19.7.25

CAT

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Suốt trong thời gian kháng chiến, Tiếng nói Việt Nam vang vang. Nói thật, thì cũng có ngừng mấy ngày. Ấy là lúc địch tiến công Việt Bắc, năm 1947. Giặc nó nhảy dù xuống Bắc Kạn, có phá được một cơ sở thông tin của ta. Ta im mươi hôm, cho nó tưởng ta hết máy rồi.

Đó là những ngày lo lắng nhất, đối với đồng bào miền xuôi, miền Nam, đồng bào hải ngoại. Địch khoác lác là nhảy dù Bắc Kạn, nhảy dù Cao Bằng, vươn hai cái càng khổng lồ để ôm lấy cả Việt Bắc. Lực lượng của Đảng, của nước, là ở trong lòng mỗi người dân khắp nơi trong nước, cả ngoài nước. Nhưng đồng bào biết rằng Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ, Bộ Tổng chỉ huy, ở cả Việt Bắc. Mà chính ngày 7 tháng 10, tiếng nói bặt. Lo quá!

Nhưng bên kia, ta thắng địch ở Bông Lau, diệt địch ở Lũng Phầy; bên này một đoàn học sinh quân đánh cụp cái mũi càng phía Tây lên, ở miền Đầm Hồng, Bản Ty, làm cho hai càng nó hẹn gặp nhau ở Bản Ty, nhưng trước sau cũng đến được đó, mà không bao giờ gặp nhau được, nghĩa là không bao giờ thật sự đóng được vòng vây Việt Bắc mà! Rồi bom nổ tan xác định ở cây số 8 Tuyên Quang, tàu địch ở sông Lô chìm dưới pháo đạn.

Hôm đài Việt Nam lại lên tiếng, những tin thắng trận ấy tung cả ra. Bao nhiêu đồng bào dán tai vào máy thu thanh, bấy nhiêu hôm, thổn thức, hôm nay mừng đến điên lên được.

*

"Đây là Tiếng nói Việt Nam, phát thanh gần Hà Nội, Thủ đô nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trên hai làn sóng điện 25 và 49 thước...".

Tiếng nói không to lắm, nhưng vang xa, đã thành một tiếng quen thuộc, như tiếng nói của người thân trong mỗi một gia đình kháng chiến. Tiếng nói từ đâu phát ra. Đố ai biết. Không ai biết nó ở đâu, mà ai cũng nghe thấy nó. Cả những người khai sinh ra nó, cũng chỉ gọi nó là CAT thôi.

"Tôi ở CAT ra", "Đồng chí đến công tác ở CAT". Thật ra, số những người ở CAT ra, hay đi vào CAT, cũng rất ít. Được đi vào CAT, thì từ biệt các bạn đồng sự, rồi theo người liên lạc đi; ngày trở lại, không biết là bao giờ. Người ở CAT ra, đi đến phố Chợ Chu, cũng ngẩn người ra: "Ồ! Chợ Chu là thế này đây à!". Vì từ ngày đi vào, đến ngày đi ra, Chợ Chu đã đổi hình dạng mấy lần, mà đến hôm chào Chợ Chu để trở lại CAT, thì CAT đã không còn ở chỗ cũ nữa.

*

Nói chuyện cho có đầu, có đuôi. Thì phải kể gốc tích đài CAT. CAT là chiếc vô tuyến điện của nhà máy điện Hải Phòng, quân Quốc dân đảng Tưởng giữ nhà máy. Một cán bộ thông tin ta ăn mặc công nhân vào, mỗi ngày tháo mang ra một mảnh; qua cửa nó hỏi, thì bảo là đem đi chữa. Đến hôm đủ bộ, nặng chừng bốn tạ, thì xếp cả xuống một chiếc thuyền máy, vù lên Hà Nội; rồi nữa, đánh xe lại phải lọt vòng canh của chúng nó lần lên gửi tận Bắc Kạn. Và đến lúc kháng chiến thì chiếc máy ấy thành máy dự bị số một.

Lúc địch nhảy dù, các công nhân quốc phòng và bộ đội, một số bố trí chặn đường, cầm cự với giặc giữ luôn mấy hôm, có đồng chí bị thương nặng mà vẫn không rút. Một số nữa khiêng máy ra đi, nặng là thế, gặp suối ngập đến cổ, đành phải đội máy trên đầu mà qua. Máy được đem đến đặt ở một chỗ thật là khỉ ho, cò gáy, tìm trên bản đồ cũng không có tên mà gọi nữa. Cái máy nổ phát điện đi kèm, cũng có một lịch sử. Anh em gọi nó là cái "máy Võ bị", vì năm trước, nó đã phục vụ, cung cấp ánh sáng cho Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn ở Sơn Tây.

Con nhà hiếm, nên cũng lắm bệnh. Mấy cái đèn của cậu, to bằng cái bát chí yêu, thường chỉ dùng được sáu tháng là cùng. Mà khốn khổ, mình có vẻn vẹn mỗi một bộ. Anh em đọc quyển sách "Trường kỳ kháng chiến" của đồng chí Trường Chinh, lại nhìn bộ đèn độc nhất, mà nao nao trong dạ. Máy nổ cũng chỉ còn vừa vặn một ống xì hơi, nó là một của lạ, bằng thép, bé như ngón tay út của cô nàng, mà lại phải khoan suốt qua một lỗ nhỏ hơn sợi tóc mây. Trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, tất cả các máy đi-den ở Đông Dương đã phải nằm co, vì không có cái ấy. Gớm chưa! Thế mà một đồng chí nguội nhà ta, đã tìm được trong lòng yêu nước, đủ kỹ thuật, để làm được mấy cái ống như vậy mà thay đổi. Phụ trách máy phát là một bác phó già, người Công giáo. Bác đã đem tất cả lòng yêu đời mà yêu chiếc máy, yêu hơn con của bác. Đến nỗi hết phiên việc, bác đun ấm nước, còn đem đến ngồi bên cạnh máy suốt ngày. Phụ trách máy nổ là một bác nữa, phục vụ đế quốc ba mươi năm, mà nó vẫn để cho bác còn mù chữ. Một bác thợ già khác coi hệ thống điện; bác này, trước đây đã hy sinh cho nghề nghiệp một chiếc tai. Cùng với ba ông già, có bốn năm bạn thợ và chiến sĩ trẻ, toàn là những người vừa khiêng máy, chữa máy, vừa phá rừng, làm lán, cầm súng xua đuổi hùm beo. Láng giềng, còn có mấy đồng chí trong bộ phận "Tiếng nói" và một đơn vị nhỏ bộ đội bảo vệ nữa.

Tất cả, thành một xã hội xã hội chủ nghĩa kháng chiến nhỏ, ở trong miền núi rừng trùng trùng điệp điệp, cắt đứt liên lạc với gia đình, với bạn bè, chỉ nối với cấp trên bằng một chú liên lạc độc nhất thôi. Có một cái phải giải quyết ngay, là mỗi tháng máy ăn chừng tám mươi gánh dầu hỏa. Trên dọc đường có mấy nhà quen ở những chỗ hẻo lánh. Các nhà ấy, thỉnh thoảng thấy một bọn gánh dầu đến, rồi mấy hôm sau lại thấy một bọn khác đến gánh đi. Cả hai bọn đều không gặp mặt nhau lần nào cả. Cái xã hội nhỏ ấy sống hầu như tự túc về mọi mặt.

Lo xa, cũng đã đặt ở một hướng khác, một đài khác nữa, đặt tên là LTK, với nhiệm vụ là, nếu CAT có mệnh hệ nào, thì lập tức lên tiếng tiếp ngay.

Lại còn phái người đi lùng hết trong nước, lặn lội ra nước ngoài, tìm mua cho lấy được, ít nhất là một bộ đèn nữa. Nhưng thời gian trôi qua, kỹ thuật cải tiến, không còn có nơi nào người ta sản xuất ra loại đèn cổ quái ấy nữa rồi.

Cái máy độc nhất, đành chỉ có một bộ đèn độc nhất!

Toàn thể công nhân, chiến sĩ, hạ quyết tâm giữ gìn mấy chiếc đèn, đồng thời viết lên tường một khẩu hiệu: "Tiếng trong và vang xa". Tiếng nhỏ bé, nhưng tiếng của Tổ quốc kháng chiến, nhất định phải trong trẻo, sắc, vang ra xa muôn trùng, nói lên sự hy sinh của nhân dân, sự anh dũng của quân đội, lời chỉ thị của Đảng, của Chính phủ, làm mạnh lòng tin tưởng của hàng chục triệu nhà, cả ở bên kia sông Cửu Long, cả ở ngoài trùng dương, thét vào mặt quân thù nỗi giận của dân tộc, báo cho các bạn quốc tế ta biết rằng: Việt Nam, dù ở trong vòng vây, vẫn chiến đấu, chiến đấu càng ngày càng mạnh!

*

Nhưng, những hôm trái nắng, giở trời, đèn lên xuống thất thường. Mệnh hệ viết trong lá số kỹ thuật, chỉ có sáu tháng, mà chốc đã là mấy năm rồi. Những hôm ấy, là những ngày lo âu. Cả bên chuyên môn, lẫn bên tiếng nói; cả cái tập thể ấy, đăm đăm theo dõi đèn, lau chỗ mồi chỗ kia. Xúm quanh giường bệnh; những người gan góc, quyết đem tình yêu cao cả, cưỡng lại số mệnh, giành lấy sự sống cho chiếc máy quý báu.

Đã hỏa tốc triệu đồng chí Lý Mạnh, người chuyên chữa các bệnh này, đã họp tất cả anh em, kẻ ít người nhiều, biết đôi chút về máy móc. Phải cứu lấy đèn! Phải thiết lập một bộ máy dưỡng bệnh cho đèn. Đèn bằng quả bưởi, mà máy nuôi to bằng cái bàn.

Cuối cùng, "nhân định thắng thiên!". Trên vỏ đèn còn dán cái lá nhãn "đời sống sáu tháng" nhưng quá sáu năm, mà đèn vẫn còn sống, vẫn trở lại tỉnh táo. Kỹ thuật cách mạng thắng trận!

Và, đến ngày Đảng và Chính phủ trở về thủ đô, đồng thời với mấy máy mới, "Chiếc máy không già" ấy, sống bằng chí khí của cuộc kháng chiến, sơn đã long lở, chắp vá nhằng nhịt, trở về, vẫn tươi, vẫn trẻ, vì một đội công nhân và chiến sĩ thông tin đã nuôi nó bằng tám năm thanh xuân của mình.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND) 

18.7.25

Chiến sĩ chuyển đạt

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Người cán bộ thông tin, trong tay nắm năm ba thứ phương tiện. Nhưng cũng có lúc chiến đấu gay go, cần vô tuyến điện gãy, máy bị phá, bộ đàm viên hy sinh, bom đạn đã cắt đường dây năm bảy đoạn, không nối kịp nữa. Mà tình hình phải liên lạc, cấp trên chờ một báo cáo mãi chưa đến, hay có một mệnh lệnh không thể đợi được nữa, cấp dưới có đề nghị bức thiết. Lúc ấy, là lúc chiến sĩ chuyển đạt ra trận.

Đi nhiều người thì hy sinh vô ích, anh từ chiến hào, một mình bò lên; tay nắm tiểu liên, nhưng anh có một nhiệm vụ quan trọng hơn nhiệm vụ bắn giặc. Anh không thể hy sinh, vì hy sinh trước khi truyền được lệnh, thì dù hy sinh rồi, mà vẫn còn chưa là làm hết nhiệm vụ. Anh lợi dụng địa hình, nấp sau ụ đất, nghiên cứu làn đạn địch, quy luật đạn đại bác rơi, thoắt chồm lên, chạy một quãng ngắn, nằm xẹp xuống, bò chỗ có thể bò, tiện dốc thì lăn nhanh, chơi hú tim với cái chết, mà nhất định phải sống; trong trận địa tơi bời, anh phải tìm cho được người nhận lệnh, lấy báo cáo, nhẩm cho nhớ, rồi trở về.

Thành là một chuyển đạt viên như vậy.

Trên hàng trận, đạn réo, bom nổ. Đại đội mũi dùi đánh lên hơn một giờ rồi, liên lạc đứt; nửa tiểu đội điện thoại lên nối, không thấy thông mà không thông thì cố nhiên không ai về. Địch đã bắn chặn một màn đạn, tách đại đội với chủ lực.

Lệnh gọi Thành, Trung đoàn trưởng đưa cho mảnh giấy:

- Đưa đại đội Một. Đồng chí đi!

Vắn tắt như thế thôi. Thành thấy trong mắt đồng chí chỉ huy, tất cả hy vọng, tất cả lòng thiết tha và tin tưởng của một đồng chí đối với một đồng chí.

Anh bỏ ra gần chỗ màn đạn đại bác nổ, chui lỏn vào một hố đạn, tìm được một kẽ ngách, xông lên. Nhưng lại phải nằm, vì một đại liên giặc, có lẽ thấy người phía sau lên, nó cứ quét đi quét lại. Nhân lúc nó quét sang bên phải, anh nhảy vọt đến sau một cái mả, rồi rạch theo sau một con bờ, đến dần chỗ bộ đội ta đang nằm bắn trong những hố cá nhân đào vội vã. Bình tĩnh đoán xem đại đội trưởng ở đâu, anh rạch đến, vừa rạch, vừa đẩy chiếc ba lô lên phía trước. Đồng chí chính trị viên đại đội vội viết:

- "Chúng tôi còn sức đánh lên, nhưng xin trung đoàn đánh vào phía bên phải".

Bò về, khó hơn đi, vì chiếc ba lô đã không được việc gì nữa. Được nửa đường, anh thấy chân trái không co lên được, bị đạn rồi. Anh sờ xem mảnh giấy báo cáo có còn ở túi bên trái không. Rồi tiếp tục tiến lên; không rạch được nữa, Thành dùng tay bám lấy đất mà nhoài. Chiếc chân vô dụng, đã nặng như quả tạ. Lại thấy nhói ở sườn bên phải. Nhưng gần đến nơi rồi, hãy về đã... - Lăn vào giao thông hào, mặt anh xám ngoét đi. Mấy đồng chí dìu anh đến chỉ huy sở. Thành cố đứng nghiêm, đặt tay lên túi bên trái, mồm mấp máy, rồi từ từ ngã sấp mặt...

Trên quả tim của đồng chí Thành, tìm thấy tờ báo cáo. Đồng chí đã hoàn thành nhiệm vụ.

*

Phía trên, giặc chiếm Bắc Kạn; phía dưới giặc ở Đa Phúc. Đại Từ nghe thấy cả tiếng đại bác từ Chợ Mới dội xuống, từ núi Đôi vang lên. Khu tự do không rộng mấy nữa. Nó đánh sang Sơn Tây, đóng Hoàng Bình, chẹn Đồn Vàng. Phía đông giữ Bắc Ninh, trấn Cẩm Lý, bến Tắm, Đông Triều. Thế là cắt đường đi Thanh - Nghệ, tách Khu 2, Khu 3 khỏi Việt Bắc rồi.

Lúc này chính là lúc phong trào du kích phải phát triển, phải được lãnh đạo. Những con đường chuyển đạt trở nên những mạch máu róc rách, chảy được qua cả những vết thương chí tử.

Đường chuyển đạt Khu 3, Khu 4, qua Sơn Tây; làm thế nào mà vẫn phải giữ cho vững. Phải giữ vững bến Hồng Hà. Phải sang sông lúc mọi người đi ngủ, rồi đi một mạch qua những vùng tề, Việt gian, tôn giáo phản động đặc như mắc cửi; trước khi trời sáng, làm sao phải đi quá núi Ba Vì, đến được vùng tề tương đối biết điều.

Rồi việc canh phòng của chúng nó ráo riết hơn, con đường lại phải quật sang phía Đông. Phải nghiên cứu, gây cơ sở, từ Bắc Giang lọt vào hướng bến Tắm, men đường cách đồn Đông Triều hai trăm thước, trèo núi Yên Phụ, qua bốn con sông, rồi vượt đường số 5, để đến các căn cứ du kích.

Sáu tháng sau, chúng nó phục kích liên miên trên đường, càn quét hai bên. Tuy vẫn còn có đêm qua được, nhưng không thể để cho đường công văn bị may rủi, lại phải quay sang phía Tây. Từ sông Bứa, vào Đồn Vàng, rồi ra bến Đề Thám, sang sông phía Chẹ, lần vào suối Đất, lại vượt đường số 6, lách đến Kim Bôi, Hạ Bì, để vào Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, sang Hải Dương. Dân Mường chất phác, nhưng một số lớn bị giặc đánh lừa. Núi rậm rì, suối rộng, trên đường gạo khan quá đỗi. Rồi đến một độ, đường số 6 cũng bị tắc nốt.

Phải ngược lên tận Yên Lập, qua Kẽm Hem. Có lần phải qua Sống Trâu, tạt Suối Rút, rồi mới đến Nho Quan được.

Qua bên này, vật sang bên kia, đói khát, vắt rừng, biệt kích, ra đi cả ngày mồng một Tết, vượt đường cả những hôm đường đã báo động, để chạy công văn hẹn giờ. Vượt đường đã thành một chiến thuật có những quy luật tinh vi, qua sông bằng phao, qua suối bằng dây, trong gần một năm trời, mỗi ngày chỉ một bát ngô; hy sinh nhiều đồng chí, nhưng làm tròn nhiệm vụ chuyển đạt đường trường.

Chỉ có một lần, trên sông Bứa, mất một chuyến công văn. Chỉ một lần thôi, nhưng cho đến bây giờ, anh em vẫn còn ân hận.

Hán là học sinh Hà Nội, học trường Bưởi. Anh thuộc cái loại, trên tàu điện, hay gây gổ với bọn học sinh Pháp trường Sa Rô. Thủ đô kháng chiến, Hán không làm thế nào mà đành theo mẹ đi tản cư được. Anh xin đầu quân. Không biết gì sâu sắc, nhưng tưởng tượng rằng toàn quyền, thống sứ lại trở lại bệ vệ ở Hà Nội, đội sếp Tây lại hống hách trên vỉa hè; cái cảnh ấy, anh không sao chịu nổi nữa.

Cầm khẩu súng cũng oai phong lẫm liệt, nhưng anh thích làm bộ đội chuyển đạt, vì nghĩ rằng: Cái ca-lô đội lệch một bên, xắc cốt lủng lẳng, anh cũng kháng chiến được, mà vẫn được đi đó đi đây, nay con đường này, mai con đường khác. Đi hết đầu sông ngọn nguồn, nhưng ghé vào những cửa hàng dưới gốc đa, làm bát nước, hút điếu thuốc, chẳng kém gì thi vị. Cuối tháng, mấy đồng bạc, nhưng cũng hả được một tý, mời bè, mời bạn, rồi còn dành được một cốc cà phê đặc.

Thế nhưng rồi, địch đánh lan ra. Đi toàn những đường mòn. Năm thì, mười họa, có một quãng đường lớn, nhưng vì giữ bí mật, lại không được lê la vào hàng; cứ phải đi một đỗi xa, mới giở ống tre ra, tợp một ngụm nước suối. Cái ca-lô vẫn là dưới gối đầu, bây giờ đã đổi lấy chiếc nón mê, "tiện y" củ nâu đã thay bộ quân phục, tuy bằng vải to, nhưng cũng còn nhuộm màu ka-ki. Cắp nón ra đi, mỗi buổi tinh sương hay mỗi lúc nhá nhem tối, cái bị cói càng ngày càng nặng hơn, giờ quy định phải đến chỗ "hợp điểm" hay "trạm tiếp sức", mỗi giờ phải cuốc cho được sáu cây số vận hành, tinh thần phải chuẩn bị để một mình giải quyết mọi khó khăn, tột bậc cũng chỉ có hai quả lựu đạn trong đáy bị; những nền nếp chặt chẽ của một con đường có tổ chức, đã rèn cho Hán thành một thanh niên đen đủi và cứng rắn dần dần.

Năm 1949, tình hình lương thực khó khăn. Trung đội của Hán đóng giữa vòng vây, trong núi, không có cách nào tiếp tế được; có được tiền cũng không có gạo đâu mà mua. Ngô với sắn cũng hiếm. Ai đi công tác, thì lĩnh một ngày một bát ngô rang hay bung từ tối hôm trước. Ai không đi công tác, thì leo lên sườn Ba Vì mua bắp. Trong điều kiện khó khăn ấy, Hán thấy mình gắn với tập thể trung đội. Trong khi gia đình không còn biết ở đâu nữa, thì những anh Hồi, anh Huyến, anh Mục, anh Tân đã thành ra những người cùng máu mủ của hắn rồi. Đi công tác về, tăng gia ráo riết để cải thiện, Hán cũng đã quen tay lao động.

Chỉ còn một nỗi là người tỉnh, Hán vẫn không dễ gần những người "nhà quê". Một đêm, khi đường đã chuyển, cùng với các đồng chí, Hán vượt đường số 5, đến một làng tề, ba giờ sáng mới đến một cơ sở. Mệt quá. Chị chủ nhà nhận canh hộ, mọi người ngủ lăn ra. Chị này rách rưới, nhà cũng lụp xụp, nên Hán vẫn coi nhẹ nhàng.

Bỗng tiếng chị gọi gấp:

- Tây vây kín làng rồi.

Mắt nhắm, mắt mở, anh em còn luống cuống, nhưng chị đã nhặt các túi công văn đem đi giấu, cầm súng lục dúi cho anh em, phân phối cho hai người yếu nhất xuống hầm, rồi dẫn đầu cho bốn anh khỏe mạnh tìm đường hẻm vượt vòng vây.

Từ hôm ấy, Hán không còn coi thường những người áo vá nữa.

Cùng với đồng chí Hà, Hán được phân công đến lập trạm "hợp điểm" giữa vùng địch chiếm, gần chỗ ba con đường gặp nhau. Tìm mãi mới được chỗ tốt. Một cái nhà chơ vơ, đi lại không ai biết, mà địch đến phía nào cũng có lối rút. Khổ một nỗi, bà cụ chủ nhà cứ nằng nặc không cho, cụ ngại rằng địch càn không ngớt, mà chứa người lạ mặt thì nguy hiểm quá. Hán xin ở tạm lại vài hôm, rồi thức khuya dậy sớm, như bà cụ, đi chăn trâu, cắt cỏ, vớt bèo chả khác gì con cụ vậy. Bà cụ thương, mà Hán cũng cảm động, được cụ gọi là con. Mà vì thế nhà bà cụ thành một cái trạm rất vững, nó càn mãi mà không phát hiện được.

Hán chịu khó, học tập các bạn chiến đấu. Thường thì đi đêm, nhưng mỗi khi có hỏa tốc, thì cũng phải qua sông, giữa ban ngày ban mặt.

Học kinh nghiệm đồng chí Tiêu, một hôm qua sông, đem theo ba bốn bó củi nữa. Bất thình lình, giữa dòng, bị hai chiếc Hen-cát quần, Hán bình tĩnh thả hết bó củi xuống, rồi lặn, bám ngầm lấy một bó. Bốn cái phao, biết bắn cái nào, nó nhả qua loa mấy băng vô hiệu, rồi đi.

Những đêm ngủ đất tề, chỉ một nửa ngủ, còn một nửa phải thức, các bạn kể cho Hán nghe những chuyện anh dũng của các đồng chí cũ trong đơn vị. Chuyện đồng chí Khoa bị giặc đuổi, còn cố chạy qua chỗ giấu xê-vê (tức là công văn), liếc mắt chỉ cho bạn, rồi phóng ra đồng cho nó bắt. Giặc đánh đồng chí Khoa thừa sống thiếu chết, để hỏi hành trình của năm trăm tân binh, Khoa nhất định không nói, và cuối cùng, trốn được về với đơn vị. Chuyện đồng chí Đông bị bắt cũng không khai, rồi nhân lúc địch rút, leo lên nấp trên trần nhà mà thoát.

Những chuyện làm cho Hán suy nghĩ nhất là chuyện các đồng chí, qua những miền địch mới đóng, phải hy sinh, tay không đi trước để dò đường và làm hiệu cho người đeo công văn đi sau. Đồng chí Kiệm hy sinh ở Khoan Lư, khi giặc tiến công Việt Bắc, đồng chí Thìn khi dẫn đường qua suối Đất, bị địch bắt, thét lên cho đội hình lùi lại, rồi hy sinh. Lòng nhủ lòng, Hán định bụng, nếu gặp trường hợp như vậy, Hán cũng nhất định hy sinh vì Tổ quốc.

Công tác mỗi ngày một thêm gân guốc, thêm chí khí cho Hán. Rút kinh nghiệm của đồng chí Dương Văn Thành đã hy sinh khi vượt sông Công, đồng chí Tề gánh ba mươi cân mà qua suối Vụ Bản mùa lũ, Hán đi đâu cũng có sẵn cuộn thừng. Giữ bến đò trong địch hậu, cứu cán bộ nóng nảy vội qua sông, có hôm chân nứt thì khâu lại mà đi. Hán đã được trung đội tin cẩn, được cùng với các đồng chí Diện, Duyệt, Hà và Thực làm một tổ phụ trách đưa công văn, chuyển bộ đội, cán bộ qua đường số 6.

Giặc biết rằng đó là con đường của ta nhất định phải qua lại, nên nó canh đáo để. Quãng đường một cây số từ Đồng Bến đến Cầu Mè, mà nó đóng đến hai đồn. Vẫn con đường phía Tây, qua Yên Lập, Suối Rút thật, nhưng việc binh gấp như lửa, đi vòng thì không được. Cho nên sống chết, anh em vẫn phải bám lấy con đường quái ác này.

Ban ngày thì "tương đối" dễ, vì leo lên cao, có thể quan sát được đường; nó có phục kích cũng còn có thể phát hiện được. Dù cho thấy nó phục kích nữa, Hát-tê (tức là công văn hỏa tốc), thì men lưng chừng núi mà leo dần sang, cũng còn được. Vả lại, nơi đường cổ họng đó, trên mặt đường, hai bên đường, thường có xác những người bị địch bắn nằm đầy. Đồng chí Kích có kinh nghiệm là vắng bóng người, thì đàn quạ sà xuống moi xác chết, kêu quàng quạc. Nghe tiếng quạ, tức là có thể yên tâm được một tẹo.

Đêm mới ghê gớm! Phải bò qua vùng có những xác người, rón rén đến gần các ổ phục kích; không thấy gì, thì men xuống đường. Có đội du kích Mường bảo đảm nơi vượt thật, nhưng, tinh thần trách nhiệm cao, hơi có động, là các đồng chí phải đóng đường. Đồng bào thì thế là được. Nhưng như thế, thì làm thế nào bảo đảm được các "hỏa tốc hẹn giờ".

Đêm hôm ấy, không có trăng. Đã là một dấu hiệu tốt. Chúng nó chưa chắc đã đi phục.

Hán được chỉ định đem công văn trao cho trạm bên kia đường và hướng dẫn một đoàn cán bộ với một trung đội. Từ chiều, anh đã ra trước để quan sát. Tình hình như mọi ngày. Tối, đoàn người và công văn đã đến nơi, Hán kiểm tra một lượt, dặn dò mọi người, rồi trao chứng minh thư của mình cho đồng đội. Anh rón rén tiến ra phía đường, vừa tiến, vừa nghe ngóng. Tất cả các chỗ địch vẫn quen nấp, đều đã được soát qua, không có gì. Cẩn thận, anh lên quá một ít, xuống quá một ít, cũng không thấy gì. Chỉ có mùi xác chết như mọi hôm, mùi mà dù công tác ở đây bốn tháng rồi, anh vẫn chưa quen được. Mỗi lần ngửi thấy, anh vẫn cảm như có quả bưởi chẹn lấy cổ, tim nhói như châm kim.

Anh trở lại chỗ nấp, dặn mọi người theo anh sau một trăm bước. Rồi lại quay ra đường.

Vừa đến mép cỏ, thì ba đứa trong đám xác chết nhổm lên, vây lấy anh, bảo sẽ: "Im!".

Hán hiểu ngay. Anh im, tức là các đồng chí của anh sẽ đi vào chỗ chết, công văn sẽ mất. Thoáng một cái, anh nhìn thấy mẹ anh, rồi bà mẹ nuôi của anh đang quằn quại, anh hét lên một tiếng: "giặc!"... rồi hy sinh.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND) 

16.7.25

Binh chủng Thông tin liên lạc tổ chức Hội nghị Quân chính 6 tháng đầu năm 2025

Sáng 16-7, Binh chủng Thông tin liên lạc tổ chức Hội nghị Quân chính 6 tháng đầu năm 2025. Thiếu tướng Vũ Viết Hoàng, Tư lệnh Binh chủng chủ trì hội nghị.

Dự hội nghị có Thiếu tướng Nguyễn Văn Trị, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Binh chủng Thông tin liên lạc.

Các đại biểu tham dự hội nghị.

Báo cáo trung tâm tại hội nghị nêu rõ: 6 tháng đầu năm 2025, Binh chủng Thông tin liên lạc quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, nhiệm vụ cấp trên giao và nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ của Đảng ủy Binh chủng. Vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng đối với mọi hoạt động của đơn vị được giữ vững, tăng cường, nội bộ đoàn kết, thống nhất. Tổ chức Đại hội Đảng các cấp bảo đảm chặt chẽ, đúng nguyên tắc, chất lượng tốt.

Bên cạnh đó, tích cực, chủ động tham mưu, đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về quy hoạch, phát triển hệ thống và thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về thông tin liên lạc quân sự; báo cáo Bộ Quốc phòng chủ trương triển khai mạng thông tin di động quân sự dùng riêng, mạng truyền dẫn băng rộng. Điều chỉnh tổ chức bảo đảm thông tin liên lạc cho cơ quan quân sự địa phương khi tổ chức bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp.

Thiếu tướng Vũ Viết Hoàng phát biểu tại hội nghị.

Phát biểu tại hội nghị, Thiếu tướng Vũ Viết Hoàng khẳng định, toàn Binh chủng Thông tin liên lạc đã duy trì, thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ trên tất cả các mặt công tác. Trong đó, bảo đảm tốt thông tin liên lạc, truyền hình cho các lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo, dịp lễ, Tết và các sự kiện chính trị quan trọng, hoạt động đối ngoại quốc phòng, diễn tập, hội thao, hội thi, nổi bật là Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước…

Cùng với đó, tập trung phát triển hạ tầng phục vụ chuyển đổi số toàn quân; hoàn thành 100% nhiệm vụ được giao trên Hệ thống quản lý văn bản và điều hành, nhiệm vụ số hóa hồ sơ kết quả giải quyết thủ tục hành chính. Công tác huấn luyện, giáo dục và đào tạo, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, tổ chức xây dựng lực lượng, thanh tra, điều tra hình sự, hành chính quân sự, pháp chế, đối ngoại quốc phòng, dân vận, hậu cần, kỹ thuật, tài chính, kinh tế được triển khai bảo đảm hiệu quả, chặt chẽ, đúng quy định, an toàn.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Trị phát động các phong trào thi đua tại hội nghị.

Nửa cuối năm 2025, Binh chủng Thông tin liên lạc xác định tổ chức thành công Đại hội Đảng bộ Binh chủng lần thứ XIII. Hoàn thành xây dựng, trình Bộ Quốc phòng ban hành Thông tư quy định quản lý hệ thống thông tin liên lạc trong Bộ Quốc phòng. Bảo đảm tốt thông tin liên lạc cho Bộ Quốc phòng nắm chắc tình hình, kịp thời xử trí các tình huống; bảo vệ các sự kiện chính trị quan trọng của Đảng, Nhà nước, Quân đội, các ngày lễ, Tết và sự kiện quốc tế tổ chức tại Việt Nam, trọng tâm là phục vụ các hoạt động kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2-9. Hoàn thiện kiến trúc Chính phủ điện tử 4.0, đẩy mạnh Phong trào “Bình dân học vụ số”, phấn đấu là đơn vị dẫn đầu về chuyển đổi số trong khối đơn vị sẵn sàng chiến đấu toàn quân.

Lãnh đạo Binh chủng Thông tin liên lạc trao khen thưởng tặng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc.

Chỉ đạo tổ chức tốt đợt sinh hoạt chính trị tư tưởng, góp ý vào dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng; các hoạt động kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2-9; kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Bộ đội Thông tin liên lạc, trọng tâm là các hoạt động gặp mặt, chương trình chính luận nghệ thuật, các công trình, phần việc chào mừng, tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Binh chủng và đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh (lần 2). Tổ chức tốt Phong trào Thi Quyết thắng năm, các đợt thi đua cao điểm và phong trào thi đua “Bình dân học vụ số”; tham gia Đại hội Thi đua Quyết thắng toàn quân lần thứ XI.

Tổ chức thành công Đại hội Đảng bộ Binh chủng lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2025 - 2030; tham gia có chất lượng Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII. Triển khai Kế hoạch thực hiện Đề án “Chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài đối với Quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050” trong Binh chủng. Hoàn thành xây dựng và bàn giao 16 “Nhà đồng đội”, 6 “Nhà tình nghĩa” và hạng mục công trình Trường THCS xã Tuyên Lâm (tỉnh Quảng Trị). Tham gia Giải thưởng Tuổi trẻ sáng tạo trong Quân đội phấn đấu đạt thành tích cao.

Quang cảnh hội nghị.

Nhân dịp này, Binh chủng Thông tin liên lạc phát động đợt thi đua cao điểm “Phất cao cờ hồng Tháng Tám - Thi đua giành 3 nhất” và các phong trào thi đua “Quân đội thi đua đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”, “Bình dân học vụ số”; khen thưởng các tập thể, cá nhân đạt thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm 2025.

Tin, ảnh: Văn Hiếu

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo QĐND điện tử) 

Lữ đoàn 134, Binh chủng Thông tin liên lạc: Tích cực rèn luyện để Khối nữ Thông tin đạt kết quả cao nhất

Nhận thức sâu sắc về‎ ý nghĩa của hoạt động diễu binh, diễu hành, ngay sau khi được giao đảm nhiệm và trực tiếp huấn luyện cho Khối nữ Thông tin tại Lữ đoàn 134 tham gia nhiệm vụ A80 và trước đó là A50, Đảng ủy, chỉ huy Lữ đoàn đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, làm tốt công tác chuẩn bị mọi mặt với quyết tâm đạt kết quả cao nhất.

Quán triệt chỉ thị, hướng dẫn của trên, thực hiện nghiêm sự chỉ đạo của Đảng ủy, thủ trưởng Binh chủng, Đảng ủy, chỉ huy Lữ đoàn 134 xác định: Tổ chức huấn luyện Khối nữ sĩ quan Thông tin tham gia diễu binh, diễu hành trong Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vinh dự, trách nhiệm và nhiệm vụ chính trị quan trọng của Lữ đoàn.

Do vậy, ngay sau khi có kế hoạch của Binh chủng, Đảng ủy, chỉ huy Lữ đoàn 134 đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc có liên quan xây dựng kế hoạch, làm tốt công tác tiếp nhận Khối nữ Thông tin. Đồng thời, chuẩn bị mọi điều kiện về cơ sở vật chất như củng cố, sửa chữa, mua sắm thêm thiết bị, doanh cụ, dụng cụ; làm mới hệ thống pa nô, khẩu hiệu tuyên truyền phục vụ luyện tập...

Khối nữ chiến sĩ Thông tin A80 tích cực luyện tập tại Trung tâm Huấn luyện quân sự Quốc gia 4.

Theo Đại tá Nguyễn Quang Trùy, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 134, trước khi bước vào huấn luyện, đơn vị tổ chức tập huấn cán bộ khung, tổ giáo viên và lực lượng trực tiếp bảo đảm. Nội dung tập trung thống nhất một số động tác điều lệnh đội ngũ theo đúng quy định. Ngoài ra, cán bộ khung còn tập huấn thêm nghiệp vụ công tác Đảng, công tác chính trị như cách thức ghi chép hệ thống sổ sách, phương pháp xây dựng nghị quyết, điều hành hội nghị của cấp ủy, chi bộ. Đối với lực lượng phục vụ được bồi dưỡng kiến thức chung về chế biến các món ăn, thái độ phục vụ và ứng xử trong giao tiếp; lực lượng quân y tổ chức tập huấn về kỹ năng sử dụng vật tư, trang thiết bị y tế, phương pháp cấp cứu và cách thức sử dụng lều cấp cứu say nắng, say nóng...

Bên cạnh đó, quá trình tiếp nhận các nữ quân nhân, Lữ đoàn đã chỉ đạo các cơ quan, khung huấn luyện chủ động hiệp đồng với các đơn vị tiến hành thẩm định hồ sơ lý lịch, trích ngang quân nhân, hồ sơ đảng, đoàn, thẻ bảo hiểm y tế, giấy cung cấp tài chính và giao nhận quân nhân bảo đảm nghiêm túc, chặt chẽ, đúng quy định. Ngay sau khi được biên chế về các tiểu đội, trung đội, khối nữ quân nhân đã nhanh chóng ổn định nơi ăn, ở và sinh hoạt; được khám sức khỏe, cấp phát và đo may quân trang.


Các chiến sĩ nữ Thông tin trên sân tập.

“Trong thời gian huấn luyện, để có những động tác đúng, đều, đẹp, trang nghiêm, tổ giáo viên đã chủ động xây dựng trước giáo án, tiến trình biểu huấn luyện phù hợp điều kiện thực tế và trình độ nhận thức của bộ đội; điều hành huấn luyện theo đúng kế hoạch. Khối đã phân công cụ thể từng cán bộ phụ trách các hàng để theo dõi huấn luyện, kịp thời hướng dẫn, chỉnh sửa những lỗi sai về động tác của từng hàng và cá nhân. Trong quá trình luyện tập, cán bộ được phân công theo dõi từng hàng tập, cuối ngày sẽ hội ý, đánh giá từng hàng để nâng cao chất lượng huấn luyện của khối. Do vậy, quá trình hợp luyện vừa qua, Khối nữ chiến sĩ Thông tin luôn được Ban tổ chức đánh giá là một trong những khối dẫn đầu tại Trung tâm Huấn luyện quân sự Quốc gia 4”, Trung tá Nguyễn Ngọc Tuấn, Phó chỉ huy trưởng khối chia sẻ.

Thiếu tá QNCN Đinh Ngọc Thúy, người đã từng 4 lần tham gia diễu binh chia sẻ: “Sau mỗi giờ huấn luyện vất vả, chỉ huy khối đã tổ chức các hoạt động ngoại khóa như tìm hiểu thông tin thời sự; tổ chức giao lưu văn hóa, văn nghệ với những vũ điệu sinh hoạt tập thể trong Quân đội, ca khúc cách mạng mang đậm chất lính để chúng tôi vơi đi nỗi nhớ gia đình, chồng, con, xua tan những mệt mỏi sau mỗi ngày huấn luyện. Qua đó, tạo không khí vui tươi, phấn khởi, đoàn kết, quyết tâm thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”.

Hiện tại, Khối nữ chiến sĩ Thông tin A80 đang tích cực luyện tập chuẩn bị cho Lễ diễu binh, diễu hành. Phát huy những kết quả đạt được trong thực hiện nhiệm vụ A50, Khối nữ chiến sĩ Thông tin quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, thể hiện bản lĩnh, khí thế và sức mạnh của Bộ đội Thông tin liên lạc anh hùng qua 80 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và phát triển (9-9-1945/9-9-2025).

Bài, ảnh: Hoàng Thức

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo QĐND điện tử) 

Chiến sĩ điện thoại

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Đồng chí Báo ít nói, lầm lì. Anh em cứ bảo đó là một chiến sĩ điện thoại lý tưởng, vì làm chiến sĩ điện thoại, bao nhiêu chuyện vào tai, mà giữ được bí mật như một người bằng đá ấy.

Như thế đã quý rồi. Nhưng quý nữa, là ở chỗ Báo có tinh thần liên lạc tích cực, tinh thần căn bản của những người chiến sĩ thông tin, sống chết không để đường thông tin đứt. Lại quý nữa, Báo có ý thức giữ gìn dây, máy, là những vũ khí của ngành, nhất định không để mất một đoạn dây, không để một đốt ngón tay dây rơi vào tay địch. Lại còn quý ở chỗ này: Báo không phải là một người thông tin chỉ làm thông tin thôi, chỉ chuyển tin thôi. Ở mỗi tình trạng chiến đấu, Báo không chỉ chờ tin để chuyển, mà lại cảm thông với các nỗi khó khăn của chiến đấu, chủ động giải quyết các nỗi khó khăn ấy; trước nhiệm vụ đặt ra, cương quyết làm tròn nhiệm vụ, dù nhiệm vụ ấy đòi hỏi đến thế nào. Đồng chí Báo thật hiểu rằng: Mỗi chiến sĩ thông tin, trước hết là một chiến sĩ cách mạng. Cái ấy mới thật là quý nữa.

Vì thế mà Triệu Văn Báo, một anh hùng thông tin, là một Anh hùng quân đội.

Cứ tả cái boong-ke, nghe cũng đủ ngại. Ngại, nếu yếu bóng vía, nếu tinh thần giác ngộ không cao. Một sĩ quan nhà nghề ngoại quốc, ngắm nghía cái khối xi măng cốt sắt lăm lắm ấy, mở ti hí những lỗ châu mai, lại đội một khẩu đại bác mũ thép, hỏi cán bộ ta rằng: "Nó ở trong ấy, làm thế nào mà các ông đánh được".

Lần thứ nhất, chúng ta định diệt boong-ke là ở vị trí Lai-ri-ê. Trung đoàn đánh vào. Những chiến sĩ anh dũng bắn liên thanh, bịt nghiến các mắt boong-ke lại, rồi bò sát vào, quơ hết dây thép gai, tót lên nóc boong-ke, đánh xuống. Nghĩa là cưỡi lên lưng con hùm dữ rồi. Nhưng ác quá, chính lúc ấy lại hết bộc phá, hết lựu đạn. Có nguy không? Gọi điện thoại về Trung đoàn, thì đường dây đứt, vì pháo các nơi nó câu đến ầm ầm, mặt đất lỗ chỗ như cái sàng gớm ghiếc.

Đường dây do Báo giữ. Anh thấy đứt, lao đi chữa. Anh nhớ rằng đạn đại bác ít khi rơi vào chỗ cũ, nên tay lần dây, chân nhảy thon thót, từ hố đạn này sang hố đạn kia, nối luôn tay. Nhưng đường dây đứt nhiều chỗ quá, đến nút cuối cùng thì hai đoạn dây chỉ còn vừa đụng nhau. Báo ra sức lôi hai đầu lại, dây không thừa mà vấn được nữa, phải cắn cả hai đầu vào hàm răng, cho đường điện thông.

Phía trước quay máy gọi về, đang khẩn cấp, mắm môi mắm lợi mà quay, biết đâu rằng, luồng điện quật đồng chí ta hộc máu mồm ra, nằm chết ngất. Nhưng, súng ùng oàng, Báo tỉnh. Thử thấy đứt, lại lao đi nối. Bây giờ không còn ngậm được nữa. Chỉ còn cách mỗi tay cầm một đầu dây, nghiến răng chịu đựng, dùng thân mình mà nối cho luồng điện được thông.

Và như thế, phía sau chuyển được bộc phá lên kịp thời, bọn địch trong boong-ke tan xác.

Khi theo đường dây tìm thấy đồng chí Báo thì đồng chí đã mê man, bom đạn hắt đất kín gần hết người, nhưng hai tay vẫn không buông đầu dây.

Trong một trận, đồng chí ngồi sát đại đội trưởng. Đại đội trưởng bị thương nặng. Báo bình tĩnh thay đại đội trưởng tiếp tục truyền lệnh của tiểu đoàn xuống cho các trung đội đánh, rồi tự động gọi đại đội phó đến thay. Khi đã kêu được điện thoại viên khác ngồi vào chỗ mình, anh tính cách đưa đại đội trưởng đi cấp cứu. Giặc bắn mạnh, chỉ còn có một cách là lội qua một cái ruộng lầy. Đồng chí nằm xuống, để đại đội trưởng nằm lên lưng, rồi nhoài đi.

Không những là đối với đại đội trưởng của mình, ở trên đường, bất cứ lúc nào, dù mệt đến đâu, đồng chí cũng vẫn hết lòng giúp đỡ các bạn chiến đấu bị thương tích.

Chuyên môn đồng chí Báo là làm điện thoại. Nhưng đồng chí chỉ coi điện thoại là một phương tiện thôi.

Trận cầu Ngà, địch bắn đại bác mạnh, đứt nát dây, không còn đâu mà nối được nữa. Máy vỡ, dây hết, mà đồng chí Báo không bỏ nhiệm vụ thông tin. Dưới đạn đại bác địch bắn ác liệt, Báo bảy lần chạy chân truyền lệnh.

Đến khi trận đánh kết liễu, giặc còn bắn tua tủa lên đồi. Bỗng Báo nhìn thấy sườn đồi còn một đường dây bỏ lại; anh không ngần ngại, lăn từ ngọn đồi xuống, lấy cho được cuộn dây đem về.

Báo kế chuyện: "Tôi là dân Thổ, nhà chỉ có vài sào ruộng; từ nhỏ đến lớn, khổ cực không biết là bao nhiêu nữa. Được Đảng lãnh đạo, tôi muốn hết sức chiến đấu, để các em nhỏ sau này không em nào còn phải khổ như tôi trước kia nữa!".

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND)

14.7.25

Các cô tiên của con nhà dây

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Lần đầu tiên được gánh dây xuống đồng bằng. Nghe nói cũng đã đủ phấn khởi. Chỉ sợ hành quân lâu, thì sợ mất dây, anh em tìm cho được đủ mo cau, bọc các sừng bò cho thật kín. Vừa bảo vệ được dây, lại vừa giữ được bí mật binh chủng; lợi cả hai đằng.

Đến nơi, còn chân ướt chân ráo, Ban chỉ huy đã trao cho nhiệm vụ công tác. Đơn vị được đặt đường dây đi mũi chủ công. Lại càng phấn khởi nữa.

Từ Ban chỉ huy đến đơn vị chiến đấu, có hai đường: Đường thứ nhất, cứ theo rặt một giống đường cái quan, chỉ vượt có một con sông là đến nơi. Sông lại còn có cầu nữa. Đường thứ hai, thì qua một dải núi, cả thảy là đến năm con sông con, một cánh đồng chiêm thẳng cánh cò bay, rồi chui vào khe đá, vằn vèo mãi mới đến vị trí đơn vị. Rõ ràng là thế, nhưng đồng chí đại đội vẫn cứ lưỡng lự, bàn đi bàn lại với đồng chí chính trị viên, rồi hết đứng lại ngồi.

- Buổi tối, đại đội bộ phổ biến nhiệm vụ, rồi khai hội dân chủ, để chọn đường và quyết định kế hoạch thực hiện.

Bản đồ được phóng đại lên tờ báo, treo ở giữa đình. Các thuận lợi và khó khăn được nêu lên cụ thể.

Tối đại đa số, ngả về phía đường cái.

- Đường là đường cái chính xứ này, có cả cột bưu điện nữa này. Đặt đã chẳng tốn công là bao, mà "tuần" dây cũng dễ như đi chợ ấy. Còn cái đường kia...

- Cái đường kia thì có đường quái đâu mà gọi là đường. Năm con sông, đã rồi. Còn đồng chiêm thì nhất định là vô lủng là đỉa.

Một anh lại nói thêm:

- Các đồng chí chưa có kinh nghiệm, tôi thì tôi biết. Cái nghề lội đồng chiêm lúc này, thì nhìn bốn bề những lúa là lúa, làng nào cũng giống như làng nào. Khó mà nhận ra phương hướng đấy nhé!

Thật đấy! Đã gọi là đồng chiêm mà. Man mác. Có lẽ chả cần phải nói thêm gì nữa. Thế mà có anh còn bồi thêm một nhát:

- Lại còn lý do này nữa, thuộc về kỹ thuật: đồng chiêm với núi đá, lấy đâu làm cây que mà mắc dây!

Đồng chí đại đội vẫn còn nhìn hết người nọ đến người kia. Bỗng một nắm tay giơ cao lên:

- Tôi có ý kiến! Tôi không hỏi thuận lợi, hay khó khăn về cái sự mắc. Tôi chỉ hỏi: Đường nào lợi cho tác chiến thôi?

Thế là hội nghị bặt hẳn đi. Cái ý kiến nó chính xác quá đi mất thôi. Ở Việt Bắc xuống, ai mà chẳng thích đường cái, nhưng mà nào biệt kích, nào phản động, nào tàu bay nó phát hiện. Làm dây qua đồng chiêm thì chúng mày đừng có đến đấy mà mò.

Và cuối cùng nghị quyết là chọn con đường khó khăn nhất.

Nghị quyết thì dễ, nhưng làm mới là chuyện ngầy ngà.

Rải dây vào sườn núi đá tai mèo, phải có đệm rơm, không có thì dây gì mà đá nó cứa chả đứt. Đến việc giải quyết vấn đề qua sông. Mỗi con sông phải chuẩn bị một bộ cột vượt, bằng những cây tre cao nhất làng, cao tưởng chừng tàu bay có chui qua dưới cũng lọt. Ấy thế mà vừa nhá nhem tối là, nào thoi, nào mành, ở đâu lũ lượt kéo ra, vận chuyển cho chiến dịch mà? Mỗi đôi cột lại phải đặt một vọng gác; thấy bóng mành đến, đã phải kêu từ đằng xa:

- Ông lái ơi ông lái, yêu cầu hạ cột buồm xuống.

Thức lâu, nhãng một tý là nó lôi đứt dây, không có thì cũng đổ cột.

Quãng đồng chiêm mới thật là bất trị. Anh em bảo nhau: ta cứ căng dây cách mặt nước một gang, là tàu bay Tây tài thánh cũng không nhìn thấy được. Khốn nỗi tìm đâu ra cọc.

Anh em vào làng tìm tre, nhưng cái của ấy, đồng chiêm hiếm lắm. Núi thì toàn đá, chỉ có rêu và lơ thơ mấy tụm cỏ thôi. Bỗng chiến sĩ Bối nhìn thấy cái gì. Anh xăm xăm chạy vào sân lấy cái sào. Chả là, nhà nào cũng có vài cái sào để phơi phóng. Nhân dân thấy bộ đội đến, đon đả ra, cứ thấy anh bộ đội ngắm hết cái sào này đến cái sào khác, cầm lấy, lại buông ra.

Một chị bạo dạn hỏi:

- Anh muốn lấy cái ấy làm gì?

Ngần ngừ, Bối nói:

- Chúng tôi đi đặt đường dây, để đánh Tây, mà không có cọc mắc dây. Giá được những cái cọc như thế này thì...

- Thế vầy à? Anh cứ lấy đi mà mắc.

Bối chưa kịp cảm ơn, thì chị ta đã biến đâu mất.

Giữa xóm nổi lên ba hồi mõ, và một lúc, vừa chập tối, sáu bảy mươi thanh nữ, từ các ngõ kéo đến, mỗi người vác một bó sào. Y như là mít tinh sào gậy ấy.

Anh em sướng như mở cờ trong bụng, mời các đồng chí thanh nữ vào uống nước. Cái trò được voi thì đòi tiên, có anh phát biểu:

- Giá mà xóm nào cũng được như các chị, thì chúng tôi làm nhiệm vụ thích quá.

- Cái ấy có khó gì. Để chúng em đi loan báo các xóm; xóm nào cũng hạ mõ, họp thanh nữ, thì sào có mà thiếu giống, các anh tha hồ mà chống dây. Có họa bắc cả cái cầu qua sông Hoàng Long cũng chả hết cọc!

Các chị làm được như thế thật, và ngay ngày hôm sau, đường dây vọt lên được hai mươi cây số. Ấy là còn khổ về đồng lầy, lội đến thắt lưng, thỉnh thoảng lại thụt một cái đến ngực. Lội bấy cả người ra, mãi mới gặp một hòn cù lao, thì lại là chỗ chứa phân. Không có, thì đã làm xong cả công việc hôm nay rồi.

Tối đến, anh nào cũng no nước, dù chẳng uống hụm nào; đầu ngón chân ngón tay cứ răn cả lên. Bối vừa vê điếu thuốc, vừa đăm chiêu.

- Mày tơ tưởng gì, hử Bối?

- Tao nghĩ... tao nghĩ nhân dân là tốt thật, mà các cô thanh nữ là...

- Là gì?

- Là... các nàng tiên của anh nhà dây.

- Đúng!

Đường dây mắc xong; và từ hôm đó súng nổ ran bên phía Ninh Bình, bà con rất đỗi là phấn khởi. Các thanh nữ chở thúng ve ve đi làm đồng, hễ thấy chỗ nào dây chấm nước, lại trở về nhà kiếm sào ra ủng hộ dây. Tối đến thì quanh mỗi trạm canh dây có cả một cuộc tập họp: nam, phụ, lão, ấu, hỏi han, cho ấm nước. Anh em nhà mình giữ bí mật quân sự, có nói gì đâu, nhưng không giấu làm sao được nét mặt vui mừng. Các cụ bắt thóp, vung tay gọi con cháu:

- Chúng mày ôi, quân ta đại thắng.

Ba chục cây số dây im lặng, nấp mình trong lúa, nhưng đường điện thoại đã thành ra một tuyến tuyên truyền cho thắng lợi của quân ta.

*

Địch lồng lộn. Tàu bay bà già cứ quay đi vòng lại trên đường Xích Thổ ra bến Gián, tìm đường dây, thả móc xuống lôi, vớ ngay phải dây sắt ba ly hai của Bưu điện, thành ra đứt mất móc. Lỗ vốn cái móc, lại còn chúi mũi xuống, tý nữa thì hụp.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND) 

Kỹ thuật

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Nói cho đầy đủ, thì thông tin là một ngành binh kỹ thuật, đủ mức nữa, gọi là một đặc chủng binh.

*

Đặc chủng và kỹ thuật, chỉ để nói tính chất của công tác, nói rõ yêu cầu, mà cố gắng, công phu, cho thành thạo mà thôi.

Những đơn vị thông tin lên chiến trường đầu tiên cũng không có thì giờ nghiên cứu cho lắm. Cái chất, thông tin vẫn cấu tạo bằng ba nhân tố: hai tinh thần, một kỹ thuật và một khí tài.

Lý luận cấu tạo này chứng minh như sau:

Thông tin cố nhiên là cùng đẻ một ngày với chiến đấu. Nhưng sự sản sinh ra những tổ chức thông tin trong biên chế các đơn vị bộ đội, xuất hiện đồng thời ở nhiều chỗ trên chiến trường, ngay sau chiến dịch Việt Bắc.

Lột dây điện trên đường số 4, đưa lên đỉnh núi, từ Lũng Phầy trở xuôi, một đường dây điện thoại đã trở thành hệ thống thần kinh tinh vi, cắt đoàn trăm xe giặc ra từng đoạn mà diệt.

Trước sau đó, không mấy hôm, trận Mỏ Hem ở bên kia Hòa Bình, rồi trận Suối Rút, địch cũng chết về nỗi không chạy thi được với dòng điện.

Trong lúc sơ sinh ấy, nhân tố kỹ thuật, rõ ràng là không đáng kể là mấy rồi.

Rồi đến việc thành lập đội 33, một đơn vị thông tin đã phục vụ được nhiều lần đắc lực. Hôm Ban chỉ huy chiến dịch lên đường, thì số tân binh Khu 4 vừa ra đến nơi. Đơn vị vừa đi, vừa thành lập, vừa huấn luyện, vừa chuẩn bị chiến đấu. Mỗi tân binh có hai mẩu dây đồng, mỗi đoạn nghỉ, lại giở ra tập nối đầu ruồi, nối con sâu. Đến hôm tỏa mạng chiến đấu, đội trưởng còn phải ngồi vào tổng đài, điều khiển việc thả từng cuộn dây; thả được mỗi cuộn, gọi thử có được, mới tiếp thêm cuộn nữa,...

Ở tận trong Nam, một đơn vị thông tin khác, khi chuẩn bị đánh cầu ban ngày, Tiểu đội trưởng Lê cũng làm theo cách đó. Tập hợp thanh niên xung phong, học tắt, mỗi người chỉ học một mẩu đã, mẩu nào cần thiết nhất là học trước. Vài hôm sau, đã sẵn sàng ra trận rồi. Và trận đánh thắng.

Phân tích chất thắng, cũng thấy thành phần tinh thần to hơn các thành phần khác. Cố nhiên kỹ thuật quan trọng, nhưng tinh thần cao thì kỹ thuật như là mớ lửa mà được tưới dầu thêm vào.

Còn thành phần khí tài. Đã hẳn là cũng quan trọng rồi. Nhưng đồng chí Tỵ, cũng chiến sĩ miền Nam, không có khí tài, trong trận Ai Nu, chiếm nghiến ngay đường dây dài mười cây số của địch, mà chuyển thành đường dây phục vụ mình chiến thắng!

Trái lại, ở trên đường số 6, hai đơn vị lớn, nhìn rõ nhau được, mà cứ nhất định là phải thiết bị phương tiện kỹ thuật, rồi đến mấy hôm cũng không nói được với nhau nửa lời. Giá mà cứ phất một lá cờ, cũng đã đủ hiểu nhau rồi. Rõ ràng là một hiện tượng bệnh chướng, phát sinh bởi cái chỗ: nhân tố kỹ thuật hoành hành, nhân tố khí tài được dịp tác quái, tinh thần bị o ép, không còn chủ động được nữa.

Chứng minh xong!

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND) 

11.7.25

Đơn vị thông tin, kiểu 49

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Đây là đơn vị thông tin của Trung đoàn 7.

Biên chế: Hai trăm người.

Trang bị: Bốn cây số dây đồng, một cây số dây bọc, sáu máy điện thoại kiểu cối xay hạt tiêu, một trăm lộ tiêu, ba trăm cột, một ba lô băng vải trắng.

Hai khoản trên đây cần phải giải thích, mới hiểu được. Biên chế sao mà đông thế? Vì trang bị. Trang bị sao lại lạ lùng thế? Vì điều kiện lúc bấy giờ.

Đã làm gì có dây bọc tốt. Muốn làm điện thoại thì phải có dây. Có thể Bưu điện nhượng cho mấy cây số dây đồng hay dây sắt, loại ba ly hai. Cũng có thể đem dây cáp truyền điện cao thế mà tời ra. Hay cắt của địch từng đoạn mà nối lại. Bốn cây, là một con số quan trọng rồi, vì như thế là nặng đến 10 tạ, mà lại hay phục vụ vận động chiến.

Dây bọc là của quá hiếm. Tìm mãi mới mua được độ một cây, loại một sợi một ly, bọc cao su, thứ người ta dùng để mắc đèn. Nhà buôn còn lại bán cho ai được một khi mà các thành phố đã phá hoại, các nhà máy đèn đã cất đi. Được bộ đội mua cho là may lắm. Dây này cuộn vào cái guồng như cũi chó con, đeo sau lưng.

Máy điện thoại, trưng dụng ở các cơ quan, vì cơ quan cũng không dùng làm gì đến nữa. Gọi là cối quay hồ tiêu, vì có tay quay rõ ràng, mà lắc thì nghe thấy hạt than lóc cóc, như hồ tiêu vậy. Máy để bàn mà mang đi vận động chiến thì khó, nên mỗi chiến sĩ điện thoại được cấp một cái bị cói, để đeo máy. Nhưng đi đánh một trận về, lại phải thay bị mới.

Cột để gác dây, do nhân dân địa phương cấp cho. Tiêu chuẩn là cao ba thước, và điều kiện là có một cái nhánh để gác dây. Cũng biết gác vào gỗ ướt thì không tốt, không có bình sứ, nên mỗi ngáng lại buộc một mảnh tre còn nguyên tinh xanh, vì thấy nói thứ ấy cách điện được.

Lộ tiêu dùng để chỉ đường. Vải trắng cắt thành băng rộng độ một gang.

*

Bây giờ xin giới thiệu về tác dụng. Bố trí đánh đồn.

Vì hỏa lực bản thân còn yếu, nên Ban chỉ huy phải đóng ở hơi xa.

Liên lạc chân vào trước. Lúc ấy chưa có tên là chuyển đạt viên. Đêm, liên lạc chân dẫn điện thoại vào xây dựng mạng, gồm đường chính diện, đường bên sườn, hay gộp tất cả làm một đường vòng. Nếu có đại bác thì dây bọc được nhận nhiệm vụ đi đo cự ly: thắt dây vào lưng, rồi bò đến sát đồn. Ở ngoài cứ tính hết bao nhiêu dây mà chỉnh hỏa. Không dùng thế thì để dây bọc đi theo đội "mũi dùi" vào đồn.

Mạng điện thoại xây dựng xong, là liên lạc chân cắm lộ tiêu, để dẫn bộ đội vào chiếm lĩnh trận địa. Sắp đến giờ phát hỏa, Ban chỉ huy thử máy, gọi không được. Ấy mới chết! Thế là cả đại đội trưởng, cả chính trị viên, cả đội dự bị, đổ đi hết. do ôm tiêm ôn thi nà

Thì ra, đường lầy, các đồng chí bộ binh đã mượn cột làm gậy để dò đường vào trận địa rồi. Dây đổ cồng kềnh. Lập tức phải khôi phục lại.

- Báo cáo: thông rồi!

Trận đánh bắt đầu. Trong quá trình trận đánh, điện thoại thỉnh thoảng lại rè rè. Lắc hạt tiêu cũng không thấy rõ hơn, thì phải xem dây "te"1. Mỗi điện thoại viên có một ống nứa sẵn, để đựng nước tưới dây "te". Không có thì phải dùng cách khác.

Liên lạc chân đưa công binh vào phá hàng rào, lúc này chưa nhiều gai lắm. Phá xong, lại bắt đầu nhiệm vụ của liên lạc chân, rải băng vải trắng cho xung kích vào. Phá hàng rào, thế nào cũng động, cho nên rải vải gay go lắm. Sau này có khi thay bằng vôi bột hay bẹ chuối.

Đánh xong, thắng lợi hay không thắng lợi, bộ đội cũng rút lui. Lúc này liên lạc chân lại cắm lộ tiêu chỉ hướng đường tập kết. Đường thường cứ qua một hay hai khe núi, là những chỗ pháo địch nó quen rồi; một đồn bị diệt nữa, thì các đồn bên nó lại cứ bắn vào. Nhưng các đồng chí liên lạc chân được phân công, tay cầm cờ đỏ, cứ phải đứng đó mà chỉ đường. Người này hy sinh, thì người khác thay ngay. Không có thì bộ đội ùn lại ở chỗ nguy hiểm.

Biên chế nặng nề, trang bị thô sơ, nhưng những chiến sĩ của những đội thông tin cổ sơ ấy, gan dạ và tháo vát đáo để.

Đây là vài ví dụ: Đồng chí Khải liên lạc chân có nhiệm vụ đi tìm Ban chỉ huy tiểu đoàn. Khi đến nơi thì giặc đã chiếm vị trí ấy rồi. Nó bắn ra. Đồng chí đi, tìm chỗ khác không thấy, lại phải quay lại, đành hỏi địch xem sao.

- Tao đây! Đừng bắn!

- Ai?

- Quan hai nó bảo tao đến hỏi xem Việt Minh rút đi đâu, để quan hai nó đến đánh.

- Việt Minh ở chỗ sau núi, bên tay phải kia kìa.

Thế là đồng chí Khải tìm được Ban chỉ huy.

Một đồng chí khác, vớ được cái máy BC-1000, còn đang chạy. Thấy có ống nói, tai nghe như điện thoại. Nghe thử. Thấy tiếng địch gọi. Đồng chí nghĩ ngay, tương kế tựu kế, bảo:

- Chúng tôi đang bị Việt Minh vây ở cầu gạch ấy. Xin đến cứu ngay.

Rồi đồng chí báo cáo Ban chỉ huy bố trí phục kích, quả nhiên diệt được một trung đội địch.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND)

-------------------------------------

1 Te: dây đất. 

Thượng tướng Lê Huy Vịnh làm việc với Binh chủng Thông tin liên lạc

Sáng 10-7-2025, đoàn công tác Bộ Quốc phòng do Thượng tướng Lê Huy Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng làm trưởng đoàn, đến kiểm tra, làm việc với Binh chủng Thông tin liên lạc về kết quả thực hiện công tác kỹ thuật và chuyển đổi số.

Tham gia đoàn có Thiếu tướng Đinh Công Phương, Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần-Kỹ thuật. Dự buổi kiểm tra có Thiếu tướng Nguyễn Văn Trị, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Binh chủng Thông tin liên lạc.

Lãnh đạo Binh chủng Thông tin liên lạc và chỉ huy Lữ đoàn 139 đón Thượng tướng Lê Huy Vịnh. Ảnh Văn Hiếu.

Sau khi trực tiếp kiểm tra tại Lữ đoàn 139, Binh chủng Thông tin liên lạc, Thượng tướng Lê Huy Vịnh và đoàn công tác nghe báo cáo của đại diện Binh chủng.

Theo đó, 6 tháng đầu năm 2025, Binh chủng Thông tin liên lạc đã bảo đảm đủ số lượng, chủng loại, chất lượng trang bị kỹ thuật cho các nhiệm vụ, trọng tâm là nhiệm vụ A2; huấn luyện; sẵn sàng chiến đấu; phòng, chống thiên tai; tìm kiếm cứu nạn; phục vụ Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước...

Thượng tướng Lê Huy Vịnh kiểm tra việc khai thác các ứng dụng chuyển đổi số của Binh chủng Thông tin liên lạc. Ảnh Văn Hiếu.

Đồng thời, thực hiện nghiêm mệnh lệnh tiếp nhận, cấp phát trang bị kỹ thuật, đạn dược; duy trì bảo đảm tốt hệ số kỹ thuật các trang bị xe máy. Thực hiện tốt nền nếp bảo quản, bảo dưỡng thường xuyên trang bị kỹ thuật theo quy định; tích cực củng cố, đồng bộ tốt tình trạng kỹ thuật của vũ khí trang bị. Tham gia xây dựng và báo cáo Bộ Quốc phòng triển khai hệ thống thông tin di động chuyên dùng thế hệ 5 (5G), hệ thống thông tin vệ tinh VINASAT-3. Tích cực chuẩn bị trang bị kỹ thuật phục vụ Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2-9.

Đối với công tác chuyển đổi số, Binh chủng Thông tin liên lạc chủ động báo cáo Bộ Quốc phòng về điều chỉnh tổ chức bảo đảm thông tin liên lạc cho cơ quan quân sự địa phương khi tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp. Ban hành Kiến trúc Chính phủ điện tử phiên bản 3.0 của Binh chủng; triển khai cơ sở dữ liệu dùng chung trong Binh chủng; thực hiện đồng bộ các biện pháp tăng cường bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng.

Triển khai chứng thư số, thực hiện ký số đến các đơn vị trực thuộc đạt 100%; ký số cá nhân đạt 99,97%; hoàn thành triển khai ký số cá nhân cấp tiểu đoàn. Mở chuyên mục về chuyển đổi số trên Cổng thông tin điện tử của Binh chủng, chuyên mục “Một phút với công nghệ” trên mạng truyền thanh nội bộ, chuyên mục “Lính Thông tin” và “Bình dân học vụ số” trên kênh YouTube; triển khai máy tính truyền số liệu, máy tính kết nối mạng Internet cho 100% phòng sinh hoạt chung đến cấp tiểu đoàn. Thực hiện số hóa 100% hồ sơ kỹ thuật của các trạm, tuyến thông tin.

Thượng tướng Lê Huy Vịnh phát biểu tại buổi làm việc. Ảnh Văn Hiếu.

Phát biểu kết luận buổi kiểm tra, Thượng tướng Lê Huy Vịnh yêu cầu thời gian tới, Binh chủng Thông tin liên lạc tiếp tục triển khai hiệu quả nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch của trên về nâng cao chất lượng các mặt công tác kỹ thuật, nhất là Cuộc vận động “Quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông”.

Bảo đảm đầy đủ, chất lượng tốt, đồng bộ trang bị kỹ thuật cho các nhiệm vụ, trong đó ưu tiên khu vực trọng yếu, biển, đảo, bảo vệ vùng trời, biên giới... Tổ chức huấn luyện kỹ thuật bảo đảm nội dung, thời gian, chất lượng. Đầu tư, bổ sung trang thiết bị công nghệ nâng cao năng lực bảo đảm kỹ thuật cho các trung tâm bảo đảm kỹ thuật cấp lữ đoàn, xưởng sửa chữa thông tin, các tổ bảo đảm kỹ thuật cơ động.

Cùng với đó, Binh chủng Thông tin liên lạc cần chú trọng triển khai Phong trào “Bình dân học vụ số” hiệu quả, sát thực tế. Tham gia phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ chuyển đổi số cho các cơ quan, đơn vị trong Bộ Quốc phòng. Xây dựng hệ sinh thái số ngành kỹ thuật; hoàn thiện các ứng dụng phần mềm đưa vào sử dụng có hiệu quả trong công tác quản lý, điều hành kỹ thuật. Chuẩn hóa, số hóa các quy trình nghiệp vụ công tác kỹ thuật.

Ngoài ra, tiếp tục đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu ứng dụng một số công nghệ chủ chốt của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 như Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây (Cloud Computing), chuỗi khối (Blockchain), nghiên cứu chế tạo trang thiết bị thông tin liên lạc. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật đủ số lượng, cơ cấu hợp lý, chất lượng cao, nhất là đội ngũ chuyên gia về công nghệ nền tảng, công nghệ lõi, chuyển đổi số.

*

Trước đó, ngày 07-7-2025, Thượng tướng Lê Huy Vịnh, đã chủ trì Hội nghị thông qua công tác chuẩn bị đại hội nhiệm kỳ 2025-2030 của Đảng bộ Binh chủng Thông tin.

Dự hội nghị có Trung tướng Thái Đại Ngọc, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; Thượng tướng Lê Quang Minh, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; đại biểu lãnh đạo các cơ quan Bộ Quốc phòng và Đảng ủy Binh chủng Thông tin.

Tại hội nghị, Thiếu tướng Nguyễn Văn Trị, Bí thư Đảng ủy Binh chủng Thông tin đã báo cáo công tác chuẩn bị đại hội, dự thảo văn kiện đại hội, phương hướng nhân sự và kế hoạch tổ chức đại hội. 

Các đại biểu thảo luận đánh giá Đảng bộ Binh chủng Thông tin đã quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm túc chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên về đại hội đảng các cấp; chuẩn bị tốt các văn kiện trình đại hội; nhân sự để bầu Ban chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ, Bí thư, Phó bí thư, Ủy ban kiểm tra, Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra nhiệm kỳ 2025-2030; kế hoạch tổ chức Đại hội Đảng bộ. Hội nghị bổ sung một số nội dung trong báo cáo chính trị, làm rõ một số chỉ tiêu, giải pháp thực hiện.

Phát biểu tại hội nghị, Thượng tướng Lê Huy Vịnh đánh giá cao kết quả lãnh đạo, chỉ đạo công tác chuẩn bị đại hội của Đảng ủy Binh chủng Thông tin đã chỉ đạo các tổ chức đảng trực thuộc làm tốt công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội theo kế hoạch; chủ động làm công tác chuẩn bị về văn kiện, nhân sự và các mặt bảo đảm phục vụ đại hội.

Để tiếp tục hoàn thiện công tác chuẩn bị và tổ chức thành công đại hội, Thượng tướng Lê Huy Vịnh yêu cầu Đảng ủy Binh chủng Thông tin tiếp tục quán triệt các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, Thường vụ Quân ủy Trung ương và Tổng cục Chính trị; phân công các đồng chí trong Đảng ủy và các cơ quan chức năng rà soát, hoàn thiện mọi công tác chuẩn bị, nhất là những vấn đề mới, trọng tâm, trọng điểm. Đảng ủy Binh chủng Thông tin chỉ đạo rà soát, bổ sung, hoàn thiện dự thảo báo cáo chính trị trình đại hội, cụ thể hóa vào các nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu, giải pháp lãnh đạo của Đảng bộ, tạo động lực, đột phá, làm chuyển biến mạnh mẽ, xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, Binh chủng Thông tin liên lạc cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đảng ủy tiếp tục làm tốt công tác chuẩn bị và tiến hành đúng quy trình, các bước công tác nhân sự để đại hội bầu cử đúng nguyên tắc, giữ vững sự ổn định, tăng cường đoàn kết, thống nhất cao trong Đảng bộ.

Tin, ảnh: Đức Nam, Văn Hiếu

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn báo QĐND điện tử) 

10.7.25

Đài VMD vẫn còn

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Mặt trận vỡ. Giặc đã đến cửa thị xã. Lệnh rút vào rừng.

Đeo bạc đà lên! Mau, đi!

Ba anh em cùng nhỏm lên, tay cùng với bạc đà, nhưng sáu mắt nhìn nhau, không ai bảo ai, cùng buông bạc đà xuống; hai người khênh cái máy, một người ôm bộ phát điện, rùng rùng ra đường. Anh em, ai cũng nai nịt chỉnh tề, súng lăm lăm trong tay, còn ba người thì cứ lẵng nhẵng, kẻ trước, người sau, đoạn dây truyền điện cứ lòng thòng như cái dây rau của đứa bé đẻ rơi ấy vậy.

Nhưng chúng nó đã theo sát, đạn đã vèo vèo, lá cây rụng tua tủa. Mà tổ ba người còn khệ nệ đằng sau. Đồng chí chỉ huy thét:

- Thôi, bỏ máy ra, chạy lấy người đã!

Bỏ xuống. Nhưng chạy được dăm bước thì An quay lại, mở máy, vặt vội mấy cái đèn, rút cái tụ, mấy cái kháng, Bẩy cũng tháo chân máy phát điện, quẳng đi, ôm tròn cái sọ vào lòng, chạy vù vù. Vừa chạy, An vừa chuyển bớt số đèn cho Sáu; mỗi người giữ mấy cái, để nếu người nọ làm sao thì còn người kia.

Nửa đêm, nghỉ chân một chút, không thấy Sáu đâu. Có người nói Sáu đã hy sinh ở chỗ cửa rừng. An xăm xăm quay lại tìm bạn, nhưng mọi người giữ lại, vì đằng nào thì Sáu cũng mất rồi, mà quay lại lúc này, nguy hiểm quá.

Từ đêm ấy trở đi, An đi trước, Bẩy đi sau. Tay An cứ nắm chắc mấy cái đèn, Bẩy cứ ôm cái sọ dừa. Một người đi, một cái bóng theo. Ai hỏi, họ không mở mồm nói ra nửa lời nữa. Anh em ái ngại, bảo nhau: Họ mất hồn rồi! Người vô tuyến điện có cái máy, mất máy là họ mất hồn, còn gì nữa.

Đã đến rừng già, nơi làm chiến khu được. Mọi người làm lán; An và Bẩy cũng làm. Làm hăng, có lúc cũng có người vui, nhưng An và Bẩy thì cứ lùi lũi như người câm, người điếc ấy...

Ai cũng nhận thấy rằng vào hai lúc, sáu giờ sáng và sáu giờ chiều, là họ đau khổ nhất. Chả là, những giờ ấy, là những giờ phiên việc của họ trước kia. Trước kia, cứ sáu giờ, không sai một phút, là An lên máy, Bẩy quay ro ro. An dạo tý tách, lắng nghe, rồi đánh lia đánh lịa. Đánh chán, lại tai nghe, tay viết, hết tờ này đến tờ khác. Xong mỗi tờ, Sáu hớt hơ hớt hải chạy đến trình Ban chỉ huy. Miền Bắc xa xôi, nhưng có những tờ giấy mà Sáu đưa ấy, Ban chỉ huy nắm rõ tình hình cả nước, tình hình phong trào, nhận được chỉ thị, vì thế mà hoạt động phấn khởi.

Đến bây giờ..., đơn vị lạc lõng trong rừng sâu, nhìn về phía Bắc, ngàn cây thăm thẳm. Sáu giờ sáng, vừa bình minh, chim đã kêu, An cứ cất tay lên xem đồng hồ, đếm từng phút, đúng đến phút 60, đưa tay ra, rồi lại rụt lại như vừa mới đụng phải dòng điện. Khổ nhất là phiên sáu giờ chiều, lại chính là lúc đồng chí tiếp tế dọn cơm ra. An không ăn, Bẩy cũng không ăn. Bảo sao họ cũng không nuốt trôi được bữa chiều. Chiều nào cũng thế.

Anh em thương lắm, rình lúc An ngủ, lấy cắp chiếc đồng hồ của hắn, giấu biến; nhưng không cần đồng hồ, cứ đúng sáu giờ, là hắn cứ ngồi thần người ra.

*

Mấy hôm nay, An với Bẩy, cái tổ ba người mà chỉ còn hai ấy, bỏ không đi làm. Hai người ngồi châu đầu cạnh chỗ bếp gio, bày mấy cái đèn ra, rồi lấy que vạch xuống đất, như tuồng trẻ nhà nghèo học toán vậy. Họ vẽ ngoằn, vẽ ngoèo, tính tính, toán toán, rồi ngủ quay ngay ra đó, sợ ai xóa hay quét bản vẽ đi mất chăng. Hôm sau, An cứ nằn nèo mãi, Ban chỉ huy đành phải cho đi và dặn phải cẩn thận. Vừa hết phép, hai người dắt nhau về, đói gần chết, nhưng trong mắt họ có cái gì vui vui, làm ai cũng phải để ý.

Cơm xong, hai anh em biến mất.

Họ đưa nhau vào rừng thật sâu, giở bọc ra, có hai ba cuộn dây, một mảnh ván. Mỗi người chỉ có một con dao con, nhưng họ cắt dây, nạo dây, làm mỏ hàn. Bốn năm hôm, những người tò mò cũng không làm sao biết được họ làm gì. Ai hỏi, thì họ giơ ngón tay trỏ lên ngang môi: "Bí mật quân sự".

Chiếc máy đã thành hình. Nhưng càng gần đến lúc xong, thì hai anh em lại càng lo lắng. Đứt liên lạc hơn một tháng trời rồi; biết rằng các đồng chí ngoài ấy có còn gọi mình nữa không? Khố tâm, nếu máy mình xong, mà lại không liên lạc được. Có lẽ nào lại thế. Mình nóng ruột, các đồng chí chắc còn nóng gấp mười, vì không biết được số phận tụi mình ra sao. Nếu luồng điện mà phát được ra tiếng, thì cứ sáu giờ, chắc những tiếng vo ve ai oán, cứ văng vẳng gọi trên không, tiếng anh em vô tuyến điện ngoài kia gọi những người "đồng chí".

Thế cũng là xong. Bẩy nhanh như điện, chạy về lán, lấy cái sọ dừa ra, không có chân, thì lấy dây rừng cột vào gốc cây, rồi quay lấy quay để. An nhẹ tay xoay cái tụ, một hơi thở nhè nhẹ phát ra. Một người cha đang lay đứa con đã lạnh, mà thấy nó thở lại, chắc cũng vui sướng được đến thế này là cùng. Cái máy sống. Cái máy chạy rồi!

Như những người đã chiến thắng một trận oanh liệt, hai anh em loạng choạng, đem máy về lán. Cả trại xúm quanh, nửa vui vui, mà nửa cũng cứ ngại ngại. Cái hộp sù sì này, mà làm vô tuyến điện được ư? Không nói, không rằng, hai người cứ thử đi, thử lại, đợi cho đến sáu giờ, để qua cuộc thử thách cuối cùng; cuộc thử khó khăn, vì không có đồng hồ đo điện, thì làm thế nào mà lấy cho được đúng độ số.

Sáu giờ đến, Bẩy quay đều đều, trịnh trọng, như người từ nhỏ đến giờ, lần thứ nhất, quay một cái máy phát điện bằng vàng, trước toàn thể quân đội. Mồ hôi đầm người. An quay cái tụ, lắng tai... tích tích tích ta... Đúng chữ V rồi, các đồng chí vẫn gọi, VMD... VMD... VMD...

Tiếng gọi lo âu, tha thiết, cứ lanh lảnh: VMD... VMD... VMD...

An kêu to: VMD đây, VMD đây mà! Nhưng tiếng vẫn gọi VMD... VMD... nghe như dội nước sôi vào ruột. Chao ôi! Các đồng chí đã không quên mình; đúng giờ, các đồng chí vẫn gọi; tiếng gọi mỗi lúc càng gấp gáp. Trong thành phố, đêm lạnh ngắt, tiếng bà mẹ gọi con lạc... Về em ơi!... Về em, con ơi... Tiếng bà mẹ Tổ quốc gọi đứa con không biết mệnh hệ thế nào! Con nghe tiếng mà không sao trả lời được...

Vì cái máy mà An và Bẩy làm xong, nó chỉ là một cái máy thu. Trong túi An chỉ còn có đèn thu; mấy cái đèn phát đã hy sinh với Sáu mất rồi.

Hoàn thành chiếc máy. Thắng lợi! Nhưng thắng lợi lại càng thấy đau khổ, não ruột thêm. Sáu giờ, lại cứ đem ra nghe: VMD... VMD... cảm được sự nhớ thương của đồng chí mình, dòng máu đã ngừng chảy, nay lại thấm đến tận cái mạch xa xôi này rồi. Nhưng trả lời,... phải trả lời mới được.

*

An trình bày với Ban chỉ huy, xin lẩn về Sài Gòn, tìm đèn phát. Nguy hiểm thì đỡ hẳn rồi, nhưng còn khó khăn hơn nguy hiểm, vì đèn phát không bao giờ có bán trong các hiệu. Thế đành không trả lời ư? Không trả lời thì đồng chí mình không biết; không biết thì không gửi điện! Thế thì làm thế nào xin được chỉ thị của Trung ương. Đói, khổ, thiếu vũ khí, tất cả những cái ấy đều chịu được. Nhưng thiếu chỉ thị của Trung ương thì không thể nào mà chịu được.

Râu An đã mọc dài, người đã hom hem. Về đến thành, ai mà còn nhận ra được nữa. Nhưng làm thế nào mà có được cái "đèn thần" kia cho chứ. Nghĩ mãi. Vào các hiệu to, may ra tìm được; nhưng hiệu to, chắc đâu người ta chịu giúp mình. An cứ lân la ở những cửa hàng chữa máy nhỏ, ở các ngõ xa. Mà như thế là phải. Một người thợ nhìn kỹ, gọi sẽ: An, đói ư?

- Không đói. Tìm cái này.

Biết chắc là bạn cùng nghề sẵn sàng giấu cho mình, An mới ngỏ ý. Của hiếm thật, nhưng bạn sẽ lục trời đào đất mà tìm cho ra. Rồi trong một hàng đồ cũ, bạn kiếm được một cái máy nát mà một tên lính Nhật đã đem bán rẻ, vặn được cái đèn đem về. An xin được đủ đồ, bọc làm nhiều gói, đem dần ra, giấu ở một cái miệng cống ngoài thành. Quý hóa hơn nữa, là người bạn đã nhận công việc mua đồ, để sau này có người chiến khu ra lấy về.

Đến trại, báo cáo xong, An tìm Bẩy, hỏi ngay: VNA vẫn gọi chứ?

- Vẫn gọi.

Chỉ hai ngày sau, chiếc máy phát làm xong. Dây dợ tử tế, nhưng nó mới chỉ là một chiếc máy phát một đèn, mà một đèn đã già rồi. Cứ lên một tý lại gọi VNA, VMD đây. VNA, VMD đây. Nghe, gióng mất ba phiên, mới nhận được câu trả lời: VMD... VMD... VNA đây!

Bẩy và An cùng hét lớn: Liên lạc rồi! Liên lạc rồi!

Đồng chí chỉ huy lập tức đến bên máy, đồng chí mật mã dịch ngay, lập tức gửi ngay bức điện thứ nhất, và nửa giờ sau nhận liền được điện trả lời.

Tất cả mọi người, ai cũng muốn gửi một câu vào bức điện thứ nhất ấy, mà không dám nói ra. Điện trả lời, vừa dịch xong tại chỗ, đồng chí chỉ huy tươi hẳn mặt lên, cả trại tươi hẳn lên, xúm lại công kênh đồng chí chỉ huy, công kênh đồng chí An và đồng chí Bẩy.

Niềm tin ở thắng lợi làm bật ra trên các khuôn mặt xanh xao.

Những cái chân, những cái tay, bị chặt ra hơn ba tháng trời, hôm nay lại nối vào thân người. Toàn thân lại sung sức.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND)