10.7.25

Đài VMD vẫn còn

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Mặt trận vỡ. Giặc đã đến cửa thị xã. Lệnh rút vào rừng.

Đeo bạc đà lên! Mau, đi!

Ba anh em cùng nhỏm lên, tay cùng với bạc đà, nhưng sáu mắt nhìn nhau, không ai bảo ai, cùng buông bạc đà xuống; hai người khênh cái máy, một người ôm bộ phát điện, rùng rùng ra đường. Anh em, ai cũng nai nịt chỉnh tề, súng lăm lăm trong tay, còn ba người thì cứ lẵng nhẵng, kẻ trước, người sau, đoạn dây truyền điện cứ lòng thòng như cái dây rau của đứa bé đẻ rơi ấy vậy.

Nhưng chúng nó đã theo sát, đạn đã vèo vèo, lá cây rụng tua tủa. Mà tổ ba người còn khệ nệ đằng sau. Đồng chí chỉ huy thét:

- Thôi, bỏ máy ra, chạy lấy người đã!

Bỏ xuống. Nhưng chạy được dăm bước thì An quay lại, mở máy, vặt vội mấy cái đèn, rút cái tụ, mấy cái kháng, Bẩy cũng tháo chân máy phát điện, quẳng đi, ôm tròn cái sọ vào lòng, chạy vù vù. Vừa chạy, An vừa chuyển bớt số đèn cho Sáu; mỗi người giữ mấy cái, để nếu người nọ làm sao thì còn người kia.

Nửa đêm, nghỉ chân một chút, không thấy Sáu đâu. Có người nói Sáu đã hy sinh ở chỗ cửa rừng. An xăm xăm quay lại tìm bạn, nhưng mọi người giữ lại, vì đằng nào thì Sáu cũng mất rồi, mà quay lại lúc này, nguy hiểm quá.

Từ đêm ấy trở đi, An đi trước, Bẩy đi sau. Tay An cứ nắm chắc mấy cái đèn, Bẩy cứ ôm cái sọ dừa. Một người đi, một cái bóng theo. Ai hỏi, họ không mở mồm nói ra nửa lời nữa. Anh em ái ngại, bảo nhau: Họ mất hồn rồi! Người vô tuyến điện có cái máy, mất máy là họ mất hồn, còn gì nữa.

Đã đến rừng già, nơi làm chiến khu được. Mọi người làm lán; An và Bẩy cũng làm. Làm hăng, có lúc cũng có người vui, nhưng An và Bẩy thì cứ lùi lũi như người câm, người điếc ấy...

Ai cũng nhận thấy rằng vào hai lúc, sáu giờ sáng và sáu giờ chiều, là họ đau khổ nhất. Chả là, những giờ ấy, là những giờ phiên việc của họ trước kia. Trước kia, cứ sáu giờ, không sai một phút, là An lên máy, Bẩy quay ro ro. An dạo tý tách, lắng nghe, rồi đánh lia đánh lịa. Đánh chán, lại tai nghe, tay viết, hết tờ này đến tờ khác. Xong mỗi tờ, Sáu hớt hơ hớt hải chạy đến trình Ban chỉ huy. Miền Bắc xa xôi, nhưng có những tờ giấy mà Sáu đưa ấy, Ban chỉ huy nắm rõ tình hình cả nước, tình hình phong trào, nhận được chỉ thị, vì thế mà hoạt động phấn khởi.

Đến bây giờ..., đơn vị lạc lõng trong rừng sâu, nhìn về phía Bắc, ngàn cây thăm thẳm. Sáu giờ sáng, vừa bình minh, chim đã kêu, An cứ cất tay lên xem đồng hồ, đếm từng phút, đúng đến phút 60, đưa tay ra, rồi lại rụt lại như vừa mới đụng phải dòng điện. Khổ nhất là phiên sáu giờ chiều, lại chính là lúc đồng chí tiếp tế dọn cơm ra. An không ăn, Bẩy cũng không ăn. Bảo sao họ cũng không nuốt trôi được bữa chiều. Chiều nào cũng thế.

Anh em thương lắm, rình lúc An ngủ, lấy cắp chiếc đồng hồ của hắn, giấu biến; nhưng không cần đồng hồ, cứ đúng sáu giờ, là hắn cứ ngồi thần người ra.

*

Mấy hôm nay, An với Bẩy, cái tổ ba người mà chỉ còn hai ấy, bỏ không đi làm. Hai người ngồi châu đầu cạnh chỗ bếp gio, bày mấy cái đèn ra, rồi lấy que vạch xuống đất, như tuồng trẻ nhà nghèo học toán vậy. Họ vẽ ngoằn, vẽ ngoèo, tính tính, toán toán, rồi ngủ quay ngay ra đó, sợ ai xóa hay quét bản vẽ đi mất chăng. Hôm sau, An cứ nằn nèo mãi, Ban chỉ huy đành phải cho đi và dặn phải cẩn thận. Vừa hết phép, hai người dắt nhau về, đói gần chết, nhưng trong mắt họ có cái gì vui vui, làm ai cũng phải để ý.

Cơm xong, hai anh em biến mất.

Họ đưa nhau vào rừng thật sâu, giở bọc ra, có hai ba cuộn dây, một mảnh ván. Mỗi người chỉ có một con dao con, nhưng họ cắt dây, nạo dây, làm mỏ hàn. Bốn năm hôm, những người tò mò cũng không làm sao biết được họ làm gì. Ai hỏi, thì họ giơ ngón tay trỏ lên ngang môi: "Bí mật quân sự".

Chiếc máy đã thành hình. Nhưng càng gần đến lúc xong, thì hai anh em lại càng lo lắng. Đứt liên lạc hơn một tháng trời rồi; biết rằng các đồng chí ngoài ấy có còn gọi mình nữa không? Khố tâm, nếu máy mình xong, mà lại không liên lạc được. Có lẽ nào lại thế. Mình nóng ruột, các đồng chí chắc còn nóng gấp mười, vì không biết được số phận tụi mình ra sao. Nếu luồng điện mà phát được ra tiếng, thì cứ sáu giờ, chắc những tiếng vo ve ai oán, cứ văng vẳng gọi trên không, tiếng anh em vô tuyến điện ngoài kia gọi những người "đồng chí".

Thế cũng là xong. Bẩy nhanh như điện, chạy về lán, lấy cái sọ dừa ra, không có chân, thì lấy dây rừng cột vào gốc cây, rồi quay lấy quay để. An nhẹ tay xoay cái tụ, một hơi thở nhè nhẹ phát ra. Một người cha đang lay đứa con đã lạnh, mà thấy nó thở lại, chắc cũng vui sướng được đến thế này là cùng. Cái máy sống. Cái máy chạy rồi!

Như những người đã chiến thắng một trận oanh liệt, hai anh em loạng choạng, đem máy về lán. Cả trại xúm quanh, nửa vui vui, mà nửa cũng cứ ngại ngại. Cái hộp sù sì này, mà làm vô tuyến điện được ư? Không nói, không rằng, hai người cứ thử đi, thử lại, đợi cho đến sáu giờ, để qua cuộc thử thách cuối cùng; cuộc thử khó khăn, vì không có đồng hồ đo điện, thì làm thế nào mà lấy cho được đúng độ số.

Sáu giờ đến, Bẩy quay đều đều, trịnh trọng, như người từ nhỏ đến giờ, lần thứ nhất, quay một cái máy phát điện bằng vàng, trước toàn thể quân đội. Mồ hôi đầm người. An quay cái tụ, lắng tai... tích tích tích ta... Đúng chữ V rồi, các đồng chí vẫn gọi, VMD... VMD... VMD...

Tiếng gọi lo âu, tha thiết, cứ lanh lảnh: VMD... VMD... VMD...

An kêu to: VMD đây, VMD đây mà! Nhưng tiếng vẫn gọi VMD... VMD... nghe như dội nước sôi vào ruột. Chao ôi! Các đồng chí đã không quên mình; đúng giờ, các đồng chí vẫn gọi; tiếng gọi mỗi lúc càng gấp gáp. Trong thành phố, đêm lạnh ngắt, tiếng bà mẹ gọi con lạc... Về em ơi!... Về em, con ơi... Tiếng bà mẹ Tổ quốc gọi đứa con không biết mệnh hệ thế nào! Con nghe tiếng mà không sao trả lời được...

Vì cái máy mà An và Bẩy làm xong, nó chỉ là một cái máy thu. Trong túi An chỉ còn có đèn thu; mấy cái đèn phát đã hy sinh với Sáu mất rồi.

Hoàn thành chiếc máy. Thắng lợi! Nhưng thắng lợi lại càng thấy đau khổ, não ruột thêm. Sáu giờ, lại cứ đem ra nghe: VMD... VMD... cảm được sự nhớ thương của đồng chí mình, dòng máu đã ngừng chảy, nay lại thấm đến tận cái mạch xa xôi này rồi. Nhưng trả lời,... phải trả lời mới được.

*

An trình bày với Ban chỉ huy, xin lẩn về Sài Gòn, tìm đèn phát. Nguy hiểm thì đỡ hẳn rồi, nhưng còn khó khăn hơn nguy hiểm, vì đèn phát không bao giờ có bán trong các hiệu. Thế đành không trả lời ư? Không trả lời thì đồng chí mình không biết; không biết thì không gửi điện! Thế thì làm thế nào xin được chỉ thị của Trung ương. Đói, khổ, thiếu vũ khí, tất cả những cái ấy đều chịu được. Nhưng thiếu chỉ thị của Trung ương thì không thể nào mà chịu được.

Râu An đã mọc dài, người đã hom hem. Về đến thành, ai mà còn nhận ra được nữa. Nhưng làm thế nào mà có được cái "đèn thần" kia cho chứ. Nghĩ mãi. Vào các hiệu to, may ra tìm được; nhưng hiệu to, chắc đâu người ta chịu giúp mình. An cứ lân la ở những cửa hàng chữa máy nhỏ, ở các ngõ xa. Mà như thế là phải. Một người thợ nhìn kỹ, gọi sẽ: An, đói ư?

- Không đói. Tìm cái này.

Biết chắc là bạn cùng nghề sẵn sàng giấu cho mình, An mới ngỏ ý. Của hiếm thật, nhưng bạn sẽ lục trời đào đất mà tìm cho ra. Rồi trong một hàng đồ cũ, bạn kiếm được một cái máy nát mà một tên lính Nhật đã đem bán rẻ, vặn được cái đèn đem về. An xin được đủ đồ, bọc làm nhiều gói, đem dần ra, giấu ở một cái miệng cống ngoài thành. Quý hóa hơn nữa, là người bạn đã nhận công việc mua đồ, để sau này có người chiến khu ra lấy về.

Đến trại, báo cáo xong, An tìm Bẩy, hỏi ngay: VNA vẫn gọi chứ?

- Vẫn gọi.

Chỉ hai ngày sau, chiếc máy phát làm xong. Dây dợ tử tế, nhưng nó mới chỉ là một chiếc máy phát một đèn, mà một đèn đã già rồi. Cứ lên một tý lại gọi VNA, VMD đây. VNA, VMD đây. Nghe, gióng mất ba phiên, mới nhận được câu trả lời: VMD... VMD... VNA đây!

Bẩy và An cùng hét lớn: Liên lạc rồi! Liên lạc rồi!

Đồng chí chỉ huy lập tức đến bên máy, đồng chí mật mã dịch ngay, lập tức gửi ngay bức điện thứ nhất, và nửa giờ sau nhận liền được điện trả lời.

Tất cả mọi người, ai cũng muốn gửi một câu vào bức điện thứ nhất ấy, mà không dám nói ra. Điện trả lời, vừa dịch xong tại chỗ, đồng chí chỉ huy tươi hẳn mặt lên, cả trại tươi hẳn lên, xúm lại công kênh đồng chí chỉ huy, công kênh đồng chí An và đồng chí Bẩy.

Niềm tin ở thắng lợi làm bật ra trên các khuôn mặt xanh xao.

Những cái chân, những cái tay, bị chặt ra hơn ba tháng trời, hôm nay lại nối vào thân người. Toàn thân lại sung sức.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND) 

0 comments:

Đăng nhận xét