19.6.25

Khối nữ Thông tin (mến tặng các nữ quân nhân Binh chủng Thông tin)

Nguyễn Tất Thắng

Nước da trắng nõn trắng nà

Mỏng mày, hay hạt như là dáng Tiên

Khối em là nữ Thông tin

Thăng Long ngàn tuổi diễu binh chào mừng

Xốn xang, háo hức bừng bừng

Thức khuya, dậy sớm, nắng nung, mưa tràn

Ngàn năm mới có một lần

Vượt lên tất cả chuyên cần hăng say!

Trước sau dư cả trăm ngày

Cái chân thẳng tắp, cánh tay vung đều

Ăng ten lá lúa dập dìu

Quân dung ...! Quân phục ...! Đáng yêu quá chừng!

Đúng là con cháu Bà Trưng!

Con cưng Binh chủng! Khối cưng Quốc phòng

Ra về em có biết không?

Khối em tỏa sáng muôn lòng dõi theo.

10-10-2010

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)

Chiến dịch "Cordless Telephone"

Đinh Văn Đạt

Bộ phận "dịch vụ kỹ thuật" của Sigelco chúng tôi tổ chức kinh doanh một số thiết bị thông tin liên lạc, trong đó có máy điện thoại kéo dài. Việc này giao cho cô Tư, cô Trà, có sự trợ giúp của cô Minh Nguyệt, làm văn thư tại mặt tiền của Văn phòng cơ quan, chỉ bày bán cho khách vãng lai theo phương châm "năng nhặt chặt bị". Thời gian ấy trên thị trường Việt Nam đã có nhiều máy điện thoại kéo dài, nhưng chỉ là những loại có cự ly vài trăm mét.

Một hôm, anh Điệp, nguyên Phó Tổng giám đốc Sigelco, đi họp với Tổng công ty Đá quý Việt Nam, mang về một quyển catalog bằng tiếng Anh giới thiệu máy điện thoại kéo dài có cự ly đến 30km, hiệu SENAO-900U. Tôi đọc và thấy rằng, đây đúng là mặt hàng có tiềm năng, liền đề xuất mua máy mẫu thử nghiệm. Anh Điệp liên hệ mua 5 bộ máy, với đầy đủ feeder 50W dài 30m và ăngten thu phát đúng ở bên Đài Bắc qua "điện đàm", rồi nhờ Tổng Giám đốc đá quý Việt Nam mang về hộ, theo kiểu "hàng xách tay".

Tôi cho triển khai ăngten ngay trên nóc nhà một tầng của văn phòng cơ quan để liên lạc thử nghiệm. Nguyễn Đình Chúc và Hoàng Tiến Cương được cử đèo nhau bằng xe máy, cầm theo điện thoại sang bên Cầu Đuống, đi lên thị trấn Phùng và khắp thành phố Hà Nội để gọi về. Tuy ăngten "máy mẹ" chỉ cao được 12m, nhưng cự ly liên lạc đã đến 10km đường chim bay.

Chỉ mấy ngày sau, Công ty Xuất nhập khẩu trên thị xã Yên Bái đặt hàng lắp một bộ kéo dài loại này. Tôi tìm mua được một cột "ăngten rút" của xe thông tin cơ động P104 (Liên Xô), cao 9,7m, có 6 đốt với 3 tầng dây co bằng dây dù. Trước khi tôi đi, sếp giao chỉ tiêu: "Cậu mà thanh toán với họ được 2.500 USD thì anh em ta có lãi to".

Để tổ chức lắp đặt cái máy điện thoại kéo dài ấy, Công ty Xuất nhập khẩu đưa hẳn xe ô tô 7 chỗ ngồi đón tôi đi. Anh Giám đốc tiếp tôi trong bộ "complet cravat" rất trịnh trọng, kèm theo đề nghị: "Anh cần bao nhiêu người phụ giúp anh cứ nói".

Lắp đặt ăngten xong, Giám đốc trực tiếp điều khiển "máy mẹ", tôi và các anh phụ giúp cầm "máy con" đi liên lạc thử. Chúng tôi phải đến những nơi theo yêu cầu của Giám đốc Công ty đó thì thấy ở mọi cự ly trong vòng 25km đều liên lạc tốt. Tối hôm ấy, họ chiêu đãi tôi rất thịnh soạn và thanh toán cho tôi 3.000 USD.

Sau đó, chúng tôi nhanh chóng có thêm khách hàng đặt lắp đặt. Chúng tôi đặt thêm cả SENAO-768, SENAO-315 để lắp đặt và bán cho khách hàng, thậm chí cả BRATHER 629 mới đủ cung cấp cho thị trường. Về sau lại nhập thêm SENAO CT-8 với cự ly đến 40km để làm "trung kế một đường" cho các tổng đài nội bộ của những cơ quan, xí nghiệp.

Chúng tôi lắp đặt nhiều đến nỗi, không còn cột ăngten rút 9,7m của Liên Xô để lắp dựng cột ăngten trên nóc nhà cao tầng nữa, phải chấp nhận mua cột ăngten 6,8m, rồi phải vận dụng cả "cánh sóng rađa" bằng "nhôm tuýp" của Liên Xô (dài 2,7m, đường kính 35 ly). Chúng tôi thuê thợ gia công các khớp nối để có 4 đốt cao 10,8m. Thế là anh em tha hồ đi lắp dựng cột và bán thiết bị "cordless telephone" (điện thoại không dây, thường được gọi là điện thoại kéo dài hoặc các loại nhỏ trong gia đình gọi là máy mẹ-con - PV).

Có thể nói, ngày ấy Sigelco nhộn nhịp hẳn lên vì chiến dịch điện thoại kéo dài này. Có thời gian "bí" không đủ người đi lắp đặt, tôi phải điều cả nhân viên tin học, chuyên lập trình cho tổng đài là Đỗ Trường Duy, Lê Hoài Nam, thậm chí có hôm phải nhờ cả Nguyễn Mạnh Bằng bên Phòng Đầu tư sang giúp sức. Ngày ấy Sigelco đã làm chủ thị trường loại máy này. Đến khi trong nước đã tràn ngập loại máy ấy thì chúng tôi lại chuyển sang mặt hàng khác, điện thoại kéo dài lại chỉ bán cầm chừng cho khách vãng lai ở cửa hàng của cô Tư, cô Trà mà thôi.

Giờ đây, khi điện thoại di động đã quá quen thuộc và thuận tiện thì có lẽ nhiều người sẽ không hiểu được giá trị của chiếc máy điện thoại kéo dài hồi ấy, để biết được chúng tôi "có giá" như thế nào.

Chúng tôi nhận ra rằng, muốn thành công trong kinh doanh thì phải nắm bắt được xu thế và phải biết chớp lấy cơ hội khi nó xuất hiện.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Dịch vụ điện thoại ITT

Đinh Văn Đạt - Ủy viên thư ký Hội Truyền thống Tập đoàn Viễn thông Quân đội

Bấy giờ Trung tâm Dịch vụ kỹ thuật do tôi phụ trách đã được bổ sung nhân lực lên tới hơn hai chục người được chia làm các tổ, phân công nhiệm vụ khác nhau. Tổ kỹ thuật công nghệ do đồng chí Tống Viết Trung (giờ là Phó Tổng giám đốc Tập đoàn) phụ trách, chuyên thực hiện các nhiệm vụ kỹ thuật của Binh chủng giao cho Tổng công ty và lắp đặt các loại thiết bị của Motorola để thử nghiệm và làm dịch vụ. Ngoài ra còn tổ chức lắp đặt tất cả các loại tổng đài cho các cơ quan, xí nghiệp; tổ lắp đặt máy điện thoại kéo dài, máy fax, tổng đài cỡ nhỏ 8 số trở xuống; tổ cửa hàng và hành chính.

Một hôm, tôi có anh bạn rủ ra quán bia Halida ở Trịnh Hoài Đức và nói rằng, bạn anh ta là Việt kiều ở Mỹ, dẫn mấy "ông Tây về ta" và có một số lượng rất lớn điện thoại qua sử dụng, muốn tiêu thụ ở Việt Nam... Anh bạn tôi cho biết là 36 vạn điện thoại ITT (một loại điện thoại cơ của các nước Bắc Mỹ đã vào Việt Nam, nhưng Tổng cục Bưu điện không cho phép tiêu thụ nên họ như đang ngồi trên đống lửa, hỏi tôi xem có cách nào không. Tôi điều tra kỹ thì biết rằng, sáu người, gồm cả người Mỹ, Ca-na-đa và một người Việt Nam thành lập Công ty Lucky Six (sáu người may mắn) thực hiện dịch vụ đưa tất cả các điện thoại "secondhand1" ở Mỹ, Ca-na-đa về Việt Nam để tiêu thụ. Tổng cục Bưu điện không cho phép đấu nối loại điện thoại cơ này vào trong mạng của tổng đài E10, vì điện áp chuông của loại điện thoại này lớn hơn 20% điện áp nguồn của tổng đài.

Lúc đó, ở Việt Nam còn đang phải đi mua ti-vi "bãi", xe máy "bãi" về để bán mà còn đắt như tôm tươi, nữa là điện thoại - đang là "vật trang trí nội thất" trong gia đình. Sau mấy ngày nghiên cứu, tìm cách "lách luật", tôi quyết định bán thăm dò. Việc gì cũng phải do thị trường quyết định. Nếu thị trường chấp nhận thì chẳng sợ gì nữa. Tổng đài E10 của Bưu điện mới có ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, còn những 60 tỉnh, thành khác vẫn dùng tổng đài nhảy nấc (thời đó, Việt Nam chỉ có 62 tỉnh, thành).

Gặp người Việt Nam trong nhóm "Lucky Six" đó, té ra là bạn học cùng trường với tôi ở cấp 3 Chu Văn An.

Bàn bạc cụ thể, bạn tôi đưa trước 200 máy để bán thử với giá 75.000 đồng/máy. Lô hàng này sau mấy tháng lênh đênh trên biển để sang ta thì cũng có một số bị trục trặc kỹ thuật. Quản đốc phân xưởng điện thoại của Nhà máy M3 là Lưu Hồng Vân đang nghỉ chờ hưu chủ trì sửa chữa, bảo dưỡng. Những máy đầu tiên bảo dưỡng xong, tôi cho bầy trên quầy bán hàng. Cô Trà vội hỏi tôi: "Giá bán thế nào anh?". Tôi phân tích: "Đã là bán thăm dò, thì ta cứ giá cao mà "hét", khách hàng mặn mà thì cứ lui dần, lui dần, lui cho đến khi bán được thì dừng lại. Nếu bán được trên 80.000 đồng/cái là ta đã có lãi".

Chỉ một giờ sau đã có khách hỏi mua. Trà bán được 130.000 đồng/cái (hồi đó, máy điện tử giá khoảng 150.000 đồng/cái). Tôi quyết định, cái máy đầu tiên bán được, thưởng cho mấy chị em ăn trưa hôm đó (ăn trưa khi đó chỉ hết 5.000 đồng/suất cơm bình dân). 200 máy đầu tiên ấy được bán hết trong vòng một tuần. Tôi quyết định nhận thêm 1.000 máy, nhưng đề nghị đối tác giảm giá xuống 70.000 đồng/cái do lấy lô lớn, vả lại họ cũng mới chỉ tiêu thụ được thông qua mình. Họ đành phải chấp nhận và anh bạn của tôi hỏi: "Ai dạy ông về kinh doanh mà ông sành sỏi vậy?". Tôi trả lời: "Thị trường". Thế là dịch vụ điện thoại ITT được khởi động. Tôi nghĩ ngay đến mạng thông tin của đường sắt - bạn hàng truyền thống của chúng tôi. Anh Trưởng phòng Thông tin của họ đặt trên bàn ba loại máy của Đức, Liên Xô và Trung Quốc để so sánh với máy ITT. Tất cả mọi tính năng thì ITT đều thỏa mãn, riêng chuông thì trội nhất, rất phù hợp cho các nhà ga xe lửa. Tổng Giám đốc Xí nghiệp Liên hiệp khu vực 1 quyết định mua và giao cho Phòng Thông tin nhận mỗi đợt 500 chiếc để trang bị cho tất cả các ga. Nhưng khi thực hiện, có tháng họ nhận đến mấy ngàn chiếc.

Cửa hàng 16 Cát Linh sôi động hẳn lên. Tư, Vân, Trà bán hàng và sửa chữa, bảo dưỡng "tối mắt, tối mũi" nhưng tinh thần thì phấn khởi vô cùng. Thời gian đó, nhân viên của Bưu điện cũng đến mua để thay thế cho khách hàng của họ. Thấy vậy, tôi liền hỏi: "Tổng cục không cho lắp vào mạng, sao các anh lại mua?". "Dân cần thì chúng tôi phải lắp, biết làm sao được". Thế mới biết, khách hàng mới là người quyết định.

Các tỉnh, các thành phố khác cũng về liên hệ mua. Bộ tư lệnh Thông tin cũng quyết định sử dụng loại máy này... Trước nhu cầu lớn của khách hàng, Tổng cục Bưu điện buộc phải cho phép các tỉnh, thành phố chưa có tổng đài kiểu E10 được lắp điện thoại ITT thì nhu cầu của khách hàng đã bão hòa. Kinh doanh là thế. Tầm nhìn quyết định thành, bại.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)

----------------------------------------------

1 Secondhand: Tiếng Anh có nghĩa là đã qua sử dụng. 

Con gái 66

Đỗ Thị Thái - nguyên chiến sĩ Đại đội 3 Tiểu đoàn 77

Con gái 66, cái tên mà chúng tôi vẫn nói về mình vì ngày 30 tháng 6 năm 1966 là ngày nhập ngũ của hơn 70 cô gái chúng tôi từ các nơi. 50 cô từ quê hương của nữ du kích Hoàng Ngân - Hưng Yên. 13 cô ở Gia Lâm – Hà Nội và 10 cô quê Bắc Thái. Chúng tôi là lớp con gái đầu tiên Binh chủng Thông tin tuyển chọn đưa về Tiểu đoàn 77, nhưng là lớp chiến sĩ đi sau các chị được Binh chủng tuyển thẳng từ Trường Trung cấp Bưu điện Hà Nam năm 1965.

Ngày 29 tháng 6 năm 1966, giặc Mỹ ném bom bắn phá kho xăng Đức Giang (đây là điểm đầu tiên Mỹ ném bom Hà Nội), thì tối ngày 30 tháng 6 năm 1966, chúng tôi có mặt tại Trường Hậu cần ở Gia Thượng - Ngọc Thụy - Gia Lâm.

Đại đội huấn luyện của chúng tôi gồm 2 trung đội và 8 tiểu đội. Chú Hoè là Đại đội trưởng, chú Trác là Đại đội phó, chú Bình là Chính trị viên... Chúng tôi gọi các thủ trưởng là chú vì hồi đó chúng tôi còn rất trẻ, người nhiều tuổi nhất là 19, 20; ít nhất là 16 còn đại đa số là 17 tuổi.

Đêm đầu tiên xa nhà, buồn, vui lẫn lộn. Vui nhất là hôm nhận quân trang. Lúc mặc thử quân phục, có chị mặc ngược đằng trước ra đằng sau, có chị đi giày trái chân, có chị mặc quần áo tới số 3 vẫn còn dài như các chị Thơm, Lành; có chị mặc quần áo số 1 vẫn còn ngắn như chị Lệ. Khoác những bộ quần áo còn thơm mùi hồ trên mình chị nào chị nấy chững chạc hẳn lên.

Những ngày sau đó chúng tôi bước vào tập đội ngũ và bắn súng. Vì phải sơ tán, sáng chúng tôi hành quân đến thôn Bắc Cầu, nơi đầu nguồn của sông Đuống quê tôi với những rặng nhãn xum xuê đẹp mắt; vì còn trẻ nên chúng tôi làm quen rất nhanh với nội quy và cũng rất lạc quan yêu đời. Trong giờ giải lao thường chúng tôi được nghe chị Thơm và chị Loan (Sàng) hát chèo, các chị Thuý Nga và Ngọc Phượng hát những bài tình ca thật là mượt mà, trong trẻo. Dù mặc quân phục nhưng nhiều chị như chị Lý, chị Yến, chị Thuân, chị Phượng... vẫn rất thích thả những bộ tóc dài trông thật mượt mà đáng yêu.

Những ngày học đội ngũ và học chính trị, chúng tôi được thủ trưởng Duyện, thủ trưởng Thành là các thủ trưởng tiểu đoàn đến nói chuyện về truyền thống của Binh chủng Thông tin liên lạc, xác định nhiệm vụ cho chúng tôi. Vào một buổi tối, chúng tôi hành quân qua cầu Long Biên sang trường cấp 3 Nguyễn Trãi (đối diện với cơ quan Bộ tư lệnh Binh chủng bây giờ) để nhận nhiệm vụ chuyển gạch từ Nhà máy gạch Đại La về xây Sở chỉ huy Binh chủng. Ban ngày lao động vất vả, tối lại thường xuyên có báo động nhưng chúng tôi vẫn rất vui và lạc quan. Thời gian này, máy bay Mỹ bắn phá miền Bắc rất ác liệt, Thủ đô Hà Nội cũng liên tục bị ném bom. Chúng tôi lại phải sơ tán lên Ba Vì. Nơi chúng tôi đến sơ tán là một bản của người dân tộc Mường ở tận chân núi Ba Vì. Chúng tôi đi bằng ô tô. Sáng dậy, thấy núi ở ngay cạnh nhà. Ai cũng ngơ ngác vì đây là lần đầu tiên chúng tôi thấy núi và mây ở ngay sát trên đầu. Xóm chúng tôi ở có tên là Vân Sơn. Chúng tôi thi nhau chạy ra chân núi hái những quả sim chín mọng. Thật là vui vẻ.

Ở Vân Sơn, hàng ngày chúng tôi phải lội qua một con suối nhỏ để sang sườn núi phía bên kia bản tập bắn súng, tập lăn lê, bò toài, tập đào hầm..., những bài tập đầu tiên của một tân binh. Chú Dần, người quản lý đơn vị đọc cho chúng tôi nghe một câu thơ rất hay:

"Vân Sơn mây núi trập trùng

Non xanh, nước biếc ta đừng quên nhau!".

Qua một thời gian huấn luyện quân sự, cái nắng, cái gió của Ba Vì làm cho chúng tôi ai cũng cứng rắn hẳn lên và có một nước da sạm nắng. Các chị Tẽm, Hoài đã có sẵn nước da bánh mật thì nay lại càng săn chắc hơn lên. Còn như chị Minh và một số các chị khác vốn có nước da trắng hồng thì nay trông đã rắn rỏi lên nhiều. Đến hôm bắn đạn thật, ai cũng rất phấn khởi vì kết quả đạt rất tốt. Người đạt điểm cao nhất là 29 điểm, thấp nhất cũng đạt 15 điểm, riêng tôi đạt 26 điểm!

Sau hôm bắn đạn thật, chúng tôi chia tay nhau. 20 người về Đại đội 3 trong đó có tôi, 20 người về Đại đội 5, còn lại về Đại đội 4. Số về Đại đội 3 và Đại đội 5 học báo vụ còn số về Đại đội 4 thì học tổng đài và tải ba.

Những ngày đầu về đại đội, do chưa có nhà riêng cho nữ, nên chúng tôi ở trong nhà dân thôn Mỹ Lâm. Sáng hành quân về hội trường học tập, hội trường nằm ở dưới một rặng tre già, phía sau nhà đại đội. Ngỡ ngàng với các ký hiệu tịch, tà (morse). Khi tập phát tín hiệu bằng mồm, ai đó đọc sai, thừa ra một tịch hay một tà thì cả lớp cùng cười vang. Ở Mỹ Lâm được ít ngày, chúng tôi được chuyển về ở tập trung trong ngôi nhà dành riêng cho nữ với 20 cái giường và một cái giếng rất trong ở dưới chân đồi. Về đây, ngoài học báo vụ, chúng tôi còn phải lao động đào hào, làm đường đi. Ngày chủ nhật được nghỉ học, nhưng tuần nào cũng phải vào rừng lấy củi, cứ mỗi người một gánh từ rừng qua Đại đội 5, qua nông trường Việt Phi mất khoảng gần 10km mới về tới nhà. Tuy vất vả, song chúng tôi vẫn hăng hái học tập và rèn luyện.

Tết Nguyên đán năm 1967, Tết đầu tiên xa nhà. Các thủ trưởng sợ chúng tôi nhớ nhà nên tổ chức đón Tết ngay ở nhà nữ, làm cây thông, hái hoa dân chủ với nhiều trò chơi rất vui vẻ. Đến giao thừa, cả đơn vị nghe Bác Hồ chúc Tết, lúc ấy sao mà thiêng liêng thế, dù có nhớ nhà đến mấy cũng không có ai dám khóc, chúng tôi thấy mình đã lớn hơn bởi nhiệm vụ thông tin liên lạc cao quý lắm. Sáng mùng 1 và các ngày sau đó đơn vị tổ chức các trò chơi chạy, kéo co và bóng chuyền, ai nấy đều vui vẻ, phấn khởi.

Qua Tết được ít ngày, kết thúc khoá học, chúng tôi lại chia tay nhau. Tám chị về Trung đội 1 ở Hà Nội, tôi và 10 chị ở lại Trung đội 2 ở An Thành.

Những ngày đầu vào buồng thu, cắm cáp phụ nghe các anh trong tiểu đội làm việc, tôi nghe chưa quen vì tín hiệu khác xa khi chúng tôi học. Tiếng "tịch, tà" ở đây nhanh như chim hót, tín hiệu lúc được, lúc mất. Rồi công việc cũng quen dần, chúng tôi từ đảm nhiệm được các phiên đơn giản, ít điện phát đi hay nhận về, rồi lên các phiên khó hơn.

Thời gian này, tôi và các bạn ở c3, c4, c5 cũng đã đảm nhận một phần công việc để thay thế các đồng chí nam giới đi chiến trường. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, cả đơn vị làm việc căng thẳng, cứ xuống hầm là đeo cáp, không khí trong buồng thu rất nhộn nhịp; điện phát, điện thu quá nhiều, độ khẩn hầu hết là TK, TK dịch ngay. Ngoài giờ làm việc ở buồng thu về, chúng tôi vẫn tranh thủ tăng gia rau xanh và trồng sắn để cải thiện bữa ăn hàng ngày.

Sau cuộc Tổng tiến công Mậu Thân, ai trong chúng tôi cũng tự hào là mình đã được đóng góp một phần nhỏ bé vào chiến công chung. Các chị nhập ngũ năm 1965 có chị Lơi, chị Thành là vận động viên đi thu phát báo quốc tế, còn con gái 66 chúng tôi có các chị Vương Thị Ngọc Phượng, Nguyễn Thị Thịnh có thành tích 10.000 nhóm điện không sai sót, được toàn quân học tập. Chị Thịnh còn vinh dự được Bác Hồ tặng huy hiệu.

Giặc Mỹ càng điên cuồng bắn phá miền Bắc, Trung đội 1 ở trong thành sơ tán lên An Thành, thế là chúng tôi lại gần nhau, cùng làm việc và thay nhau đi lao động để xây dựng cơ sở cho Đại đội 3 sau này.

Trong các phong trào thi đua của Bộ tư lệnh và của đơn vị, nữ 66 chúng tôi luôn tham gia nhiệt tình, nhiều chị đạt thành tích cao, được tặng Bằng khen, Giấy khen.

Đến giữa năm 1968, do yêu cầu nhiệm vụ, 13 chị: Hải, Chính, Thuý, Nga, Hoài, Lê, Lý, Tươi, Hiền, Nhạn, Hồng, Chí và tôi được điều động về đội kiểm soát vô tuyến điện (nay là Trung tâm kiểm soát vô tuyến điện), để thay thế cho một số anh đi chiến trường tiếp. Về đây chúng tôi không trực tiếp làm công tác thông báo, mà chỉ theo dõi các phiên liên lạc vô tuyến điện của các mạng, phát hiện các sai sót giúp Cơ quan Tham mưu Binh chủng kịp thời chấn chỉnh uốn nắn.

Ít tháng sau, một số chị em lại về Cục Bảo vệ Bộ Quốc phòng như: Yến, Vinh, Đam, Lệ, Thao. Lúc này Tiểu đoàn 77 đã tuyển nữ 68 vào thay thế chúng tôi.

Cuối năm 1969, Bộ tư lệnh cho một số chị em đi học ôn văn hoá thi vào các trường đại học và trung cấp. Đầu năm 1970, tôi cùng một số chị cũng được đi học trung cấp y. Từ đó, người đi học, người chuyển ngành ở nhiều nơi khác nhau gần như sự liên hệ với nhau rất ít, trừ một số chị ở Hà Nội.

Cho đến ngày 30 tháng 6 năm 1996, chúng tôi tổ chức họp mặt kỷ niệm 30 năm ngày nhập ngũ (ở nhà chị Từng). Lần đầu tiên tập hợp được gần 20 chị, chị Sâm (Hưng Yên), chị Loan (Nam Hà) cũng về. Tuy chỉ là một số ít trong tổng số nữ 66, nhưng cũng đủ nói lên tình cảm của chị em sau những ngày bặt tin nhau; kẻ khóc, người cười thật cảm động. Chúng tôi ai cũng thương Lý, vì Lý là người không may mắn nhất; chỉ do một sơ suất nhỏ của đồng đội, Lý đã phải vĩnh viễn để lại một chân trên đất An Thành. Hiện tại Lý cũng đã có gia đình và những đứa con ngoan, biết yêu thương chăm sóc mẹ, nhờ đó mà chúng tôi cũng yên tâm và mừng cho Lý.

Gặp nhau chúng tôi mới biết, sau những ngày rời quân ngũ trở về cuộc sống đời thường, với nhiều ngành nghề khác nhau, chị em đều phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp "Bộ đội Cụ Hồ". Năm chị (Thúy Nga, Khánh, Diệu, Yến và tôi) tốt nghiệp đại học; chị Sâm (Hưng Yên) là Chủ tịch Công đoàn Bưu điện tỉnh; chị Ngâm là Chủ tịch Phụ nữ xã; chị Nga tham gia công tác ở phường; chị Vũ Thị Phương, chị Minh rất thành đạt trong kinh doanh. Chị Gái, một sĩ quan chính trị - cán bộ đại đội thuộc Tiểu đoàn 78 quân bưu đã chuyển ngành về làm việc tại huyện ủy Gia Lâm. Năm cô con gái "rượu" của chị Từng đều học giỏi và tốt nghiệp đại học, các cháu rất thành công trong nghề nghiệp. Còn nhiều chị em khác ở nhiều địa phương mà tôi không thể kể hết được tên; có thể nói rằng, với chúng tôi những cô gái 66 năm xưa dù ở đâu, làm gì đều gương mẫu, nhiệt tình hoàn thành tốt nhiệm vụ trên từng vị trí công tác và đều thành đạt. Đặc biệt chị nào cũng có gia đình riêng rất hạnh phúc.

Ngày 30 tháng 6 năm 2006, chúng tôi tổ chức kỷ niệm 40 năm ngày nhập ngũ ở Đầm Long - Sơn Tây và có về thăm lại Mỹ Lâm - nơi đơn vị sơ tán ngày xưa. Bây giờ tất cả chúng tôi đều nghỉ hưu và đã lên chức bà nội, bà ngoại; cũng có chị đã mất vì bệnh tật. Dù ở tuổi nào, khi gặp nhau chúng tôi đều thấy mình trẻ lại như buổi ban đầu mới vào quân ngũ.

Theo dòng năm tháng, những kỷ niệm tuổi mười chín, đôi mươi, tuổi tràn đầy nhựa sống của những năm tháng chiến tranh và những buổi vào ca, những phiên liên lạc với những tiếng "tịch", tiếng "tà" vẫn vang mãi trong tôi như một bài ca về những cô gái 66 mến yêu năm nào.

Hà Nội, ngày 10-5-2009

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Chào Viettel

Lương Toán

Người anh em Thông tin

Cùng sinh ra lớn lên

Trưởng thành trong Binh chủng

Vượt sông dài biển rộng

Những bước chân thần kỳ

Tự hào mỗi bước đi...

"Nói theo cách của bạn"

Dù bão tố, mưa sa

Sông Viettel vẫn qua

Bạn hỏi núi, hay gọi

Theo cách riêng của mình

Viettel vẫn ân tình

Đưa bạn tới trời xanh

Đưa bạn qua biển rộng

Đến mênh mông vô cùng

Xin chia sẻ nỗi lòng

Cùng những gì bạn muốn

Với người bạn yêu thương...

Viettel là nỗi nhớ

Viettel là niềm thương

Cùng ta mỗi chặng đường...

Ơi Viettel...Viettel...

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)

18.6.25

Tổng công ty Viễn thông Quân đội 20 năm xây dựng và trưởng thành (1989-2009)

Thiếu tướng Dương Văn Tính - Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Viễn thông Quân đội

Ngày 1 tháng 6 năm 1989, Tổng công ty Điện tử Thiết bị Thông tin - tiền thân của Tổng công ty Viễn thông Quân đội đã được Chính phủ ký quyết định thành lập với tên viết tắt là SIGELCO.

Ngày đầu với nguồn nhân lực ít ỏi (hơn 100 người) và số vốn nhỏ bé nhưng Sigelco đã có nhiều cố gắng nỗ lực đạt được những thành công ban đầu đáng khích lệ, đó là nghiên cứu, ứng dụng, xây lắp mạng viễn thông công cộng và chuyên dụng của các bộ, ngành ở Việt Nam, ứng dụng thành công đề tài khoa học: "Truyền sóng viba trong điều kiện rừng núi Việt Nam; thiết kế ứng dụng xây lắp tuyến viba dùng phương pháp ăngten thụ động tán xạ, nhiễu xạ qua vật chắn". Đội ngũ cán bộ kỹ thuật Sigelco đã tham gia khảo sát, thiết kế lập dự án xây dựng mạng thông tin quốc gia và trực tiếp tổ chức khảo sát thiết kế lắp dựng ăngten và lắp đặt thiết bị cho các tuyến viba nội tỉnh tại nhiều địa phương trong cả nước như cột phát sóng Đài Truyền hình Việt Nam, cột phát sóng các tuyến truyền hình các tỉnh Tuyên Quang, Hà Nam, Gia Định, Quảng Ninh... đồng thời, mở rộng dịch vụ này sang các nước trong khu vực như: Đài Phát thanh Truyền hình nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Xây dựng thành công tuyến viba số AWA đầu tiên của Tổng cục Bưu điện xuyên suốt từ Hà Nội - Vinh - Đà Nẵng - Thành phố Hồ Chí Minh và các tuyến viba băng rộng Hà Nội - Đà Nẵng - Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; đặc biệt là thiết kế xây lắp và thông tuyến thành công đường trục cáp quang quân sự Bắc - Nam với công nghệ SDH (thu phát trên một sợi quang). Đây là công nghệ hiện đại của thế giới lần đầu tiên ứng dụng tại Việt Nam. Việc đưa đường trục cáp quang quân sự vào sử dụng đã làm thay đổi về chất thông tin cố định quân sự. Đây là cơ sở bước đầu tuy còn nhỏ bé nhưng đó là khởi nguồn, là nền tảng, là trường học thực tiễn đào tạo đội ngũ cán bộ nòng cốt, là những bài học kinh nghiệm vô giá cho sự nghiệp phát triển của Tổng công ty sau này.

Thời gian 20 năm tuy chưa nhiều đối với một doanh nghiệp, song Viettel trong những năm qua, được sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước; Bộ Quốc phòng, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc và sự ủng hộ, giúp đỡ của nhiều cơ quan, đơn vị trong và ngoài quân đội, các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và bè bạn trong nước, trong khu vực và trên trường quốc tế đã không ngừng trưởng thành và lớn mạnh, có những đóng góp đáng kể cho sự nghiệp phát triển ngành Bưu chính Viễn thông - Công nghệ thông tin nước nhà.

Thực tiễn phải bước sang thế kỷ XXI, Viettel mới thực i đi vào thị trường viễn thông đầy sôi động và đây chính là giai đoạn tập trung xây dựng nguồn lực hạ tầng, tạo đà cho việc tăng tốc trong những năm tiếp theo.

Đến nay, sau 20 năm xây dựng và trưởng thành, Viettel đã đạt được một số thành tích, mục tiêu cơ bản như sau:

1. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ kinh tế kết hợp với quốc phòng - an ninh.

Viettel là doanh nghiệp của quân đội hoạt động trong lĩnh vực viễn thông; vừa thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh các dịch vụ bưu chính, viễn thông phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, vừa đảm bảo thông tin vu hồi phục vụ nhiệm vụ quân sự; giữ gìn, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công nhân viên để sẵn sàng bổ sung cho quân đội khi có nhu cầu.

Nhờ có chủ trương, định hướng đúng và biết phát huy thế mạnh của một doanh nghiệp kinh tế - quốc phòng, nhất là về tổ chức, kỷ luật, tinh thần đoàn kết, chấp nhận gian khổ, quyết tâm vượt qua khó khăn và cách làm "quyết đoán, nhanh, triệt để"... Viettel đã tạo được sức mạnh tổng hợp trong quá trình phát triển.

Ngay từ buổi đầu bước vào thị trường viễn thông đầy sôi nổi, Viettel đã chủ động, nhạy bén "đi tắt, đón đầu", mạnh dạn ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến nhất của thế giới vào xây dựng hệ thống mạng lưới hạ tầng. Trên nền tảng của mạng truyền dẫn Viettel đã phát triển các loại hình dịch vụ, trọng tâm là dịch vụ điện thoại cố định (có dây và không dây), điện thoại di động, Internet băng rộng phủ tới cấp huyện, cấp xã. Đặc biệt, mạng di động của Viettel với trên 17.000 trạm phát sóng đã trở thành mạng di động có tốc độ phát triển nhanh nhất, số thuê bao nhiều nhất, vùng phủ sóng lớn nhất của Việt Nam, kể cả hệ thống đồn biên phòng, các khu kinh tế - quốc phòng trên toàn tuyến biên giới đất liền và vùng lãnh hải, vừa phục vụ sản xuất kinh doanh, vừa đảm bảo an ninh - quốc phòng.

Sau 8 năm kể từ khi kinh doanh dịch vụ viễn thông đầu tiên dịch vụ điện thoại đường dài sử dụng công nghệ VoIP, đến nay Viettel đã kinh doanh tất cả các dịch vụ bưu chính viễn thông và trở thành doanh nghiệp bưu chính viễn thông có tốc độ phát triển nhanh nhất, có hạ tầng viễn thông lớn nhất Việt Nam, có mạng di động đứng thứ 40 trên thế giới và là một trong 20 doanh nghiệp viễn thông phát triển nhanh nhất thế giới, năm 2008 chiếm 40% thị phần tại Việt Nam. Riêng năm 2009, Viettel trở thành doanh nghiệp duy nhất đầu tiên của Việt Nam được nhận giải Doanh nghiệp của năm khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

2. Củng cố tiềm lực kinh tế tạo tiền đề phát triển bền vững

Quy mô sản xuất kinh doanh của Tổng công ty không ngừng phát triển, năng lực về vốn, công nghiệp tăng gấp nhiều lần, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Năm 2000, doanh thu của Viettel chỉ đạt 53,63 tỷ đồng, đến năm 2007 đạt 16.300 tỷ đồng (tăng hơn 300 lần); tính riêng từ năm 2005 đến năm 2008, 4 năm liên tục doanh thu năm sau đều gấp đôi năm trước (dự kiến năm 2009 doanh thu đạt 50 - 60.000 tỷ đồng).

Theo đà tăng trưởng doanh thu, hàng năm Viettel thực hiện tái đầu tư, mở rộng với hàng ngàn tỷ đồng để mua sắm bổ sung trang thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo nền tảng cho phát triển các dịch vụ viễn thông, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, thực hiện các chính sách của Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Quốc phòng và Nhà nước... Với lợi nhuận đạt từ 20-25% trên doanh thu, Viettel được cấp trên đánh giá là doanh nghiệp hoạt động tài chính lành mạnh và là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiệu quả nhất trong các doanh nghiệp quân đội, tạo công ăn việc làm cho gần 5 vạn lao động với thu nhập cao và ổn định so với thu nhập của ngành và trong địa bàn khu vực.

3. Khẳng định thương hiệu đẳng cấp vượt thời gian.

Viettel lọt vào top 100 thương hiệu viễn thông lớn nhất thế giới. Năm 2008, thương hiệu Viettel đã khẳng định tên tuổi của mình trên bản đồ viễn thông quốc tế với một loạt giải thưởng: Tháng 12 năm 2008, Viettel được Informa Telecoms and Media - tổ chức có uy tín hàng đầu thế giới về phân tích viễn thông, đánh giá xếp hạng thứ 83 trong số 100 thương hiệu viễn thông lớn nhất thế giới, đứng trên cả Singapore Telecom là công ty viễn thông lớn nhất ASEAN.

Riêng năm 2009, Viettel cũng là doanh nghiệp viễn thông duy nhất lọt vào tốp đoạt giải thương hiệu mạnh trong thời kỳ suy thoái. Đây là những thành công của ngành viễn thông Việt Nam bởi với thương hiệu Viettel, lần đầu tiên Việt Nam đã trở thành một quốc gia được xếp hạng và có tên tuổi trên bản đồ viễn thông thế giới. Với thương hiệu được quốc tế công nhận, không chỉ giúp cho quốc tế biết đến Việt Nam mà còn giúp Viettel rất nhiều trong việc đầu tư ra nước ngoài. Và chúng ta cũng tự hào là thương hiệu của một doanh nghiệp như Viettel đã góp phần nhỏ tạo nên thương hiệu của quốc gia.

4. Đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài.

Thực hiện đường lối của Đảng về mở rộng quan hệ đối ngoại, trong đó có đối ngoại quân sự và hội nhập kinh tế quốc tế, Tổng công ty Viễn thông Quân đội là doanh nghiệp viễn thông đầu tiên ở Việt Nam thực hiện đầu tư ra nước ngoài, hợp tác với Bộ Quốc phòng các nước, trước hết là Lào và Cam-pu-chia. Đến nay, Viettel đã đầu tư hàng trăm triệu đô la vào các nước bạn Lào và Cam-pu-chia, xây dựng mạng truyền dẫn, mạng di động, mạng cố định và Internet, kết nối cáp quang giữa nước ta với các nước bạn, trong đó Việt Nam là trung tâm viễn thông của ba nước trên bán đảo Đông Dương.

5. Gắn kết kinh doanh với trách nhiệm xã hội.

Với chủ trương cùng với sự phát triển sản xuất kinh doanh, phải tích cực chủ động tham gia vào các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, từ thiện nhân đạo, tri ân những anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì Tổ quốc. Cảm ơn đồng bào, đồng chí đã giúp đỡ Viettel trưởng thành, chúng ta đã tài trợ các chương trình có tiếng vang lớn như: tổ chức cuộc hành quân tiếp lửa truyền thống "Vang mãi khúc quân hành", "Một thời hoa lửa", tài trợ các chương trình "Chúng tôi là chiến sĩ"; "Như chưa hề có cuộc chia ly"; tham gia trực tiếp vào chương trình 1.500 nhà tình nghĩa của Bộ Quốc phòng, chương trình phẫu thuật nụ cười, chương trình "Trái tim cho em"; chủ động phát động các chương trình như: hỗ trợ hàng tháng cho các sinh viên Việt Nam, Cam-pu-chia 25-30.000 VNĐ, mỗi chiến sĩ biên phòng và hải đảo 50.000 VNĐ sử dụng điện thoại di động, miễn phí Internet về 100% xã, chương trình hỗ trợ mỗi hộ nông dân nghèo 15.000 VNĐ/tháng để gọi điện thoại cố định.

6. Xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, Tổng công ty vững mạnh toàn diện.

Tính đến tháng 6 năm 2009, tổ chức của Viettel đã lớn mạnh và phát triển về đến tuyến xã, thôn với 17.000 lao động trong danh sách và trên 33.000 cộng tác viên. Đảng ủy Tổng công ty đã ban hành nghị quyết, chuyên đề về phát triển nguồn nhân lực, Ban Giám đốc Tổng công ty thức sâu sắc tổ chức và nguồn nhân lực quan trọng nhất, quyết định sự phát triển bền vững của Tổng công ty. 100% tỉnh có chi bộ, 100% huyện đã có cửa hàng của Viettel, 100% xã đã có cộng tác viên, sang năm 2009 phấn đấu hoàn thiện 100% thôn có cộng tác viên. Xây dựng Đảng bộ Tổng công ty trong sạch vững mạnh, hệ thống công ty dọc đồng bộ, hoạt động phối hợp hiệu quả. Vì mục tiêu dài hạn, hàng năm Tổng công ty tổ chức thi tuyển hàng trăm cán bộ để kiện toàn đội ngũ giám đốc, phó iám đốc và phòng, ban của các chi nhánh, Trung tâm, Công ty... Xây dựng cơ chế thải loại lao động không đảm bảo chất lượng (5%). Tổ chức các đợt đi học tập, đào tạo, tập huấn, khảo sát thị trường, tham gia hội nghị, hội thảo trong và ngoài nước để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của công việc, xây dựng hệ thống tri thức văn hóa Viettel và coi đây là tài sản lớn nhất mà các thế hệ người Viettel phát triển và chuyển giao cho nhau.

Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế - xã hội với tăng cường năng lực phục vụ nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, Tổng công ty Viễn thông Quân đội đã được Đảng, Nhà nước, quân đội và các đoàn thể xã hội trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó:

Tập thể:

- Từ năm 2000 đến nay liên tục được Bộ Quốc phòng tặng cờ thi đua đơn vị khá nhất.

- Bộ Bưu chính Viễn thông tặng 5 Bằng khen về các hoạt động, thành tích xây dựng cơ sở hạ tầng viễn thông quốc gia, ứng dụng khoa học công nghệ.

- Năm 2004, được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất...

- Năm 2005, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tặng Bằng khen về hoạt động từ thiện nhân đạo 5 năm (2000-2005).

- Năm 2007, Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen về hoạt động xã hội từ thiện 5 năm (2001-2006) và được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới (1996-2005)

- Năm 2008, được Bộ Thông tin và Truyền thông tặng cờ thưởng đơn vị xuất sắc dẫn đầu phong trào thi đua năm 2008.

- Tháng 5 năm 2009 được Chủ tịch nước ký tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba.

Ngoài ra, còn được nhiều Bộ, ngành, địa phương tặng Bằng khen về các hoạt động của Tổng công ty.

Cá nhân:

- Ba đồng chí Phó Tổng giám đốc được tặng Huân chương Lao động hạng Ba.

- Đồng chí Tổng giám đốc được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, Huân chương Lao động hạng Ba và Huy chương "Vì thế hệ trẻ" và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Có được những kết quả trên là do nhiều yếu tố để tạo thành sức mạnh tổng hợp. Dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội Đảng, đường lối đổi mới, có cơ chế chính sách phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế; Tổng công ty luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, giúp đỡ tạo điều kiện của Đảng ủy Quân sự Trung ương, Thủ trưởng, cơ quan Bộ Quốc phòng, Bộ Thông tin và Truyền thông, của các cơ quan, đơn vị trong và ngoài quân đội, lãnh đạo các địa phương trong cả nước, sự phối hợp hiệp đồng của các doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông khác, sự ủng hộ của dư luận.

Có sự đoàn kết, thống nhất cao của Đảng ủy – Ban Giám đốc Tổng công ty. Có sự lãnh đạo đúng đắn, nhanh nhạy, đặc biệt là sự điều chỉnh phù hợp kịp thời của Đảng ủy, Ban Giám đốc Tổng công ty đã có chiến lược phát triển đúng đắn, xác định những bước đi thích hợp, có chiến lược từng giai đoạn cho từng loại hình dịch vụ. Các cơ quan đơn vị phát huy cao trình độ, tinh thần dám nghĩ dám làm dám chịu trách nhiệm, đoàn kết thống nhất trên cơ sở bàn bạc dân chủ, chỉ huy điều hành kiên quyết, triệt để, sâu sát của cán bộ chủ trì, với khát vọng vươn lên trên cơ sở tự lực tự cường là chủ yếu.

Kịp thời ra những quyết định quan trọng ở từng thời điểm quan trọng. Điển hình là: quyết định đầu tư vào mạng GSM thay vì CDMA; quyết định đầu tư mạng lưới trước, kinh doanh sau... Tạo bước đột phá trong đầu tư điện thoại di động, Internet, đầu tư ra nước ngoài; chuyển sang kinh doanh đa ngành, đa nghề, đa dịch vụ...

Biết nắm bắt thời cơ tạo dựng cơ hội. Dự đoán đúng sự bùng nổ của thị trường, có những quyết sách đúng về đầu tư cơ sở hạ tầng mạng, về tổ chức xây dựng kênh phân phối, chính sách giá cả phù hợp, đáp ứng đòi hỏi của thị trường.

Có sự cố gắng quyết tâm phát huy nội lực, trên dưới đồng lòng vượt mọi khó khăn, gian khổ, lao động có kỷ luật, có kỹ thuật và sự sáng tạo của cán bộ, công nhân viên qua nhiều thế hệ trong toàn Tổng công ty.

Có quan điểm phát triển, triết lý thương hiệu, 8 giá trị của nhận thức chung, tạo nên sự đồng thuận trong ý chí cốt lõi của văn hóa Viettel, trở thành nền tảng tư tưởng và hành động.

Đó mãi mãi sẽ vừa là nguyên nhân, vừa là những bài học kinh nghiệm quý giá, những triết lý kinh doanh, những giá trị cốt lõi của văn hóa Viettel sẽ là hoa tiêu dẫn đường để chúng ta bước tiếp con đường mà Đảng, Nhà nước và quân đội giao phó.

Thời gian 20 năm tuy chưa phải là dài song đối với một doanh nghiệp, đây là một mốc thời gian để Viettel tự nhìn nhận và đánh giá lại quãng đường đã qua. Với những nỗ lực và sự cố gắng của mình, những thành tựu đã đạt được là rất đáng trân trọng tự hào. Tuy nhiên với nhiệm vụ chính trị trung tâm của mình, đặc biệt là một trong chương trình Bưu chính Viễn thông - Công nghệ Thông tin trọng điểm của cả nước, đòi hỏi Viettel cần quyết tâm và phấn đấu nhiều hơn nữa.

Mục tiêu tiếp của Tổng công ty trong những năm tới là: quán triệt chủ trương "đi tắt, đón đầu", nắm bắt cơ hội, thực hiện đầu tư chiều sâu, nâng cao chất lượng, đổi mới công nghệ, đa dạng hóa kinh doanh, trong đó lấy dịch vụ viễn thông làm trụ cột, tiếp tục chiến lược phát triển nhanh và bền vững trên cơ sở nền tảng là làm chủ khoa học công nghệ và phát triển kinh tế tri thức. Xây dựng Tổng công ty theo hướng Tập đoàn đa ngành nghề, đa sở hữu, trở thành Tập đoàn Công nghệ Thông tin lớn trong khu vực và trên thế giới, cùng các doanh nghiệp viễn thông khác đưa Việt Nam trở thành cường quốc công nghệ thông tin, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng cường quốc phòng - an ninh của đất nước.

Để thực hiện mục tiêu nói trên, trước mắt Viettel cần tập trung xây dựng chiến lược phát triển 2010-2020 và tầm nhìn 2030, trên cơ sở đó có kế hoạch phát triển dài hạn và ngắn hạn với mục tiêu, bước đi và hệ thống giải pháp cụ thể, phù hợp với thực tiễn phát triển xu hướng biến động của thị trường. Tiếp tục chiến lược phát triển nhanh nhằm phát huy lợi thế trong lĩnh vực viễn thông là mạng lưới càng lớn, càng nhiều thuê bao thì tỷ suất đầu tư càng thấp, năng lực cạnh tranh càng cao, lợi nhuận càng lớn.

Năm 2009, phấn đấu đạt doanh thu 55-60 nghìn tỷ đồng. Hoàn thiện mô hình tổ chức và cơ chế điều hành của Tập đoàn kinh tế, hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con, đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa một số công ty, xây dựng cơ chế trả lương, thang bảng lương mới thí điểm theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, bảo đảm trả đúng, trả đủ, tương xứng với cống hiến, đóng góp của người lao động, để người lao động có thể làm giàu bằng thu nhập chính đáng của mình. Đẩy mạnh đầu tư vào công nghiệp quản lý, đầu tư cho các ứng dụng công nghệ thông tin, đầu tư nâng cao nguồn nhân lực. Tiếp tục tư ra nước ngoài. Phấn đấu đến năm 2015, thị trường nước ngoài của Viettel lớn hơn trong nước. Đẩy nhanh việc xây dựng bộ Zen Viettel, hệ thống tri thức Viettel, văn hóa Viettel, coi đó là động lực, là nền tảng của sự triển lâu dài và ổn định. Đặc biệt coi trọng công tác phát triển lâu dài và ổn định, coi trọng công tác phát triển nguồn nhân lực, xây dựng đội ngũ cán bộ, công nhân viên tâm huyết với Tổng công ty, giỏi chuyên môn, có trí tuệ, sáng tạo, có đủ khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra, bởi vì suy cho cùng con người sẽ quyết định tất cả.

Một giai đoạn mới đang bắt đầu, nhưng vận hội và thách thức còn đang ở phía trước. Với hành trang 20 năm xây dựng và phát triển, với đội ngũ cán bộ chỉ huy giàu trí tuệ, tâm huyết với ngành; với đội ngũ công nhân viên hết lòng vì sự nghiệp chung, Viettel hoàn toàn có thể tin tưởng nhất định sẽ vượt qua mọi khó khăn trở ngại để xây dựng Viettel thành một Tập đoàn hùng mạnh và thực sự mang cơ hội được sử dụng dịch vụ viễn thông, công nghệ thông tin cho mọi người, mọi nhà.

Với kỳ vọng góp phần đưa đất nước thành công trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Viettel khẳng định quyết tâm tham gia xây dựng "cây cầu" công nghệ thông tin và viễn thông 3 làn "Cuộc sống số - Nền tảng số - Hành chính số", xóa bỏ khoảng cách số với các nước phát triển, đưa xã hội Việt Nam tiến vào tương lai số, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Hy vọng và tin tưởng cán bộ, công nhân viên Tổng công ty, trước hành trình mới, sẽ quyết tâm hướng tới mục tiêu đã đề ra, đáp ứng được niềm tin của Đảng, Nhà nước, quân đội, sự mong mỏi của toàn xã hội.

Phấn khởi và tự hào với những thành tựu đã đạt được, trong giờ phút hân hoan chào mừng 20 năm thành lập và đón nhận phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước trao tặng, cán bộ, công nhân viên Tổng công ty xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc đã quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp Viettel phấn đấu thực hiện xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cơ quan, ban, ngành Trung ương và địa phương, các tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội và cảm ơn khách hàng đã luôn giúp đỡ, ủng hộ Viettel trong suốt thời gian qua.

Về phần mình hơn lúc nào hết, cán bộ và công nhân viên Viettel siết chặt đội ngũ, tăng cường đoàn kết, tỏ rõ bản lĩnh phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ", nâng cao năng lực mọi mặt, vững vàng tự tin bước vào thời kỳ mới với khí thế mới, quyết tâm mới và sức mạnh mới. Với sức trẻ của tuổi 20 đang căng đầy nhựa sống, đang tràn ngập ý tưởng và đầy ắp nhiều dự định cho tương lai, Tổng công ty Viễn thông Quân đội nguyện noi gương các bậc đàn anh đi trước, phát huy truyền thống vẻ vang và vinh danh Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, tất cả cùng nhịp bước tiến lên trong niềm tự hào mang tên Viettel.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

14.6.25

Y2K - cuộc chuyển giao thế kỷ

Hải Thanh

Nếu nói theo âm lịch thì đến năm nay là đúng 1 giáp (12 năm), cùng là năm Thìn (năm 2012 là năm Nhâm Thìn, năm 2000 là năm Canh Thìn). Là người được vinh dự chứng kiến sự kiện Binh chủng Thông tin liên lạc phục vụ Bộ Quốc phòng chỉ huy khắc phục sự cố Y2K trong thời điểm giao thừa bước sang năm mới 2000, thì mọi sự kiện, diễn biến thành công của cuộc chuyển giao lịch sử ấy lại hiện về trong ký ức của tôi.

Để đảm bảo kịp thời việc chỉ đạo, chỉ huy cho các đơn vị trong toàn quân xử lý mọi tình huống nếu SC2000 xảy ra, từ 18 giờ ngày 31 tháng 12 năm 1999 đến 18 giờ ngày 3 tháng 1 năm 2000, Sở chỉ huy SC2000 của Bộ Quốc phòng đặt ở Sở chỉ huy Binh chủng Thông tin hoạt động liên tục 24/24 giờ dưới sự chỉ huy, điều hành trực tiếp của Thượng tướng - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phạm Văn Trà và Trung tướng - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Trương Khánh Châu.

Sang năm mới 2000, không khí trong Sở chỉ huy dường như nóng lên. Đúng 23 giờ 45 ngày 31 tháng 12 năm 1999 Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm - Trưởng ban chỉ đạo khắc phục SC2000 của Quốc gia và Bộ trưởng Bộ Khoa học - Công nghệ - Môi trường Chu Tuấn Nhạ cùng đoàn kiểm của Chính phủ đã tới, kiểm tra Sở chỉ huy SC2000 của Bộ Quốc phòng tại Binh chủng Thông tin.

Sau khi thăm hỏi, kiểm tra các hoạt động về khắc phục SC2000 qua cầu truyền hình trên tuyến cáp quang quân sự Bắc - Nam do Bộ tư lệnh Thông tin điều hành; đồng chí Phó Thủ tướng tỏ ý hài lòng về công tác chuẩn bị kế hoạch chu đáo, triển khai thực hiện tốt các yêu cầu về khắc phục SC2000 mà Chính phủ đề ra.

Mọi thành viên Ban chỉ đạo và các cán bộ, trực ban, chiến sĩ, công nhân viên phục vụ đều nín thở, chờ đợi cái khoảnh khắc giao thời nếu SC2000 xảy ra thì sẽ sẵn sàng ứng phó khắc phục ngay. Nhưng may thay, mọi người đều thở phào nhẹ nhõm, toàn bộ hệ thống thông tin liên lạc của quân đội vẫn hoạt động bình thường, yên ổn. Mặc dù khác với các ngành như điện lực, y tế, giáo dục, tài chính, văn phòng…; vào thời điểm giao thừa, hệ thống thông tin liên lạc quân sự ngoài việc phải chuẩn bị các yếu tố để vượt qua SC2000, thì còn phải có nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc thường xuyên thông suốt, vững chắc phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy của Bộ Quốc phòng đến các lực lượng vũ trang toàn quân sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu nếu có chiến sự xảy ra. Hơn nữa, vào thời điểm giao thừa sang năm 2000, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ, của những người lính xa nhà, muốn gửi gắm những lời chúc, lời chào năm mới đến bạn bè, người thân trên mạng thông tin quân sự, nên những cuộc gọi điện trong đêm giao thừa đã phải tăng lên gấp nhiều lần ngày thường. Thế nhưng hệ thống thông tin quân sự vẫn đảm bảo tốt.

Có thể nói, chất lượng của hệ thống thông tin quân sự Bắc - Nam và thắng lợi của công tác thực hiện kế hoạch dự phòng SC2000 trong thời điểm chuyển giao giữa năm cũ và năm mới ngày đó trước hết là do sự chuẩn bị rất công phu, rất chu đáo của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, của Ban chỉ đạo SC2000 Bộ Quốc phòng, của Binh chủng Thông tin và của các đơn vị trong toàn quân. Các cơ quan, đơn vị thông tin trong toàn quân đã có bước chuẩn bị khá kỹ càng. Các hệ thống máy tính của mạng máy tính quản lý, các hệ thống của tổng đài kỹ thuật số cấp 1, 2, 3, hệ thống viba, thông tin vô tuyến điện thông minh đã được kiểm tra toàn bộ, để những chi tiết, thiết bị nào chưa tương thích với SC2000 thì phải thực hiện việc khắc phục. Đó là nguyên nhân chính mà Bộ Quốc phòng và Binh chủng Thông tin liên lạc không gặp phải sự cố gì lớn. Tuy nhiên, Bộ Quốc phòng và Bộ tư lệnh Binh chủng Thông tin cũng đã triển khai hệ thống thông tin dự phòng SC2000 có chất lượng và độ tin cậy cao, để sẵn sàng thay thế cho hệ thống thông tin thường xuyên khi có sự cố.

Đánh giá về tinh thần làm việc của cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng của Binh chủng Thông tin vào thời điểm chuyển giao năm cũ sang năm mới, trong việc tập trung mọi cố gắng cho việc khắc phục SC2000, đồng chí Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm đã khẳng định:

Tinh thần làm việc, sự chuẩn bị và trực ban tác chiến của các cơ quan, đơn vị thông tin trực thuộc và toàn quân thời gian qua là rất tốt và rất đáng khen. Binh chủng Thông tin đã chấp hành nghiêm chế độ trực ban, trực thông tin 24/24 giờ trong một ngày, 7 ngày trong một tuần, 30-31 ngày trong một tháng và 365 ngày trong một năm, không ngừng 1 phút nào, cho nên đã tạo thành một thói quen, một nếp nghĩ coi thông tin liên lạc như thần kinh, mạch máu của con người, đã thường xuyên giữ mạng lưới thông tin luôn thông suốt, vững chắc.

Đúng vậy, Binh chủng Thông tin đã có những kinh nghiệm khi bước vào SC2000, đã hết sức chú trọng trực ban thông tin 100% trên toàn bộ hệ thống; tất cả các trạm dây, trạm máy, trạm tổng đài, trạm cáp quang; các hệ thống thông tin hữu tuyến điện, viba số... qua cầu truyền hình của Binh chủng cũng như các hệ thống thông tin bằng điện thoại thì thấy hệ thống trực ban của ta là rất tốt. Đặc biệt các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy từ Binh chủng đến các cơ quan, đơn vị đều có mặt và sẵn sàng ứng phó nếu SC2000 xảy ra.

Tôi còn nhớ, nhân sự kiện này, chiều ngày 3 tháng 1 năm 2000, Đảng ủy, Thủ trưởng Bộ tư lệnh mời các đồng chí nguyên là lãnh đạo, chỉ huy Binh chủng, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị qua các thời kỳ đã nghỉ hưu ở cả hai miền Nam - Bắc tới hai đầu cầu truyền hình quân sự tại Sở chỉ huy Binh chủng và Sở chỉ huy tiền phương dự phòng SC2000 của Bộ Quốc phòng tại K99 (Thành phố Hồ Chí Minh) để Binh chủng chúc tết năm mới Canh Thìn. Đã nhiều năm trở về cuộc sống đời thường, ít có điều kiện qua lại gặp gỡ, thăm hỏi nhau, mà chỉ được nói chuyện với nhau qua máy điện thoại. Dịp này được nhìn thấy nhau qua cầu truyền hình, thật cảm động không nói nên lời, các đại biểu vô cùng phấn khởi và tự hào về sự tiến bộ vượt bậc của Binh chủng, về sự tiến bộ trưởng thành của lớp cán bộ trẻ thông minh và sáng tạo, về sự phát triển nhanh chóng của hệ thống thông tin quân sự hiện đại, tất cả đang hứa hẹn một khả năng và triển vọng sáng ngời ở thiên niên kỷ mới. Mới đó đến nay đã 12 năm.

Mùa Xuân năm Nhâm Thìn (2012)

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Công trình "Computer System"

Đinh Văn Đạt

Sigelco đang bắt đầu với công việc kinh doanh thì đồng chí Phạm Ngọc Điệp được Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc điều động về làm Phó Tổng giám đốc và được ủy quyền trực tiếp chỉ đạo bộ phận dịch vụ kỹ thuật. Từ những dịch vụ nhỏ lẻ, theo phương thức "đánh nhanh thắng nhanh" như: mua máy thu phát sóng ngắn rồi lắp modem để thực hiện truyền số liệu cho các cơ quan ở xa đơn vị chủ quản; hoặc những máy điện thoại kéo dài với "1 mẹ và 3 con" hay "1 mẹ 5 con"... Chúng tôi thực hiện những công trình mang dấu ấn đột phá để tìm tòi đường hướng đi lên.

Ngày ấy, máy vi tính để bàn còn là điều rất mới mẻ ở Việt Nam. Ai có một bộ thì giống như ngày nay người đã đã sắm được ô tô, thậm chí còn cao hơn nữa. Khi anh Điệp về Tổng công ty, anh đã bỏ tiền túi ra tự sắm cho mình một bộ AT 386 cùng với máy in laser đời đầu. Có thể nói bộ vi tính ấy của anh Điệp là bộ vi tính đầu tiên được sử dụng tại Tổng công ty. Mọi văn bản báo cáo hoặc tham luận anh tự tay "viết" trên máy tính của mình, văn thư không bao giờ phải đánh máy cho "sếp". Vào phòng của anh, thấy bộ vi tính và máy in nằm "oai vệ" trên bàn mà chúng tôi đã thấy choáng ngợp. Thỉnh thoảng anh chỉ cho chúng tôi "xem một tý" và "gõ một tý" cho đỡ thèm.

Khi đó, anh Điệp có mối quan hệ với Công ty Viễn thông - Tin học - Điều khiển 3C, đồng thời cũng quen biết với lãnh đạo Trường Sĩ quan Tăng - Thiết giáp ở km6 đường đi Tam Đảo, Vĩnh Yên. Tôi không biết anh đã làm việc với hai nơi trên từ khi nào, nhưng một hôm anh gọi tôi sang phòng làm việc của anh và giao nhiệm vụ: "Cậu đến Công ty 3C, gặp anh Công để họ hướng dẫn cho việc "lắp cáp, đi dây", kết nối mạng vi tính văn phòng. Cố gắng nắm cho được để rồi còn đi triển khai cho khách hàng".

Theo nhiệm vụ anh Điệp giao, tôi sang gặp anh Công ở số 6 Láng Hạ. Anh Công hồ hởi nói với tôi: "Theo yêu cầu của anh Điệp, chúng tôi đã chuẩn bị đủ 20 máy AT 386, một máy in kim, phần mềm "nối mạng" và các loại cáp, bộ chia, v.v... Bây giờ chúng ta sẽ tiến hành lắp ráp hệ thống 20 máy này lại với nhau thành mạng. Anh cùng làm để nắm được rồi về tự triển khai". Tôi yêu cầu anh Công và các nhân viên hướng dẫn tỉ mỉ từ khâu nối mạng đến việc triển khai từng máy rồi nạp chương trình cho máy chủ làm việc. Tôi dành một buổi để anh Công giới thiệu toàn bộ hệ thống và vận hành thử. Tôi phải nhập tâm thật tốt để còn đi hướng dẫn cho người mua.

Khi máy vi tính và các loại cáp, dây đồng trục, đầu đấu nối, giắc cắm, ổ cắm... có đầy đủ, tôi về báo cáo anh Điệp. Một ngày sau, anh Điệp đã thống nhất với Trường Sĩ quan Tăng - Thiết giáp, tôi lại được anh cử đi lắp đặt và bàn giao cho họ. Chúng tôi thuê một xe tải 2 tấn có thùng kín, xếp vừa đủ 20 bộ máy vi tính, máy in cùng các phụ tùng kèm theo lên xe. Sáng hôm ấy, anh Đặng và anh Điệp ra tận ô tô dặn anh lái xe: "Vì hàng dễ vỡ lại quan trọng, anh chỉ nên chạy tốc độ không quá 30km/giờ. Hàng hỏng, anh không thể đền được đâu mà lại chịu kỷ luật nhà binh của chúng tôi đấy". Trên đường đi, anh lái xe cứ dò hỏi tôi: "Hàng của các anh là gì mà quan trọng vậy?". Tôi chỉ cười mà không trả lời. Anh lái xe cứ thực hiện đúng như lời anh Đặng đã dặn mà cho xe chạy như rùa bò.

Đến nơi, các anh trong Phòng Giáo vụ của Trường đã đứng đón chúng tôi từ ngoài cổng. Máy được đưa vào Phòng Tin học của Giáo vụ Nhà trường, cỡ một lớp học. Có lẽ anh Điệp đã yêu cầu họ sắp xếp mặt bằng đầy đủ về bàn ghế, tủ, bảng, v.v... nên chúng tôi triển khai lắp đặt ngay. Giáo vụ trường cho 5 thầy giáo giúp tôi thực hiện công việc này. Các thầy là các sĩ quan Tăng - Thiết giáp nên việc đấu nối không thạo, nhất là kéo 10 máy "lai" sang phòng Hiệu trưởng, Hiệu phó và các trưởng khoa. Lúc ấy tôi mới nhớ ra, là đã không "mượn" mấy kỹ thuật viên của Nhà máy M1. Việc đi lắp ráp này là họ thành thạo lắm. Song công việc cũng được  trôi chảy trong hai ngày. Tôi đã được anh Công bên 3C tận tình hướng dẫn nên chỉ việc "biểu diễn lại" là hệ thống được bàn giao. Phát huy mối quan hệ này, mấy tháng sau chúng tôi lại lên lắp đặt cho họ một tổng đài điện tử, loại Panasonic KXT-3.16 (tức 3 trung kế vào, 16 thuê bao ra) làm tổng đài nội bộ của trường với đầy đủ thiết bị kèm theo.

Ngồi viết lại những trang này tôi mới thấy, thời cuộc chuyển vần sao mà nhanh thế. Mới ngày nào chúng tôi còn chập chững bước trong ngành viễn thông - tin học mà giờ đây, viễn thông với phần di động đã bước sang thế hệ thứ 4 (tức 4G), còn tin học đã có máy của thế hệ thứ 5. Những việc chúng tôi làm rất nhỏ bé cho trường học, cách đây đã 20 năm thì bây giờ Tập đoàn chúng ta đã thực hiện thành công và rộng khắp trong toàn quốc cho ngành giáo dục. Tin học với học đường lại là một chương trình thành công nữa của Viettel đã làm phong phú thêm vào thành tích "bảy nhất, ba thành" mà khi ấy Bộ trưởng Lê Doãn Hợp đã tổng kết và biểu dương Tập đoàn chúng tôi.

Nhìn lại thì thấy quá khứ xa thăm thẳm, nhưng ngồi điểm lại từng năm, từng sự kiện thì chỉ thấy như mới ngày nào, ngày mà chúng ta còn đang "nhào đất nung gạch", từ những viên gạch đầu tiên, rồi thêm dần, thêm dần... mà tập hợp được những người ưu tú của Viettel cho lịch sử ngày hôm nay.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

13.6.25

Chiến dịch dây lưỡng kim

Đinh Văn Đạt - Hội Truyền thống Viettel

Có thể nói, dùng dây lưỡng kim để lắp đặt đường dây truyền thanh cho các hợp tác xã liên thôn liên xã ở miền Bắc là phương án tối ưu trong những năm  1972 – 1973 của thế kỷ XX. Nhà máy Thông tin M1 là đơn vị thực hiện lắp đặt đầu tiên cho các xã ở các huyện Thanh Ba, Hạ Hòa của Vĩnh Phú. Nhưng quy mô lúc ấy còn nhỏ lẻ, vả lại muốn mua được dây lưỡng kim thu hồi của Binh chủng thì phải được Tư lệnh duyệt. Đến cuối những năm 80, Binh chủng có chủ trương thu hồi tất cả các tuyến tải ba dây trần, vì vậy dây lưỡng kim thu được có số lượng rất lớn.  Các đơn vị đua nhau đi lắp đặt các hệ thống truyền thanh cho nông thôn. Nhà máy Thông tin M1 đã xây dựng các đường truyền thanh có quy mô đến cấp huyện, rồi họ lại vào cả Tây Nguyên để lắp truyền thanh cho các công ty cao su, cà phê, chè... Trung đoàn 134 là nơi chủ trì thu hồi dây lưỡng kim nên ngày nào cũng có xe của các đơn vị ở khắp nơi về nhận hàng... Thấy họ làm ăn được, anh em chúng tôi sốt ruột quá. Song nghĩ đến hoàn cảnh của mình, chúng tôi lại chùn bước, vì ít người không thể tổ chức đi kéo dây như các đơn vị. Đành phải nghĩ cách khác vậy.

Một hôm tôi sang Phòng Thông tin tín hiệu của ga Hà Nội để bảo hành một số máy thông tin mà trước đây chúng tôi đã lắp đặt cho họ. Đầu giờ nên anh em họ đang ngồi "chè nước vui vẻ", tôi cũng ngồi vào đấy để góp chuyện cho thân mật. Đúng lúc đó, có anh cán bộ vật tư của xưởng Thông tin lên lĩnh dây đồng về để thay thế một số đường tín hiệu bị đứt nhưng Trưởng phòng Thông tin thông báo hết dây mà chưa nhập được hàng về. Hai bên đấu khẩu quyết liệt về chuyện đó. Thấy vậy, tôi quay sang hỏi cậu Long - một cán bộ lo vật tư cho Phòng Thông tin mà tôi và anh Đặng Khắc Tăng quen biết từ trước, được biết: họ đang rất cần dây đồng 5 ly để lắp đường điện một chiều cho việc bẻ ghi ở các ga. Tôi nghĩ và nói với họ: dây đồng 5 ly hiện nay khan hiếm, mua ngoài thì vô cùng đắt mà cũng không có sẵn, có lẽ đường sắt phải cải tiến đường thông tin tín hiệu thôi. Nếu đồng ý thay thế dây khác thì chúng tôi mới có cách giúp các anh được. Tôi đề xuất: "Dây đồng 5 ly lắp cho việc bẻ ghi, một là chịu lực kém; hai là cấp điện một chiều cho các đèn xanh đỏ ở ga tôi thấy dây lưỡng kim 3,2 ly hoặc 3,4 ly của chúng tôi có thể thỏa mãn hai yếu tố ấy của các anh". Sau đó, chúng tôi đã thử đo dòng tiêu thụ khi cấp điện cho các bóng đèn xanh đỏ lúc bẻ ghi ở nhánh lớn nhất là 7,5 ampe. Trong khi đó tiết diện phần đồng của dây lưỡng kim 3,2 ly và 3,5 ly có thể chịu đựng được một dòng tải đến 9,55 ampe. Như vậy, tạm kết luận là có thể thay dây đồng bằng dây lưỡng kim được.

Tôi bàn chuyện này với Đặng Khắc Tăng và nhờ Tăng lên Trung đoàn 134 mượn tạm một cuộn dây lưỡng kim từ 3,2 hoặc 3,4 ly dài 500m, giao cho bên đường sắt. Một tuần sau, bên đường sắt đến gặp tôi và thông báo là phương án thay thế dây lưỡng kim 3,2 ly cho dây đồng 5 ly thật tuyệt vời. Về lực lại có vẻ khỏe hơn trước mà độ sáng các đèn xanh đỏ không hề thay đổi. Họ đề nghị Sigelco cấp cho đường sắt càng nhiều càng tốt.

Kế hoạch được báo cáo lên Ban Giám đốc và ngay lập tức có cuộc làm việc với Trung đoàn 134 để "bao" hết số dây lưỡng kim hiện có của Trung đoàn, thông qua phê duyệt của Binh chủng.

Từ đó, mỗi tuần chúng tôi đều giao cho đường sắt, ít thì dăm bảy tạ, nhiều thì hơn một tấn dây lưỡng kim 3,2 hoặc 3,4 ly. Buôn bán trôi chảy thuận lợi làm cho đơn vị thấy nhộn nhịp hẳn lên, ai cũng mừng. Về phía đường sắt, chúng ta đã giải thoát cho họ một thế bí thật đúng chỗ đúng lúc. Nhưng càng về sau dây thu hồi đứt đoạn nhiều quá, lại bị han gỉ nhiều nên công việc có dấu hiệu chững lại.

Một buổi chiều tôi từ Cát Linh sang đến đầu phố Quốc Tử Giám thì thấy một tốp thợ đang tuốt dây thép cho thẳng. Tôi quan sát thấy thiết bị của họ thật đơn sơ. Một môtơ 4,5 kW có bánh đà tạo giật, một môtơ 1,5 kW để cuốn dây lại, qua một cái lồng đường kính 1m. Họ móc một đầu dây sắt vào môtơ tạo giật, đầu kia thì gông chặt lại. Khi khởi động môtơ 4,5 kW, dây sắt được bánh đà kéo căng ra rồi duỗi thẳng. Tất cả sắt từ các công trình tháo dỡ, được các nơi mang đến đây để nhờ ông ta "tuốt thẳng" rồi cuộn lại như là sắt mới. Sau đó họ hàn nối lại (nếu dây sắt đứt nhiều). Tôi đặt vấn đề với ông tổ trưởng nhóm thợ về việc làm sạch và hàn nối dây lưỡng kim.

Một thí nghiệm trên một đoạn dây 20m ông ta hàn nối đến 5 chỗ mà tôi không nhận ra được một chỗ nào cả: tất cả đều nuột nà, vàng chóe, bóng lộn. Tôi lại yêu cầu ông thử tải chịu lực. Ông đánh dấu những mối hàn của cuộn dây ấy rồi cho chạm mát giật văng thì thấy dây chỉ đứt ở những chỗ không hàn. Thế mới biết sức sáng tạo của người thợ Việt Nam tuyệt vời thật. Vì thêm công đoạn làm mới dây cũ, giá thành bị đội thêm 5 giá nữa nhưng bên đường sắt vẫn chấp nhận. Chiến dịch dây lưỡng kim được kéo dài thêm, cho mãi đến khi Trung đoàn 134 không còn một kilôgam dây lưỡng kim nào nữa thì chiến dịch mới kết thúc.

Bây giờ ngồi viết ra những dòng này, tôi mới thấy tâm đắc một điều: Trong "cái khó ắt phải ló cái khôn", nhưng điều đó chỉ đúng với những ai thật sự toàn tâm toàn ý vì công việc. Khi đã trăn trở với công việc ắt sẽ tìm ra được giải pháp để khắc phục, hoặc sẽ tìm được người cộng tác.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Sự ra đời của SIGELCO - tiền thân VIETTEL

Đại tá Trần Ngọc Duyện - nguyên Phó Tư lệnh Binh chủng Thông tin

Đầu tháng 3 năm 1989, Bộ Quốc phòng có triệu tập một cuộc họp Tư lệnh các quân, binh chủng để nghe báo cáo về tình hình bộ đội làm kinh tế. Hội nghị do Thượng tướng Trần Văn Quang, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì, có Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt tới dự và chỉ đạo.

Là Phó Tư lệnh, phụ trách hậu cần - đời sống, tôi (Trần Ngọc Duyện) được Thiếu tướng Tư lệnh Nguyễn Diệp phân công đi dự Hội nghị. Ngầm hiểu được tầm quan trọng của vấn đề, tôi tập trung vào chuẩn bị ngay, đồng thời mời đồng chí Võ Đặng, Phó Chủ nhiệm Kỹ thuật Binh chủng tới cùng trao đổi.

Thời kỳ này, đất nước đã qua mười bốn năm thống nhất, nhưng cơ chế, chính sách còn nhiều cái chưa chuyển đổi kịp. Khẩu hiệu "bung ra" để làm kinh tế được nhắc tới nhiều, nhưng thực tế bắt tay vào làm vẫn cứ tắc.

Binh chủng Thông tin là một binh chủng kỹ thuật, có một đội ngũ tiến sĩ, phó tiến sĩ, kỹ sư, trung cấp kỹ thuật đông đảo, rất thạo tay nghề, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm, với bốn nhà máy hiện đại, được giới khoa học kỹ thuật cao cấp Nhà nước như Giáo sư Đặng Hữu - Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước, Giáo sư Vũ Đình Cự - Viện trưởng Viện Vật lý, Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước, Giáo sư Chu Hảo, Giáo sư Đàm Trung Đồn - giảng viên Đại học Tổng hợp đánh giá cao; nhưng khi Binh chủng muốn triển khai làm kinh tế, kết hợp vừa làm kinh tế vừa đẩy mạnh nghiên cứu kỹ thuật sản xuất phục vụ quốc phòng lại vướng không làm được.

Như mọi người đều biết, trong những năm này, nhu cầu về thông tin liên lạc phục vụ sản xuất, đời sống xã hội đòi hỏi rất lớn, ngành Bưu điện đảm đương không xuể, nhưng thông tin quân đội muốn phát huy thế mạnh sở trường của mình ghé vai vào cùng gánh vác lại không được vì cơ chế. Do vậy, các đơn vị bộ đội thông tin làm kinh tế buộc phải loay hoay vào làm những việc bất đắc dĩ, trái ngành, trái nghề. Ngay cả bốn nhà máy cũng rất lúng túng. Nhà máy Z755, một cơ sở kỹ thuật rất hiện đại ta tiếp quản được sau chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 tại Thành phố Hồ Chí Minh phải đi mua sắt gỉ, hàng rào B40 về làm đinh; thu mua gỗ cao su về làm ván sàn; Nhà máy M1 (Công trình 8437, Công trình 75668 do Liên Xô viện trợ); Nhà máy M3 (do Hung-ga-ri giúp thiết bị hoàn chỉnh) phải đi quan hệ với các khu mỏ, các khu bảo quản, kho tàng, các cơ sở y tế... để sản xuất một số  điện kế, một số phụ tùng bảo quản xe máy, vài cái máy chữa bệnh... không thấm tháp gì so với năng lực của từng cơ sở (thời kỳ này, khối lượng hàng sản xuất, sửa chữa quốc phòng hàng năm trên giao cho khối các nhà máy chỉ còn khoảng 30% công suất thiết kế).

Những cản trở chính trong việc làm kinh tế của Binh chủng Thông tin là:

- Ngành Thông tin Bưu điện đang giữ thế độc quyền trong kinh doanh mạng lưới thông tin liên lạc dân sự phục vụ sản xuất, đời sống xã hội.

- Thứ nữa, ngành Thông tin quân sự muốn mua sắm khí tài, vật tư kỹ thuật để làm kinh tế đều phải thông qua Cục Vật tư và Cục Tài vụ Bộ Quốc phòng xét duyệt rất ngặt nghèo, nhất là những thứ ta phải nhập khẩu bằng ngoại tệ, những thứ mà trong nước chưa sản xuất được.

Chúng tôi dự kiến nội dung báo cáo phải chuẩn bị thật kỹ, thật sâu, với đầy đủ tư liệu, tình tiết để khi cần thì dẫn chứng cho rõ ràng. Nhưng lúc báo cáo thì phải ngắn, gọn, chủ yếu nêu cho được cái khó khăn, bế tắc phải tháo gỡ. Cái mà lẽ ra với sở trường, khả năng có thể làm được, làm tốt, nhưng lại không được làm.

Tới hội nghị, sau phần thủ tục, các quân, binh chủng lần lượt báo cáo. Mỗi đơn vị chỉ được nói trong 15 phút. Thông tin được xếp vào lượt thứ ba, sau Hải quân và Phòng không - Không quân.

Rút kinh nghiệm 2 đơn vị bạn bị nhắc nhiều về vấn đề chủ đề báo cáo (sa đà vào báo cáo thành tích) và chú ý bảo đảm thời gian. Đến lượt Thông tin, tôi chủ động thưa: Báo cáo của Thông tin đã được chuẩn bị nghiêm túc bằng văn bản xin nộp ban tổ chức, còn xin phép được báo cáo tóm tắt một số ý chính.

Trong khi tôi báo cáo, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt rất chăm chú nghe, đội lúc lại hỏi xen vào. Hết 15 phút, tôi định dừng lại thì anh Kiệt chủ động hỏi: Có còn gì, đồng chí cứ báo cáo tiếp đi và quay sang đồng chí Trần Văn Quang nói: Thế nào, Thông tin nó làm tốt đấy chứ? Này! Lần đầu tôi được nghe bộ đội làm kinh tế báo cáo như Thông tin đấy.

- Nó làm còn tốt hơn nữa kia, nhưng chỉ có 15 phút thì sao nó báo cáo hết được - Đồng chí Quang trả lời.

Đồng chí Võ Văn Kiệt lại quay sang hỏi đại diện Cục Vật tư, Cục Tài vụ về cái cản trở mà Thông tin vừa nêu.

- Thưa, đúng thế ạ. Đó là vì cơ chế ạ - Cả Vật tư và Tài vụ đều trả lời rất rõ ràng.

- Ủa... Cơ chế là do ta định ra. Nếu là sai, là không còn phù hợp thì phải sửa đi thôi. Này Thông tin, vướng thế thì các anh phải kêu chứ. Đồng chí Võ Văn Kiệt nói một cách hết sức cởi mở, kêu cả cái "độc quyền" của Bưu điện nữa.

- Thưa, chúng tôi đã báo cáo lên Bộ Quốc phòng nhiều lần rồi, nhưng chả ăn thua gì - Tôi nghiêm túc trả lời.

- Các anh tiếp tục kêu. Kêu mạnh lên Bộ Quốc phòng và cả lên Chính phủ nữa kia! - Đồng chí Võ Văn Kiệt nhắc lại.

Không khí hội nghị lúc này thật sôi động. Nhiều ý kiến trao đổi về vấn đề cơ chế. Cuối cùng như một câu kết luận, đồng chí Võ Văn Kiệt nói: Phải cởi trói cho nó thôi thì nó mới làm ăn được.

Đến giờ giải lao, đồng chí Võ Văn Kiệt cùng đồng chí Tuấn (Bí thư riêng) lại kéo tôi và đồng chí Võ Đặng ra một chỗ trao đổi thêm về mối quan hệ giữa Thông tin quân sự và Bưu điện, về việc vận hành hệ thống viễn thông mà ta tiếp quản. Chúng tôi báo cáo rõ: Với Bưu điện, Thông tin vẫn quan hệ tốt, thỉnh thoảng có một số công trình như xây dựng cột cao phát sóng, lắp ráp một số trạm ở những nơi địa hình không thuận lợi, Bưu điện vẫn liên hệ để chúng tôi làm với tư cách là người "làm thuê" thôi. Còn với hệ thống viễn thông tiếp quản thì Thông tin vẫn quản lý, khai thác, vận hành tốt; gần đây còn xây dựng tiếp được một số trạm mới nối thông đường truyền từ Đà Nẵng ra Hà Nội bằng thiết bị VC-300. Thiết bị này do ta và Cu Ba cộng tác tự thiết kế, cải tiến từ các thiết bị của Mỹ mà ta thu được.

Trước khi vào họp tiếp, anh Kiệt nói: Tôi hoàn toàn ủng hộ Thông tin, các anh về làm tờ trình gửi lên ngay. Tôi về sẽ báo cáo và sớm có quyết định.

Kết thúc hội nghị, chúng tôi vui như mở cờ trong bụng. Chiều hôm ấy, đồng chí Võ Đặng và tôi đã báo cáo ngay đồng chí Tư lệnh Nguyễn Diệp, các anh trong Bộ tư lệnh. Mấy ngày sau, Thường vụ Đảng ủy Binh chủng họp thông qua chuyên đề về Dự án xây dựng Tổng công ty Điện tử thiết bị Thông tin quân đội, với cái tên giao dịch là SIGELCO (chữ viết tắt của các từ tiếng Anh: Signal Electronic Corporation). Dự án này, vào đầu tháng 5 năm 1989 được đồng chí Tư lệnh Nguyễn Diệp và đồng chí Võ Đặng - Phó Chủ nhiệm Kỹ thuật Binh chủng mang lên báo cáo trực tiếp với Bộ Quốc phòng và đã được đồng chí Bộ trưởng Lê Đức Anh đồng ý, phê duyệt. Tờ trình sau đó được gửi lên báo cáo Hội đồng Bộ trưởng. Tiếp đó, ngày 1 tháng 6 năm 1989 Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 58/HĐBT do Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt ký cho phép thành lập Tổng công ty Điện tử thiết bị Thông tin (Sigelco). Tổng công ty được phép triển khai làm nhiệm vụ kinh tế trong lĩnh vực thông tin liên lạc vừa là để phục vụ quân đội, vừa để góp phần phục vụ nhu cầu của đời sống xã hội.

Thế là từ đây, con đường làm ăn đã rộng mở, các rào cản đã được dỡ bỏ. Có thể nói ngày 1 tháng 6 năm 1989 là cái mốc đánh dấu sự ra đời của Tổng công ty Sigelco – đơn vị tiền thân của Tập đoàn Viễn thông quân đội (Viettel) ngày nay, một Tập đoàn làm kinh tế mạnh của quân đội và của Nhà nước ta với nhiều dịch vụ kỹ thuật thông tin liên lạc khác nhau, có doanh thu hàng năm đáng kể, mà thường là năm sau cao hơn năm trước. Chỉ nói riêng năm 2011, doanh thu của Tổng công ty đạt gần 120 nghìn tỷ đồng, góp một phần không nhỏ vào việc xây dựng và phát triển kinh tế quốc dân, đồng thời tích cực tham gia các hoạt động xã hội. Năm 2007, Tập đoàn đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới (1996-2005). Tổng giám đốc Hoàng Anh Xuân - người có nhiều công lao đóng góp vào việc lãnh đạo, điều hành Tập đoàn cũng được phong tặng danh hiệu Anh hùng, Huân chương Lao động hạng Ba và Huy chương "Vì thế hệ trẻ". Nhiều cán bộ, công nhân viên của Tập đoàn được tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý khác.

Là những chứng nhân lịch sử, có mối quan hệ mật thiết với Tập đoàn Viễn thông quân đội từ thuở ban đầu, nhân dịp Hội Truyền thống Cựu chiến binh Thông tin khu vực Hà Nội cho xuất bản cuốn Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc, sau khi trao đổi với đồng chí Nguyễn Diệp và Võ Đặng, tôi xin ghi lại vài tư liệu về SIGELCO – VIETTEL để bạn đọc cùng tham khảo.

Hà Nội, ngày 12-2-2012

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

12.6.25

Đường trục cáp quang đầu tiên của Binh chủng Thông tin

Thượng tá Nguyễn Thanh Hải - nguyên cán bộ Phòng KHCN Binh chủng

Dự án đường trục thông tin cáp quang quân sự Bắc - Nam là một dự án lớn, nhiều cơ quan, nhiều đơn vị tham gia. Dự án gồm nhiều công đoạn khác nhau; thành công của Dự án là thành công chung của Bộ Quốc phòng, của Binh chủng Thông tin, trong đó có phần đóng góp của đội ngũ cán bộ kỹ thuật Trung tâm Kỹ thuật Cáp quang của Công ty Điện tử - Viễn thông quân đội chúng tôi. Trong quá trình triển khai Dự án, tôi được giao làm Trung tâm trưởng. Trung tâm gồm 40 đồng chí là cán bộ kỹ thuật từ các cơ quan, đơn vị khác nhau trong Binh chủng Thông tin tập hợp về. Đây là lực lượng chính tham gia lắp đặt thiết bị, thông tuyến và bảo đảm kỹ thuật giai đoạn đầu. Với tư cách là một cán bộ kỹ thuật và may mắn được tham gia Dự án từ đầu, tôi xin được báo cáo với Đại hội những khó khăn mà chúng tôi đã phải cố gắng rất nhiều để vượt qua, chủ yếu là dưới góc độ của người làm kỹ thuật".

Đó là lời mở đầu bản báo cáo thành tích tại Đại hội thi đua Quyết thắng toàn quân diễn ra từ ngày 16 đến 18 tháng 10 năm 2000 ở Thủ đô Hà Nội của Thạc sĩ Nguyễn

Mạnh Hùng - Phó Giám đốc Công ty Điện tử - Viễn thông quân đội thuộc Binh chủng Thông tin liên lạc.

Đường trục thông tin Bắc - Nam với dung lượng lớn và công nghệ hiện đại là mơ ước của những người làm thông tin quân sự qua nhiều thế hệ. Bởi vì, đó là hạ tầng cơ sở quan trọng nhất của một mạng viễn thông, nó cũng như quốc lộ 1 - xương sống của mạng lưới giao thông cả nước. Mạng tổng đài điện thoại, mạng truyền số liệu, mạng di động trung kế vô tuyến và bất kỳ mạng thông tin nào trên phạm vi toàn quốc đều phải cần đến đường trục Bắc - Nam. Nếu phải thuê dung lượng là 2 luồng 155Mb/s để đáp ứng một phần nhu cầu thì chi phí ước tính là 300 tỷ đồng trong 1 năm (bằng tổng vốn đầu tư toàn bộ dự án đường trục thông tin quân sự). Tuy nhiên, tài chính mới chỉ là một vấn đề, vấn đề quan trọng hơn là để đảm bảo các yếu tố về an ninh - quốc phòng, đòi hỏi chúng ta cần phải sở hữu và quản lý toàn bộ mạng truyền dẫn đường trục.

Để xây dựng được một tuyến trục truyền dẫn Bắc - Nam, phải đầu tư hàng ngàn tỷ đồng, với thời gian triển khai nhiều năm, trong khi điều kiện ngân sách quốc phòng hạn chế. Đảng ủy và Thủ trưởng Bộ tư lệnh Thông tin đã đề xuất với Bộ Quốc phòng trình Thủ tướng Chính phủ và Bộ Chính trị phê duyệt cho sử dụng 2 sợi quang của các ngành Bưu điện và Điện lực. Chúng ta xin được 2 sợi quang là một thuận lợi để mở rộng lượng thông tin trên đường trục quân sự Bắc - Nam.

Nhưng sau khi đã có 2 sợi quang trong tay, chúng ta đứng trước một loạt thách thức: cáp quang đi dọc đường Trường Sơn, toàn vùng rừng núi, địa hình hiểm trở, nhà trạm lại chưa có gì; đội ngũ kỹ thuật lại hoàn chưa có kinh nghiệm về thiết kế, lắp đặt hệ thống thông tin quang; chỉ với 2 sợi quang thì khó có thể xây dựng một đường trục có cấu hình 1+1, mà như chúng ta đã biết, đã là đường trục thì độ tin cậy phải rất cao, phải có dự phòng nóng; theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng, việc thiết kế, khảo sát và lắp đặt nhất thiết do người Việt Nam tự thực hiện, không được phép sử dụng chuyên gia nước ngoài. Đây là một trong những thách thức lớn đối với đội ngũ kỹ thuật Binh chủng. Theo dự kiến ban đầu, thời gian lắp đặt là 3 tháng, nhưng sau đó, thời gian lắp đặt chỉ còn 1 tháng. Đối với một dự án tương tự, Bưu điện phải mất tới 6 tháng. Còn đối tác bán thiết bị thì cũng khẳng định rằng, nếu Binh chủng Thông tin tự làm thì mất ít nhất 6 tháng. Một thách thức nữa đối với đội ngũ kỹ thuật được tham gia dự án là phải lắp đặt thiết bị truyền dẫn quang có công nghệ đồng bộ (SDH) là công nghệ hiện đại nhất hiện nay; đặc biệt là công nghệ ghép bước sóng, thu phát trên cùng một sợi dây quang được sử dụng tại Việt Nam lần đầu tiên.

Điều kiện lắp đặt rất khó khăn, đa số các trạm nằm ở khu vực rừng núi, đi lại vận chuyển khó khăn. Có những trạm phải vận chuyển hàng chục tấn hàng bằng xe bò, xe trâu qua 3km đường núi, với hàng chục chiếc xe trâu thuê của dân, mỗi xe chở 2 bình ắcquy, mỗi bình 68kg chứa đầy dung dịch axít, mà số lượng bình ắcquy cho một trạm là 48 bình. Còn đối với trạm nằm sâu trong rừng Trường Sơn, anh em kỹ thuật phải đi hàng trăm kilômét với tốc độ xe nhiều đoạn chỉ đạt khoảng 5-10km/giờ, cứ có mưa là đường bị đất, đá từ sườn núi đổ xuống làm tắc, có khi còn nguy hiểm đến tính mạng. Trong thời gian lắp đặt, nhiều cơn bão lớn và mưa lũ xảy ra, gây rất nhiều khó khăn cho việc vận chuyển thiết bị tới chân công trình.

Mặc dù khó khăn và nhiều thách thức, nhưng những cán bộ và nhân viên kỹ thuật của Công ty Điện tử - Viễn thông quân đội vẫn triển khai công trình thành công đúng thời hạn. Ngày 6 tháng 1 năm 1999, đường trục thông tin quân sự Bắc - Nam đã thông từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh. Các cuộc đàm thoại đường dài thực hiện trên tuyến cáp quang quân sự đạt chất lượng cao. Tiếp đó, Bộ tư lệnh Thông tin đã triển khai cáp quang đến Sở chỉ huy Bộ Quốc phòng, để ngày 16 tháng 1 năm 1999 thực hiện báo cáo thông tuyến kỹ thuật bằng cầu truyền hình giữa Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh với các thủ trưởng Bộ. Qua cầu truyền hình trực tiếp, Tư lệnh Binh chủng Thông tin đã báo cáo với lãnh đạo, chỉ huy Bộ về quá trình xây dựng lắp đặt tuyến đường trục cáp quang quân sự Bắc - Nam và buổi truyền hình trực tiếp đã diễn ra thông suốt. Ngày 16 tháng 1 năm 1999 đã đi vào lịch sử Bộ đội Thông tin liên lạc trong thời kỳ từng bước hiện đại hoá ngành Thông tin Quân sự như một mốc son.

Tính đến tháng 10 năm 2000, Công ty Điện tử - Viễn thông quân đội đã lắp xong các trạm cáp quang, hệ thống đã đi vào hoạt động ổn định. Việc lựa chọn công nghệ và giải pháp ghép bước sóng thu phát trên một sợi quang để có cấu hình dự phòng 1+1 cả về sợi quang và thiết bị là hoàn toàn đúng đắn. Gần 2 năm khai thác và sử dụng, đường trục luôn luôn đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt. Theo đánh giá của các chuyên gia thì chất lượng đường truyền và mọi chỉ tiêu kỹ thuật của tuyến đều đạt tiêu chuẩn quốc tế.

Về giá trị kinh tế của đường trục là rất lớn. Nếu như trước đây, Binh chủng chỉ có đủ kinh phí để thuê 50 kênh với chi phí khoảng 500 triệu đồng/tháng, thì nay Binh chủng đã cắt hết các đường thuê của Bưu điện và đã cấp gần 900 kênh trên đường trục. Nếu thuê 900 kênh này của Bưu điện thì chúng ta sẽ phải trả khoảng 9 tỷ đồng/tháng, tức là trên 100 tỷ đồng/năm. Nhưng điều quan trọng hơn là từ nay, dựa trên đường trục Binh chủng Thông tin liên lạc có thể tiếp tục mở rộng mạng tổng đài, xây dựng mạng truyền số liệu và các mạng khác chủ động bảo đảm kỹ thuật và bảo mật. Đường trục là cơ sở hạ tầng để thực hiện truyền hình, truyền ảnh đáp ứng yêu cầu tự động hoá chỉ huy, quản lý, điều hành của Bộ Quốc phòng đến các quân khu, quân đoàn, quân binh chủng và các đơn vị vùng trọng điểm.

Đường trục thông tin quân sự đã trở thành một bộ phận quan trọng của hệ thống đường trục Quốc gia. Đường trục quân sự đã tham gia bổ sung, vu hồi và làm tăng độ tin cậy các hệ thống thông tin của các bộ, ngành khác như Công an, Hàng hải, Đường sắt và Bưu điện. Ngoài sự trưởng thành về mạng lưới, chúng ta có được thành công lớn nhất là sự trưởng thành về con người, về đội ngũ kỹ thuật thông tin quân đội.

Kinh nghiệm rất sâu sắc mà thạc sĩ Nguyễn Mạnh Hùng rút ra sau khi hoàn thành Dự án là: càng khó khăn thì càng có nhiều sáng tạo. Khó khăn là chất kích thích tốt nhất cho tư duy sáng tạo. Và bất kỳ khó khăn nào cũng có lối thoát của nó. Vấn đề là chúng ta phải kiên trì tư duy, mạnh dạn, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm. Khi được giao nhiệm vụ thực hiện dự án có kèm theo một yêu cầu là người nước ngoài không được tham gia vào thiết kế mạng, lắp đặt thiết bị. Thực ra, đây là một yêu cầu quá sức nhưng là yêu cầu bắt buộc nên đội ngũ cán bộ kỹ thuật do anh Hùng dẫn dắt không có lý do nào khác là phải quyết tâm làm; phải tự học, tự tìm tài liệu để nghiên cứu và thông qua các hồ sơ dự thầu để có thông tin. Chính vì yêu cầu khắt khe đó của Bộ Quốc phòng mà đến nay Binh chủng đã có được một đội ngũ kỹ thuật có thể đạt mức chuyên gia.

Anh Hùng tâm sự: "Đội ngũ kỹ thuật của chúng ta rất có năng lực. Nhưng do điều kiện tiếp cận thông tin chưa nhiều, do vấn đề đào tạo và tự đào tạo chưa tốt nên chưa đáp ứng được yêu cầu. Nhưng nếu có công việc cụ thể, nếu được tin tưởng giao việc, có điều kiện tiếp xúc thông tin, được tạo điều kiện học tập và có ý thức giúp đỡ lẫn nhau, người biết hướng dẫn người chưa biết, người đi trước chỉ dẫn người đi sau thì các cán bộ kỹ thuật sẽ trưởng thành nhanh chóng. Dự án cáp quang là một thí dụ: khi mới tập trung về Trung tâm Kỹ thuật Cáp quang có đến 80% các đồng chí chưa có kiến thức gì về truyền dẫn quang; nhiều năm chưa được tiếp xúc, cập nhật thông tin mới. Nhưng khi về Trung tâm, công việc nhiều, được tổ chức tin cẩn, có sự hướng dẫn của các đồng chí đi trước, được mạnh dạn giao việc, đa số các đồng chí đó đã trưởng thành và hiện nay đang là các cán bộ chủ chốt của hệ thống truyền dẫn quang và đủ năng lực sẵn sàng tham gia các dự án khác. Đến nay, đội ngũ cán bộ kỹ thuật đã làm chủ được kỹ thuật truyền dẫn quang, khai thác và xử lý sự cố bảo đảm đường trục thông suốt".

Sau khi thực hiện Dự án, vị thế của thông tin quân sự đã được cải thiện đáng kể trong sự trưởng thành chung của mạng lưới thông tin quốc gia, nhất là trong xu thế hội nhập của các ngành viễn thông, tin học và phát thanh truyền hình, nhằm tiến tới một xã hội thông tin trong thiên niên kỷ mới. Và chúng ta cũng hoàn toàn tin tưởng vào tài năng của đội ngũ cán bộ kỹ thuật của Binh chủng trong đó có thạc sĩ Nguyễn Mạnh Hùng, người đã đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quân năm 2000. Hiện nay Đại tá Nguyễn Mạnh Hùng đang là Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Viễn thông quân đội - Viettel.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)