vũ Viết Hoàng phát biểu tại hội nghị.

Phát biểu tại hội nghị, Thiếu tướng Vũ Viết Hoàng khẳng định, toàn Binh chủng Thông tin liên lạc đã duy trì, thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ trên tất cả các mặt công tác. Trong đó, bảo đảm tốt thông tin liên lạc, truyền hình cho các lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo, dịp lễ, Tết và các sự kiện chính trị quan trọng, hoạt động đối ngoại quốc phòng, diễn tập, hội thao, hội thi, nổi bật là Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước…

Cùng với đó, tập trung phát triển hạ tầng phục vụ chuyển đổi số toàn quân; hoàn thành 100% nhiệm vụ được giao trên Hệ thống quản lý văn bản và điều hành, nhiệm vụ số hóa hồ sơ kết quả giải quyết thủ tục hành chính. Công tác huấn luyện, giáo dục và đào tạo, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, tổ chức xây dựng lực lượng, thanh tra, điều tra hình sự, hành chính quân sự, pháp chế, đối ngoại quốc phòng, dân vận, hậu cần, kỹ thuật, tài chính, kinh tế được triển khai bảo đảm hiệu quả, chặt chẽ, đúng quy định, an toàn.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Trị phát động các phong trào thi đua tại hội nghị.

Nửa cuối năm 2025, Binh chủng Thông tin liên lạc xác định tổ chức thành công Đại hội Đảng bộ Binh chủng lần thứ XIII. Hoàn thành xây dựng, trình Bộ Quốc phòng ban hành Thông tư quy định quản lý hệ thống thông tin liên lạc trong Bộ Quốc phòng. Bảo đảm tốt thông tin liên lạc cho Bộ Quốc phòng nắm chắc tình hình, kịp thời xử trí các tình huống; bảo vệ các sự kiện chính trị quan trọng của Đảng, Nhà nước, Quân đội, các ngày lễ, Tết và sự kiện quốc tế tổ chức tại Việt Nam, trọng tâm là phục vụ các hoạt động kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2-9. Hoàn thiện kiến trúc Chính phủ điện tử 4.0, đẩy mạnh Phong trào “Bình dân học vụ số”, phấn đấu là đơn vị dẫn đầu về chuyển đổi số trong khối đơn vị sẵn sàng chiến đấu toàn quân.

Lãnh đạo Binh chủng Thông tin liên lạc trao khen thưởng tặng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc.

Chỉ đạo tổ chức tốt đợt sinh hoạt chính trị tư tưởng, góp ý vào dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng; các hoạt động kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2-9; kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Bộ đội Thông tin liên lạc, trọng tâm là các hoạt động gặp mặt, chương trình chính luận nghệ thuật, các công trình, phần việc chào mừng, tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Binh chủng và đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh (lần 2). Tổ chức tốt Phong trào Thi Quyết thắng năm, các đợt thi đua cao điểm và phong trào thi đua “Bình dân học vụ số”; tham gia Đại hội Thi đua Quyết thắng toàn quân lần thứ XI.

Tổ chức thành công Đại hội Đảng bộ Binh chủng lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2025 - 2030; tham gia có chất lượng Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII. Triển khai Kế hoạch thực hiện Đề án “Chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài đối với Quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050” trong Binh chủng. Hoàn thành xây dựng và bàn giao 16 “Nhà đồng đội”, 6 “Nhà tình nghĩa” và hạng mục công trình Trường THCS xã Tuyên Lâm (tỉnh Quảng Trị). Tham gia Giải thưởng Tuổi trẻ sáng tạo trong Quân đội phấn đấu đạt thành tích cao.

Quang cảnh hội nghị.

Nhân dịp này, Binh chủng Thông tin liên lạc phát động đợt thi đua cao điểm “Phất cao cờ hồng Tháng Tám - Thi đua giành 3 nhất” và các phong trào thi đua “Quân đội thi đua đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”, “Bình dân học vụ số”; khen thưởng các tập thể, cá nhân đạt thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm 2025.

Tin, ảnh: Văn Hiếu

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo QĐND điện tử)