Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy
Địa hình nước ta, dài hơn một nghìn bảy trăm cây số. Phía
Bắc rộng sáu trăm cây số, phía Nam rộng ba trăm năm mươi cây số. Quãng giữa dài
một nghìn cây số, mà có chỗ bề ngang vẻn vẹn năm mươi cây số thôi. Xem thế thì
biết đường bộ giữa Nam và Bắc xa biết chừng nào. Trong khoảng đường dài một
nghìn cây số ấy, còn tám phần mười là núi, núi ra sát đến tận bể.
Địa thế như vậy, mà trong lúc kháng chiến, địch chiếm
vùng Bình - Trị - Thiên, chiếm miền Nam Trung Bộ. Nó lại có bộ binh mạnh, có
không quân và hải quân.
Đảng và Chính phủ lãnh đạo toàn quốc kháng chiến. Như
thế thì việc liên lạc khó khăn biết nhường nào.
Nhất miền Nam Trung Bộ. Đất bằng chỉ có từng dẻo mong
manh và ngắn ngủi. Còn phía Tây, toàn là núi, cao nguyên, rừng rậm, đất đỏ. Đồng
bào Thượng ở cao nguyên tốt lắm, nhưng nhiều chỗ bị chúng nó lừa dối, nhất là bị
khủng bố dữ dội.
Vùng Quảng Ngãi là một nơi phong trào cách mạng rất mạnh;
dù chúng nó đánh từ Thừa Thiên vào, Nha Trang ra, từ Tây Nguyên xuống, mà Quảng
Ngãi vẫn vững, vẫn tự túc được vô số thứ, vẫn đánh càng ngày càng mạnh.
Liên lạc từ Bắc vào, qua Cà Roòng, U Bò, đường số 9, động
Li Hi An Điềm, vào cho được đến Quảng Ngãi, đã khó lắm rồi. Nhưng từ Quảng
Ngãi, tức là Liên khu 5, mà vào tới chiến khu miền Đông Nam Bộ, mới thật là ghê
gớm. Những đội liên lạc dùng ghe thuyền của chúng ta, cực kỳ anh dũng, vượt ra
khơi, tránh tàu giặc, kéo buồm vào Nam, rồi bất thình lình, tạt vào bờ, lách
qua các đội tuần bể, tránh các đèn chiếu của chúng nó, đổ bộ, đem công văn vũ
khí chuyển vào chiến khu. Có lần bắt gặp giặc, không làm sao được nữa, thì tự
đánh chìm, hy sinh. Có lần bị giặc đuổi, lẩn được thì vào bờ, dìm thuyền giấu
tài liệu, vũ khí vào khe đá, nó đi, thì lại mò thuyền tiếp tục đi. Cũng có lần,
nó đuổi gấp, thuyền ta lượn qua các tảng đá ngầm, trong khi chúng nó còn tìm cách
đổ bộ, bắn đuổi theo, ta khiêng cả thuyền lên. Nó vây ở ngoài, chắc mẩm là liên
lạc viên ta nằm trong vó rồi, nhưng suốt đêm ta đã khiêng được thuyền qua núi, thả
xuống đằng sau, và tiếp tục hành trình.
Thật là anh dũng tuyệt vời!
Nhưng cũng chỉ chuyển được một số vũ khí và công văn
thôi. Đưa cán bộ đường ấy thì may rủi quá.
Chuyển cán bộ và công văn, những vũ khí tinh vi, phải
tìm đường khác nữa.
Đường nào? Chỉ còn đường cao nguyên. Ba trăm cây số
núi non, trùng trùng điệp điệp, không có đường, người không quen, tiếng không
biết. Địch lại luôn luôn chọc vào. Thú dữ cũng ủng hộ chúng nó.
Không có đường, nhưng trên tinh thần, cái dây liên lạc
ấy gọi là đường Hồ Chí Minh. Tinh thần Hồ Chí Minh giúp cho liên lạc đặt lấy được
từ Khu 5 đến Khu 6, Khu 7.
Ai có gan đảm đương đường này. Trung đoàn tìm một chiến
sĩ kỳ cựu nhất, nhất là một chiến sĩ bản chất cốt cán, quen gian lao từ nhỏ tới
lớn, từ lúc vào bộ đội đến bây giờ. Đồng chí Cầm. Bé đi ở, lớn làm thợ. Mười tám
tuổi đầu quân, đánh quân Anh, quân Nhật, quân Pháp. Mặt trận vỡ. Cầm làm nhiệm
vụ vác gạo liền mấy tháng. Đơn vị rút lui, Cầm phụ trách chuyển 9 thương binh nặng,
mà giữa rừng mất liên lạc. Hơn một trăm ngày đằng đẵng, không gạo, không muối,
không có tiền, lại cũng không dám đi gặp ai, vì sợ lộ, đồng chí đã kiếm rau, kiếm
củ nuôi bạn, kiếm củi sưởi lúc đêm đông, nhất là giữ vững được tinh thần anh em
cho đến khi tìm được đơn vị.
Sau đó, làm tiểu đội phó trinh sát, lúc địch vây chiến
khu, đã luôn luôn bám sát địch, rồi đưa được Ban chỉ huy ra ngoài vòng vây.
Bao nhiêu bài học gian khổ, kinh nghiệm trinh sát, kinh
nghiệm lãnh đạo, đã rèn cho đồng chí Cầm, để xứng đáng được đơn vị trao cho nhiệm
vụ và vinh dự giữ đường Hồ Chí Minh.
Ba trăm cây số rừng núi - qua những vùng đồng bào hết
sức thưa thớt. Giặc đã phái vào đó hoạt động, những tên cáo già trong nghề thuộc
địa, chúng nó đã treo giải thưởng lấy đầu bộ đội ta, từ năm trăm đến hai ngàn đồng
bạc trắng. Chúng nó phục kích, dử dân, bắt dân đi phục kích, làm cho mấy đồng
chí chúng ta đã hy sinh.
Anh em trên đường, một số đâm gờm, thấy người thì chực
bắn, sợ bị lộ. Trước đây thực dân đã gây và nuôi mãi những mâu thuẫn giữa người
Thượng và người Kinh. Bây giờ mà lại bắn bừa thế, thì thế nào?
Làm cán bộ phụ trách đường, Cầm thấy là mình phải có
nhiệm vụ đi công tác với anh em, đã chắc là gian khổ hơn chuyện ở nhà mà tổ chức
rồi, nhưng có như thế mới sát anh em; chia phần khó khăn và nắm vững được tình hình
nội bộ, thuyết phục được anh em, để tránh những cử động sai lầm.
Cứ kể, đi cật lực, mà đeo nhẹ, thì mỗi chuyến mất chín
ngày. Nhưng... ngoài công văn còn chuyển vũ khí. Lại còn đèo chín ngày gạo để
ăn đường nữa chứ. Có khi chuyển cả những hòm tiền nặng nữa. Thôi thì gùi, cõng,
vác, khiêng, đeo lịu địu quanh mình. Mà lại cứ phải đi đường vòng; đi đường
quang, gần làng, lại sợ lộ, địch nó theo dõi. Làm quân nhân, gặp địch, có vũ
khí trong tay, mà cứ phải lủi, thật là tức bực; nhưng anh em nhớ nhiệm vụ chuyển
vũ khí của người giao thông. Vũ khí này phải chuyển vào cực Nam, hay miền Đông,
trao tận tay cho anh em các khu trong đó. Càng đi vòng vào các nẻo sâu, thì lại
hay va phải voi, đụng phải cọp. Bụng đói, chỉ một phát đạn thôi cũng no được mấy
bữa. Nhưng cứ phải nhịn. Ních chặt dây lưng lại. Gạo một ngày phải để ăn bốn
năm ngày. Ăn đói mà lại vác nặng! Có lần tránh địch, phải đi vòng đến mười bốn
ngày, đói quá, lả đi. Bốn đồng chí đặt gánh nặng xuống, không đứng lên được nữa,
thở hắt ra, nằm lại trên con đường đau khổ nhưng vinh quang của kháng chiến. Chỉ
ba ngày nữa là tới đích thôi, mới chua xót chứ.
Làm đội trưởng, Cầm còn mệt hơn mọi người. Lúc này,
cái danh nghĩa là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương, đã làm cho đồng chí nhỏm
dậy, đi kiếm củ cho anh em ăn đỡ đói mà chờ đấy. Một mình dấn lên, hái lá, gặm
vỏ cây, cố đến được đơn vị, để yêu cầu người đi đón chuyến hàng.
Những lần đưa cán bộ, tuy mang nhẹ hơn, nhưng gian nan
cũng không kém. Địch lùng càng ráo riết, phần lớn phải đi đêm, bằng những nẻo
thật bí mật. Thôi thì vượt suối mùa lũ, đóng bè, xuống ghềnh, qua thác. Tắc vì
địch, tắc vì nước lên, có lần chịu đói ở hốc núi sáu, bảy ngày. Cán bộ, phần
nhiều yếu, ai nấy dọc đường đều được đồng chí Cầm săn sóc chu đáo.
Công tác khắc khổ đã rèn cho đồng chí Cầm càng thêm vững
chắc, mà đồng chí Cầm cũng rèn cho anh em trong đội thành những chiến sĩ xương
sắt, da đồng; qua những thử thách trên đường, đồng chí đã nhìn thấy những đức
tính tốt đẹp trong mỗi người, đồng chí để tâm tuyên truyền giáo dục, rồi đi đến
thành lập được chi bộ, phát triển được đến mười lăm đảng viên.
Lý tưởng của Đảng làm cho công tác của cái chi bộ trên
đường ấy, ngày càng phong phú hơn. Bắt đầu gây cơ sở trong đồng bào Tây Nguyên
men đường. Trước kia, ai thấy bộ đội cũng chạy. Nhưng đã tranh thủ được mấy người
thanh niên, rồi dần dà nói rõ chính sách với nhân dân, đưa những người sơ tán
trở lại làng làm ăn. Đồng bào không có nông cụ, anh em xuống tận bờ bể, bẩy đường
sắt, đem về cho đồng bào. Suốt dọc đường, thế là có cơ sở. Con đường có dân, từ
rày mới thật là đường Hồ Chí Minh.
Địch biết, nó vẫn thường tiến công, cắt đường, nhiều độ
cạn lương. Cầm lãnh đạo anh em tăng gia sản xuất, tự túc thứ ăn được đến hai
năm, các đoàn cán bộ ra vào, cũng đều được giúp đỡ.
Mười bốn lần, giặc cắt đường, năm lần giặc vây quét. Nhưng
đường đứt, đồng chí Cầm lại nối lại; vây quét, anh em lại gây lại cơ sở. Bảy
mươi đoàn cán bộ từ Bắc vào, từ Nam ra, đều đi được trót lọt.
Đồng chí Cầm lại được cử lập một đội vũ trang tuyên truyền,
hoạt động rộng ra hai bên đường. Bắt đầu bày cho dân sống vệ sinh cho đỡ bệnh tật,
rồi tăng gia mạnh cho đời sống đủ no. Từ chỗ chạy Tây, đến đưa dân đi đánh Tây
bằng bẫy, bằng tên nỏ thuốc độc, làm ngụy vận, kêu gọi được hơn trăm hội tề và
lính dõng về hàng, bắt mấy chục tên phản động. Suốt các xã trên đường, đều đã
có tổ chức dân quân.
Con đường liên lạc Nam - Bắc đã mở rộng thênh thang
trong lòng nhân dân Tây Nguyên từ đó.
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND)
0 comments:
Đăng nhận xét