13.6.25

Chiến dịch dây lưỡng kim

Đinh Văn Đạt - Hội Truyền thống Viettel

Có thể nói, dùng dây lưỡng kim để lắp đặt đường dây truyền thanh cho các hợp tác xã liên thôn liên xã ở miền Bắc là phương án tối ưu trong những năm  1972 – 1973 của thế kỷ XX. Nhà máy Thông tin M1 là đơn vị thực hiện lắp đặt đầu tiên cho các xã ở các huyện Thanh Ba, Hạ Hòa của Vĩnh Phú. Nhưng quy mô lúc ấy còn nhỏ lẻ, vả lại muốn mua được dây lưỡng kim thu hồi của Binh chủng thì phải được Tư lệnh duyệt. Đến cuối những năm 80, Binh chủng có chủ trương thu hồi tất cả các tuyến tải ba dây trần, vì vậy dây lưỡng kim thu được có số lượng rất lớn.  Các đơn vị đua nhau đi lắp đặt các hệ thống truyền thanh cho nông thôn. Nhà máy Thông tin M1 đã xây dựng các đường truyền thanh có quy mô đến cấp huyện, rồi họ lại vào cả Tây Nguyên để lắp truyền thanh cho các công ty cao su, cà phê, chè... Trung đoàn 134 là nơi chủ trì thu hồi dây lưỡng kim nên ngày nào cũng có xe của các đơn vị ở khắp nơi về nhận hàng... Thấy họ làm ăn được, anh em chúng tôi sốt ruột quá. Song nghĩ đến hoàn cảnh của mình, chúng tôi lại chùn bước, vì ít người không thể tổ chức đi kéo dây như các đơn vị. Đành phải nghĩ cách khác vậy.

Một hôm tôi sang Phòng Thông tin tín hiệu của ga Hà Nội để bảo hành một số máy thông tin mà trước đây chúng tôi đã lắp đặt cho họ. Đầu giờ nên anh em họ đang ngồi "chè nước vui vẻ", tôi cũng ngồi vào đấy để góp chuyện cho thân mật. Đúng lúc đó, có anh cán bộ vật tư của xưởng Thông tin lên lĩnh dây đồng về để thay thế một số đường tín hiệu bị đứt nhưng Trưởng phòng Thông tin thông báo hết dây mà chưa nhập được hàng về. Hai bên đấu khẩu quyết liệt về chuyện đó. Thấy vậy, tôi quay sang hỏi cậu Long - một cán bộ lo vật tư cho Phòng Thông tin mà tôi và anh Đặng Khắc Tăng quen biết từ trước, được biết: họ đang rất cần dây đồng 5 ly để lắp đường điện một chiều cho việc bẻ ghi ở các ga. Tôi nghĩ và nói với họ: dây đồng 5 ly hiện nay khan hiếm, mua ngoài thì vô cùng đắt mà cũng không có sẵn, có lẽ đường sắt phải cải tiến đường thông tin tín hiệu thôi. Nếu đồng ý thay thế dây khác thì chúng tôi mới có cách giúp các anh được. Tôi đề xuất: "Dây đồng 5 ly lắp cho việc bẻ ghi, một là chịu lực kém; hai là cấp điện một chiều cho các đèn xanh đỏ ở ga tôi thấy dây lưỡng kim 3,2 ly hoặc 3,4 ly của chúng tôi có thể thỏa mãn hai yếu tố ấy của các anh". Sau đó, chúng tôi đã thử đo dòng tiêu thụ khi cấp điện cho các bóng đèn xanh đỏ lúc bẻ ghi ở nhánh lớn nhất là 7,5 ampe. Trong khi đó tiết diện phần đồng của dây lưỡng kim 3,2 ly và 3,5 ly có thể chịu đựng được một dòng tải đến 9,55 ampe. Như vậy, tạm kết luận là có thể thay dây đồng bằng dây lưỡng kim được.

Tôi bàn chuyện này với Đặng Khắc Tăng và nhờ Tăng lên Trung đoàn 134 mượn tạm một cuộn dây lưỡng kim từ 3,2 hoặc 3,4 ly dài 500m, giao cho bên đường sắt. Một tuần sau, bên đường sắt đến gặp tôi và thông báo là phương án thay thế dây lưỡng kim 3,2 ly cho dây đồng 5 ly thật tuyệt vời. Về lực lại có vẻ khỏe hơn trước mà độ sáng các đèn xanh đỏ không hề thay đổi. Họ đề nghị Sigelco cấp cho đường sắt càng nhiều càng tốt.

Kế hoạch được báo cáo lên Ban Giám đốc và ngay lập tức có cuộc làm việc với Trung đoàn 134 để "bao" hết số dây lưỡng kim hiện có của Trung đoàn, thông qua phê duyệt của Binh chủng.

Từ đó, mỗi tuần chúng tôi đều giao cho đường sắt, ít thì dăm bảy tạ, nhiều thì hơn một tấn dây lưỡng kim 3,2 hoặc 3,4 ly. Buôn bán trôi chảy thuận lợi làm cho đơn vị thấy nhộn nhịp hẳn lên, ai cũng mừng. Về phía đường sắt, chúng ta đã giải thoát cho họ một thế bí thật đúng chỗ đúng lúc. Nhưng càng về sau dây thu hồi đứt đoạn nhiều quá, lại bị han gỉ nhiều nên công việc có dấu hiệu chững lại.

Một buổi chiều tôi từ Cát Linh sang đến đầu phố Quốc Tử Giám thì thấy một tốp thợ đang tuốt dây thép cho thẳng. Tôi quan sát thấy thiết bị của họ thật đơn sơ. Một môtơ 4,5 kW có bánh đà tạo giật, một môtơ 1,5 kW để cuốn dây lại, qua một cái lồng đường kính 1m. Họ móc một đầu dây sắt vào môtơ tạo giật, đầu kia thì gông chặt lại. Khi khởi động môtơ 4,5 kW, dây sắt được bánh đà kéo căng ra rồi duỗi thẳng. Tất cả sắt từ các công trình tháo dỡ, được các nơi mang đến đây để nhờ ông ta "tuốt thẳng" rồi cuộn lại như là sắt mới. Sau đó họ hàn nối lại (nếu dây sắt đứt nhiều). Tôi đặt vấn đề với ông tổ trưởng nhóm thợ về việc làm sạch và hàn nối dây lưỡng kim.

Một thí nghiệm trên một đoạn dây 20m ông ta hàn nối đến 5 chỗ mà tôi không nhận ra được một chỗ nào cả: tất cả đều nuột nà, vàng chóe, bóng lộn. Tôi lại yêu cầu ông thử tải chịu lực. Ông đánh dấu những mối hàn của cuộn dây ấy rồi cho chạm mát giật văng thì thấy dây chỉ đứt ở những chỗ không hàn. Thế mới biết sức sáng tạo của người thợ Việt Nam tuyệt vời thật. Vì thêm công đoạn làm mới dây cũ, giá thành bị đội thêm 5 giá nữa nhưng bên đường sắt vẫn chấp nhận. Chiến dịch dây lưỡng kim được kéo dài thêm, cho mãi đến khi Trung đoàn 134 không còn một kilôgam dây lưỡng kim nào nữa thì chiến dịch mới kết thúc.

Bây giờ ngồi viết ra những dòng này, tôi mới thấy tâm đắc một điều: Trong "cái khó ắt phải ló cái khôn", nhưng điều đó chỉ đúng với những ai thật sự toàn tâm toàn ý vì công việc. Khi đã trăn trở với công việc ắt sẽ tìm ra được giải pháp để khắc phục, hoặc sẽ tìm được người cộng tác.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

0 comments:

Đăng nhận xét