Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy
Người cán bộ thông tin, trong tay nắm năm ba thứ phương
tiện. Nhưng cũng có lúc chiến đấu gay go, cần vô tuyến điện gãy, máy bị phá, bộ
đàm viên hy sinh, bom đạn đã cắt đường dây năm bảy đoạn, không nối kịp nữa. Mà
tình hình phải liên lạc, cấp trên chờ một báo cáo mãi chưa đến, hay có một mệnh
lệnh không thể đợi được nữa, cấp dưới có đề nghị bức thiết. Lúc ấy, là lúc chiến
sĩ chuyển đạt ra trận.
Đi nhiều người thì hy sinh vô ích, anh từ chiến hào, một
mình bò lên; tay nắm tiểu liên, nhưng anh có một nhiệm vụ quan trọng hơn nhiệm
vụ bắn giặc. Anh không thể hy sinh, vì hy sinh trước khi truyền được lệnh, thì
dù hy sinh rồi, mà vẫn còn chưa là làm hết nhiệm vụ. Anh lợi dụng địa hình, nấp
sau ụ đất, nghiên cứu làn đạn địch, quy luật đạn đại bác rơi, thoắt chồm lên,
chạy một quãng ngắn, nằm xẹp xuống, bò chỗ có thể bò, tiện dốc thì lăn nhanh,
chơi hú tim với cái chết, mà nhất định phải sống; trong trận địa tơi bời, anh
phải tìm cho được người nhận lệnh, lấy báo cáo, nhẩm cho nhớ, rồi trở về.
Thành là một chuyển đạt viên như vậy.
Trên hàng trận, đạn réo, bom nổ. Đại đội mũi dùi đánh
lên hơn một giờ rồi, liên lạc đứt; nửa tiểu đội điện thoại lên nối, không thấy
thông mà không thông thì cố nhiên không ai về. Địch đã bắn chặn một màn đạn,
tách đại đội với chủ lực.
Lệnh gọi Thành, Trung đoàn trưởng đưa cho mảnh giấy:
- Đưa đại đội Một. Đồng chí đi!
Vắn tắt như thế thôi. Thành thấy trong mắt đồng chí chỉ
huy, tất cả hy vọng, tất cả lòng thiết tha và tin tưởng của một đồng chí đối với
một đồng chí.
Anh bỏ ra gần chỗ màn đạn đại bác nổ, chui lỏn vào một
hố đạn, tìm được một kẽ ngách, xông lên. Nhưng lại phải nằm, vì một đại liên giặc,
có lẽ thấy người phía sau lên, nó cứ quét đi quét lại. Nhân lúc nó quét sang
bên phải, anh nhảy vọt đến sau một cái mả, rồi rạch theo sau một con bờ, đến dần
chỗ bộ đội ta đang nằm bắn trong những hố cá nhân đào vội vã. Bình tĩnh đoán
xem đại đội trưởng ở đâu, anh rạch đến, vừa rạch, vừa đẩy chiếc ba lô lên phía
trước. Đồng chí chính trị viên đại đội vội viết:
- "Chúng tôi còn sức đánh lên, nhưng xin trung
đoàn đánh vào phía bên phải".
Bò về, khó hơn đi, vì chiếc ba lô đã không được việc gì
nữa. Được nửa đường, anh thấy chân trái không co lên được, bị đạn rồi. Anh sờ
xem mảnh giấy báo cáo có còn ở túi bên trái không. Rồi tiếp tục tiến lên; không
rạch được nữa, Thành dùng tay bám lấy đất mà nhoài. Chiếc chân vô dụng, đã nặng
như quả tạ. Lại thấy nhói ở sườn bên phải. Nhưng gần đến nơi rồi, hãy về đã...
- Lăn vào giao thông hào, mặt anh xám ngoét đi. Mấy đồng chí dìu anh đến chỉ
huy sở. Thành cố đứng nghiêm, đặt tay lên túi bên trái, mồm mấp máy, rồi từ từ
ngã sấp mặt...
Trên quả tim của đồng chí Thành, tìm thấy tờ báo cáo.
Đồng chí đã hoàn thành nhiệm vụ.
*
Phía trên, giặc chiếm Bắc Kạn; phía dưới giặc ở Đa Phúc.
Đại Từ nghe thấy cả tiếng đại bác từ Chợ Mới dội xuống, từ núi Đôi vang lên.
Khu tự do không rộng mấy nữa. Nó đánh sang Sơn Tây, đóng Hoàng Bình, chẹn Đồn
Vàng. Phía đông giữ Bắc Ninh, trấn Cẩm Lý, bến Tắm, Đông Triều. Thế là cắt đường
đi Thanh - Nghệ, tách Khu 2, Khu 3 khỏi Việt Bắc rồi.
Lúc này chính là lúc phong trào du kích phải phát triển,
phải được lãnh đạo. Những con đường chuyển đạt trở nên những mạch máu róc rách,
chảy được qua cả những vết thương chí tử.
Đường chuyển đạt Khu 3, Khu 4, qua Sơn Tây; làm thế
nào mà vẫn phải giữ cho vững. Phải giữ vững bến Hồng Hà. Phải sang sông lúc mọi
người đi ngủ, rồi đi một mạch qua những vùng tề, Việt gian, tôn giáo phản động
đặc như mắc cửi; trước khi trời sáng, làm sao phải đi quá núi Ba Vì, đến được
vùng tề tương đối biết điều.
Rồi việc canh phòng của chúng nó ráo riết hơn, con đường
lại phải quật sang phía Đông. Phải nghiên cứu, gây cơ sở, từ Bắc Giang lọt vào
hướng bến Tắm, men đường cách đồn Đông Triều hai trăm thước, trèo núi Yên Phụ,
qua bốn con sông, rồi vượt đường số 5, để đến các căn cứ du kích.
Sáu tháng sau, chúng nó phục kích liên miên trên đường,
càn quét hai bên. Tuy vẫn còn có đêm qua được, nhưng không thể để cho đường
công văn bị may rủi, lại phải quay sang phía Tây. Từ sông Bứa, vào Đồn Vàng, rồi
ra bến Đề Thám, sang sông phía Chẹ, lần vào suối Đất, lại vượt đường số 6, lách
đến Kim Bôi, Hạ Bì, để vào Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, sang Hải Dương. Dân Mường
chất phác, nhưng một số lớn bị giặc đánh lừa. Núi rậm rì, suối rộng, trên đường
gạo khan quá đỗi. Rồi đến một độ, đường số 6 cũng bị tắc nốt.
Phải ngược lên tận Yên Lập, qua Kẽm Hem. Có lần phải
qua Sống Trâu, tạt Suối Rút, rồi mới đến Nho Quan được.
Qua bên này, vật sang bên kia, đói khát, vắt rừng, biệt
kích, ra đi cả ngày mồng một Tết, vượt đường cả những hôm đường đã báo động, để
chạy công văn hẹn giờ. Vượt đường đã thành một chiến thuật có những quy luật
tinh vi, qua sông bằng phao, qua suối bằng dây, trong gần một năm trời, mỗi
ngày chỉ một bát ngô; hy sinh nhiều đồng chí, nhưng làm tròn nhiệm vụ chuyển đạt
đường trường.
Chỉ có một lần, trên sông Bứa, mất một chuyến công văn.
Chỉ một lần thôi, nhưng cho đến bây giờ, anh em vẫn còn ân hận.
Hán là học sinh Hà Nội, học trường Bưởi. Anh thuộc cái
loại, trên tàu điện, hay gây gổ với bọn học sinh Pháp trường Sa Rô. Thủ đô
kháng chiến, Hán không làm thế nào mà đành theo mẹ đi tản cư được. Anh xin đầu
quân. Không biết gì sâu sắc, nhưng tưởng tượng rằng toàn quyền, thống sứ lại trở
lại bệ vệ ở Hà Nội, đội sếp Tây lại hống hách trên vỉa hè; cái cảnh ấy, anh
không sao chịu nổi nữa.
Cầm khẩu súng cũng oai phong lẫm liệt, nhưng anh thích
làm bộ đội chuyển đạt, vì nghĩ rằng: Cái ca-lô đội lệch một bên, xắc cốt lủng lẳng,
anh cũng kháng chiến được, mà vẫn được đi đó đi đây, nay con đường này, mai con
đường khác. Đi hết đầu sông ngọn nguồn, nhưng ghé vào những cửa hàng dưới gốc
đa, làm bát nước, hút điếu thuốc, chẳng kém gì thi vị. Cuối tháng, mấy đồng bạc,
nhưng cũng hả được một tý, mời bè, mời bạn, rồi còn dành được một cốc cà phê đặc.
Thế nhưng rồi, địch đánh lan ra. Đi toàn những đường
mòn. Năm thì, mười họa, có một quãng đường lớn, nhưng vì giữ bí mật, lại không
được lê la vào hàng; cứ phải đi một đỗi xa, mới giở ống tre ra, tợp một ngụm nước
suối. Cái ca-lô vẫn là dưới gối đầu, bây giờ đã đổi lấy chiếc nón mê, "tiện
y" củ nâu đã thay bộ quân phục, tuy bằng vải to, nhưng cũng còn nhuộm màu
ka-ki. Cắp nón ra đi, mỗi buổi tinh sương hay mỗi lúc nhá nhem tối, cái bị cói
càng ngày càng nặng hơn, giờ quy định phải đến chỗ "hợp điểm" hay
"trạm tiếp sức", mỗi giờ phải cuốc cho được sáu cây số vận hành, tinh
thần phải chuẩn bị để một mình giải quyết mọi khó khăn, tột bậc cũng chỉ có hai
quả lựu đạn trong đáy bị; những nền nếp chặt chẽ của một con đường có tổ chức,
đã rèn cho Hán thành một thanh niên đen đủi và cứng rắn dần dần.
Năm 1949, tình hình lương thực khó khăn. Trung đội của
Hán đóng giữa vòng vây, trong núi, không có cách nào tiếp tế được; có được tiền
cũng không có gạo đâu mà mua. Ngô với sắn cũng hiếm. Ai đi công tác, thì lĩnh một
ngày một bát ngô rang hay bung từ tối hôm trước. Ai không đi công tác, thì leo
lên sườn Ba Vì mua bắp. Trong điều kiện khó khăn ấy, Hán thấy mình gắn với tập
thể trung đội. Trong khi gia đình không còn biết ở đâu nữa, thì những anh Hồi,
anh Huyến, anh Mục, anh Tân đã thành ra những người cùng máu mủ của hắn rồi. Đi
công tác về, tăng gia ráo riết để cải thiện, Hán cũng đã quen tay lao động.
Chỉ còn một nỗi là người tỉnh, Hán vẫn không dễ gần những
người "nhà quê". Một đêm, khi đường đã chuyển, cùng với các đồng chí,
Hán vượt đường số 5, đến một làng tề, ba giờ sáng mới đến một cơ sở. Mệt quá.
Chị chủ nhà nhận canh hộ, mọi người ngủ lăn ra. Chị này rách rưới, nhà cũng lụp
xụp, nên Hán vẫn coi nhẹ nhàng.
Bỗng tiếng chị gọi gấp:
- Tây vây kín làng rồi.
Mắt nhắm, mắt mở, anh em còn luống cuống, nhưng chị đã
nhặt các túi công văn đem đi giấu, cầm súng lục dúi cho anh em, phân phối cho
hai người yếu nhất xuống hầm, rồi dẫn đầu cho bốn anh khỏe mạnh tìm đường hẻm
vượt vòng vây.
Từ hôm ấy, Hán không còn coi thường những người áo vá
nữa.
Cùng với đồng chí Hà, Hán được phân công đến lập trạm
"hợp điểm" giữa vùng địch chiếm, gần chỗ ba con đường gặp nhau. Tìm
mãi mới được chỗ tốt. Một cái nhà chơ vơ, đi lại không ai biết, mà địch đến
phía nào cũng có lối rút. Khổ một nỗi, bà cụ chủ nhà cứ nằng nặc không cho, cụ
ngại rằng địch càn không ngớt, mà chứa người lạ mặt thì nguy hiểm quá. Hán xin ở
tạm lại vài hôm, rồi thức khuya dậy sớm, như bà cụ, đi chăn trâu, cắt cỏ, vớt
bèo chả khác gì con cụ vậy. Bà cụ thương, mà Hán cũng cảm động, được cụ gọi là
con. Mà vì thế nhà bà cụ thành một cái trạm rất vững, nó càn mãi mà không phát
hiện được.
Hán chịu khó, học tập các bạn chiến đấu. Thường thì đi
đêm, nhưng mỗi khi có hỏa tốc, thì cũng phải qua sông, giữa ban ngày ban mặt.
Học kinh nghiệm đồng chí Tiêu, một hôm qua sông, đem
theo ba bốn bó củi nữa. Bất thình lình, giữa dòng, bị hai chiếc Hen-cát quần,
Hán bình tĩnh thả hết bó củi xuống, rồi lặn, bám ngầm lấy một bó. Bốn cái phao,
biết bắn cái nào, nó nhả qua loa mấy băng vô hiệu, rồi đi.
Những đêm ngủ đất tề, chỉ một nửa ngủ, còn một nửa phải
thức, các bạn kể cho Hán nghe những chuyện anh dũng của các đồng chí cũ trong
đơn vị. Chuyện đồng chí Khoa bị giặc đuổi, còn cố chạy qua chỗ giấu xê-vê (tức
là công văn), liếc mắt chỉ cho bạn, rồi phóng ra đồng cho nó bắt. Giặc đánh đồng
chí Khoa thừa sống thiếu chết, để hỏi hành trình của năm trăm tân binh, Khoa nhất
định không nói, và cuối cùng, trốn được về với đơn vị. Chuyện đồng chí Đông bị
bắt cũng không khai, rồi nhân lúc địch rút, leo lên nấp trên trần nhà mà thoát.
Những chuyện làm cho Hán suy nghĩ nhất là chuyện các đồng
chí, qua những miền địch mới đóng, phải hy sinh, tay không đi trước để dò đường
và làm hiệu cho người đeo công văn đi sau. Đồng chí Kiệm hy sinh ở Khoan Lư,
khi giặc tiến công Việt Bắc, đồng chí Thìn khi dẫn đường qua suối Đất, bị địch
bắt, thét lên cho đội hình lùi lại, rồi hy sinh. Lòng nhủ lòng, Hán định bụng, nếu
gặp trường hợp như vậy, Hán cũng nhất định hy sinh vì Tổ quốc.
Công tác mỗi ngày một thêm gân guốc, thêm chí khí cho
Hán. Rút kinh nghiệm của đồng chí Dương Văn Thành đã hy sinh khi vượt sông
Công, đồng chí Tề gánh ba mươi cân mà qua suối Vụ Bản mùa lũ, Hán đi đâu cũng
có sẵn cuộn thừng. Giữ bến đò trong địch hậu, cứu cán bộ nóng nảy vội qua sông,
có hôm chân nứt thì khâu lại mà đi. Hán đã được trung đội tin cẩn, được cùng với
các đồng chí Diện, Duyệt, Hà và Thực làm một tổ phụ trách đưa công văn, chuyển
bộ đội, cán bộ qua đường số 6.
Giặc biết rằng đó là con đường của ta nhất định phải
qua lại, nên nó canh đáo để. Quãng đường một cây số từ Đồng Bến đến Cầu Mè, mà
nó đóng đến hai đồn. Vẫn con đường phía Tây, qua Yên Lập, Suối Rút thật, nhưng
việc binh gấp như lửa, đi vòng thì không được. Cho nên sống chết, anh em vẫn phải
bám lấy con đường quái ác này.
Ban ngày thì "tương đối" dễ, vì leo lên cao, có thể quan sát được đường; nó có phục kích cũng còn có thể phát hiện được. Dù cho thấy nó phục kích nữa, Hát-tê (tức là công văn hỏa tốc), thì men lưng chừng núi mà leo dần sang, cũng còn được. Vả lại, nơi đường cổ họng đó, trên mặt đường, hai bên đường, thường có xác những người bị địch bắn nằm đầy. Đồng chí Kích có kinh nghiệm là vắng bóng người, thì đàn quạ sà xuống moi xác chết, kêu quàng quạc. Nghe tiếng quạ, tức là có thể yên tâm được một tẹo.
Đêm mới ghê gớm! Phải bò qua vùng có những xác người,
rón rén đến gần các ổ phục kích; không thấy gì, thì men xuống đường. Có đội du
kích Mường bảo đảm nơi vượt thật, nhưng, tinh thần trách nhiệm cao, hơi có động,
là các đồng chí phải đóng đường. Đồng bào thì thế là được. Nhưng như thế, thì
làm thế nào bảo đảm được các "hỏa tốc hẹn giờ".
Đêm hôm ấy, không có trăng. Đã là một dấu hiệu tốt. Chúng
nó chưa chắc đã đi phục.
Hán được chỉ định đem công văn trao cho trạm bên kia
đường và hướng dẫn một đoàn cán bộ với một trung đội. Từ chiều, anh đã ra trước
để quan sát. Tình hình như mọi ngày. Tối, đoàn người và công văn đã đến nơi, Hán
kiểm tra một lượt, dặn dò mọi người, rồi trao chứng minh thư của mình cho đồng
đội. Anh rón rén tiến ra phía đường, vừa tiến, vừa nghe ngóng. Tất cả các chỗ địch
vẫn quen nấp, đều đã được soát qua, không có gì. Cẩn thận, anh lên quá một ít,
xuống quá một ít, cũng không thấy gì. Chỉ có mùi xác chết như mọi hôm, mùi mà
dù công tác ở đây bốn tháng rồi, anh vẫn chưa quen được. Mỗi lần ngửi thấy, anh
vẫn cảm như có quả bưởi chẹn lấy cổ, tim nhói như châm kim.
Anh trở lại chỗ nấp, dặn mọi người theo anh sau một trăm
bước. Rồi lại quay ra đường.
Vừa đến mép cỏ, thì ba đứa trong đám xác chết nhổm
lên, vây lấy anh, bảo sẽ: "Im!".
Hán hiểu ngay. Anh im, tức là các đồng chí của anh sẽ
đi vào chỗ chết, công văn sẽ mất. Thoáng một cái, anh nhìn thấy mẹ anh, rồi bà
mẹ nuôi của anh đang quằn quại, anh hét lên một tiếng: "giặc!"... rồi
hy sinh.
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND)
0 comments:
Đăng nhận xét