Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy
Suốt trong thời gian kháng chiến, Tiếng nói Việt Nam vang
vang. Nói thật, thì cũng có ngừng mấy ngày. Ấy là lúc địch tiến công Việt Bắc,
năm 1947. Giặc nó nhảy dù xuống Bắc Kạn, có phá được một cơ sở thông tin của
ta. Ta im mươi hôm, cho nó tưởng ta hết máy rồi.
Đó là những ngày lo lắng nhất, đối với đồng bào miền
xuôi, miền Nam, đồng bào hải ngoại. Địch khoác lác là nhảy dù Bắc Kạn, nhảy dù
Cao Bằng, vươn hai cái càng khổng lồ để ôm lấy cả Việt Bắc. Lực lượng của Đảng,
của nước, là ở trong lòng mỗi người dân khắp nơi trong nước, cả ngoài nước.
Nhưng đồng bào biết rằng Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ, Bộ Tổng
chỉ huy, ở cả Việt Bắc. Mà chính ngày 7 tháng 10, tiếng nói bặt. Lo quá!
Nhưng bên kia, ta thắng địch ở Bông Lau, diệt địch ở Lũng
Phầy; bên này một đoàn học sinh quân đánh cụp cái mũi càng phía Tây lên, ở miền
Đầm Hồng, Bản Ty, làm cho hai càng nó hẹn gặp nhau ở Bản Ty, nhưng trước sau
cũng đến được đó, mà không bao giờ gặp nhau được, nghĩa là không bao giờ thật sự
đóng được vòng vây Việt Bắc mà! Rồi bom nổ tan xác định ở cây số 8 Tuyên Quang,
tàu địch ở sông Lô chìm dưới pháo đạn.
Hôm đài Việt Nam lại lên tiếng, những tin thắng trận ấy
tung cả ra. Bao nhiêu đồng bào dán tai vào máy thu thanh, bấy nhiêu hôm, thổn
thức, hôm nay mừng đến điên lên được.
*
"Đây là Tiếng nói Việt Nam, phát thanh gần Hà Nội,
Thủ đô nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trên hai làn sóng điện 25 và 49 thước...".
Tiếng nói không to lắm, nhưng vang xa, đã thành một tiếng
quen thuộc, như tiếng nói của người thân trong mỗi một gia đình kháng chiến. Tiếng
nói từ đâu phát ra. Đố ai biết. Không ai biết nó ở đâu, mà ai cũng nghe thấy
nó. Cả những người khai sinh ra nó, cũng chỉ gọi nó là CAT thôi.
"Tôi ở CAT ra", "Đồng chí đến công tác ở
CAT". Thật ra, số những người ở CAT ra, hay đi vào CAT, cũng rất ít. Được
đi vào CAT, thì từ biệt các bạn đồng sự, rồi theo người liên lạc đi; ngày trở lại,
không biết là bao giờ. Người ở CAT ra, đi đến phố Chợ Chu, cũng ngẩn người ra:
"Ồ! Chợ Chu là thế này đây à!". Vì từ ngày đi vào, đến ngày đi ra, Chợ
Chu đã đổi hình dạng mấy lần, mà đến hôm chào Chợ Chu để trở lại CAT, thì CAT
đã không còn ở chỗ cũ nữa.
*
Nói chuyện cho có đầu, có đuôi. Thì phải kể gốc tích đài
CAT. CAT là chiếc vô tuyến điện của nhà máy điện Hải Phòng, quân Quốc dân đảng
Tưởng giữ nhà máy. Một cán bộ thông tin ta ăn mặc công nhân vào, mỗi ngày tháo
mang ra một mảnh; qua cửa nó hỏi, thì bảo là đem đi chữa. Đến hôm đủ bộ, nặng
chừng bốn tạ, thì xếp cả xuống một chiếc thuyền máy, vù lên Hà Nội; rồi nữa,
đánh xe lại phải lọt vòng canh của chúng nó lần lên gửi tận Bắc Kạn. Và đến lúc
kháng chiến thì chiếc máy ấy thành máy dự bị số một.
Lúc địch nhảy dù, các công nhân quốc phòng và bộ đội,
một số bố trí chặn đường, cầm cự với giặc giữ luôn mấy hôm, có đồng chí bị
thương nặng mà vẫn không rút. Một số nữa khiêng máy ra đi, nặng là thế, gặp suối
ngập đến cổ, đành phải đội máy trên đầu mà qua. Máy được đem đến đặt ở một chỗ
thật là khỉ ho, cò gáy, tìm trên bản đồ cũng không có tên mà gọi nữa. Cái máy nổ
phát điện đi kèm, cũng có một lịch sử. Anh em gọi nó là cái "máy Võ bị",
vì năm trước, nó đã phục vụ, cung cấp ánh sáng cho Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn ở
Sơn Tây.
Con nhà hiếm, nên cũng lắm bệnh. Mấy cái đèn của cậu,
to bằng cái bát chí yêu, thường chỉ dùng được sáu tháng là cùng. Mà khốn khổ,
mình có vẻn vẹn mỗi một bộ. Anh em đọc quyển sách "Trường kỳ kháng chiến"
của đồng chí Trường Chinh, lại nhìn bộ đèn độc nhất, mà nao nao trong dạ. Máy nổ
cũng chỉ còn vừa vặn một ống xì hơi, nó là một của lạ, bằng thép, bé như ngón
tay út của cô nàng, mà lại phải khoan suốt qua một lỗ nhỏ hơn sợi tóc mây.
Trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, tất cả các máy đi-den ở Đông Dương đã
phải nằm co, vì không có cái ấy. Gớm chưa! Thế mà một đồng chí nguội nhà ta, đã
tìm được trong lòng yêu nước, đủ kỹ thuật, để làm được mấy cái ống như vậy mà
thay đổi. Phụ trách máy phát là một bác phó già, người Công giáo. Bác đã đem tất
cả lòng yêu đời mà yêu chiếc máy, yêu hơn con của bác. Đến nỗi hết phiên việc,
bác đun ấm nước, còn đem đến ngồi bên cạnh máy suốt ngày. Phụ trách máy nổ là một
bác nữa, phục vụ đế quốc ba mươi năm, mà nó vẫn để cho bác còn mù chữ. Một bác thợ
già khác coi hệ thống điện; bác này, trước đây đã hy sinh cho nghề nghiệp một
chiếc tai. Cùng với ba ông già, có bốn năm bạn thợ và chiến sĩ trẻ, toàn là những
người vừa khiêng máy, chữa máy, vừa phá rừng, làm lán, cầm súng xua đuổi hùm
beo. Láng giềng, còn có mấy đồng chí trong bộ phận "Tiếng nói" và một
đơn vị nhỏ bộ đội bảo vệ nữa.
Tất cả, thành một xã hội xã hội chủ nghĩa kháng chiến
nhỏ, ở trong miền núi rừng trùng trùng điệp điệp, cắt đứt liên lạc với gia
đình, với bạn bè, chỉ nối với cấp trên bằng một chú liên lạc độc nhất thôi. Có
một cái phải giải quyết ngay, là mỗi tháng máy ăn chừng tám mươi gánh dầu hỏa.
Trên dọc đường có mấy nhà quen ở những chỗ hẻo lánh. Các nhà ấy, thỉnh thoảng
thấy một bọn gánh dầu đến, rồi mấy hôm sau lại thấy một bọn khác đến gánh đi. Cả
hai bọn đều không gặp mặt nhau lần nào cả. Cái xã hội nhỏ ấy sống hầu như tự
túc về mọi mặt.
Lo xa, cũng đã đặt ở một hướng khác, một đài khác nữa,
đặt tên là LTK, với nhiệm vụ là, nếu CAT có mệnh hệ nào, thì lập tức lên tiếng
tiếp ngay.
Lại còn phái người đi lùng hết trong nước, lặn lội ra nước
ngoài, tìm mua cho lấy được, ít nhất là một bộ đèn nữa. Nhưng thời gian trôi
qua, kỹ thuật cải tiến, không còn có nơi nào người ta sản xuất ra loại đèn cổ
quái ấy nữa rồi.
Cái máy độc nhất, đành chỉ có một bộ đèn độc nhất!
Toàn thể công nhân, chiến sĩ, hạ quyết tâm giữ gìn mấy
chiếc đèn, đồng thời viết lên tường một khẩu hiệu: "Tiếng trong và vang
xa". Tiếng nhỏ bé, nhưng tiếng của Tổ quốc kháng chiến, nhất định phải
trong trẻo, sắc, vang ra xa muôn trùng, nói lên sự hy sinh của nhân dân, sự anh
dũng của quân đội, lời chỉ thị của Đảng, của Chính phủ, làm mạnh lòng tin tưởng
của hàng chục triệu nhà, cả ở bên kia sông Cửu Long, cả ở ngoài trùng dương,
thét vào mặt quân thù nỗi giận của dân tộc, báo cho các bạn quốc tế ta biết rằng:
Việt Nam, dù ở trong vòng vây, vẫn chiến đấu, chiến đấu càng ngày càng mạnh!
*
Nhưng, những hôm trái nắng, giở trời, đèn lên xuống thất
thường. Mệnh hệ viết trong lá số kỹ thuật, chỉ có sáu tháng, mà chốc đã là mấy
năm rồi. Những hôm ấy, là những ngày lo âu. Cả bên chuyên môn, lẫn bên tiếng nói;
cả cái tập thể ấy, đăm đăm theo dõi đèn, lau chỗ mồi chỗ kia. Xúm quanh giường
bệnh; những người gan góc, quyết đem tình yêu cao cả, cưỡng lại số mệnh, giành
lấy sự sống cho chiếc máy quý báu.
Đã hỏa tốc triệu đồng chí Lý Mạnh, người chuyên chữa
các bệnh này, đã họp tất cả anh em, kẻ ít người nhiều, biết đôi chút về máy
móc. Phải cứu lấy đèn! Phải thiết lập một bộ máy dưỡng bệnh cho đèn. Đèn bằng quả
bưởi, mà máy nuôi to bằng cái bàn.
Cuối cùng, "nhân định thắng thiên!". Trên vỏ
đèn còn dán cái lá nhãn "đời sống sáu tháng" nhưng quá sáu năm, mà
đèn vẫn còn sống, vẫn trở lại tỉnh táo. Kỹ thuật cách mạng thắng trận!
Và, đến ngày Đảng và Chính phủ trở về thủ đô, đồng thời
với mấy máy mới, "Chiếc máy không già" ấy, sống bằng chí khí của cuộc
kháng chiến, sơn đã long lở, chắp vá nhằng nhịt, trở về, vẫn tươi, vẫn trẻ, vì
một đội công nhân và chiến sĩ thông tin đã nuôi nó bằng tám năm thanh xuân của
mình.
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND)
0 comments:
Đăng nhận xét