Đỗ Thị Thái - nguyên chiến sĩ Đại đội 3 Tiểu đoàn 77
Con gái 66, cái tên mà chúng tôi vẫn nói về mình vì ngày
30 tháng 6 năm 1966 là ngày nhập ngũ của hơn 70 cô gái chúng tôi từ các nơi. 50
cô từ quê hương của nữ du kích Hoàng Ngân - Hưng Yên. 13 cô ở Gia Lâm – Hà Nội
và 10 cô quê Bắc Thái. Chúng tôi là lớp con gái đầu tiên Binh chủng Thông tin
tuyển chọn đưa về Tiểu đoàn 77, nhưng là lớp chiến sĩ đi sau các chị được Binh chủng
tuyển thẳng từ Trường Trung cấp Bưu điện Hà Nam năm 1965.
Ngày 29 tháng 6 năm 1966, giặc Mỹ ném bom bắn phá kho
xăng Đức Giang (đây là điểm đầu tiên Mỹ ném bom Hà Nội), thì tối ngày 30 tháng
6 năm 1966, chúng tôi có mặt tại Trường Hậu cần ở Gia Thượng - Ngọc Thụy - Gia
Lâm.
Đại đội huấn luyện của chúng tôi gồm 2 trung đội và 8 tiểu
đội. Chú Hoè là Đại đội trưởng, chú Trác là Đại đội phó, chú Bình là Chính trị
viên... Chúng tôi gọi các thủ trưởng là chú vì hồi đó chúng tôi còn rất trẻ,
người nhiều tuổi nhất là 19, 20; ít nhất là 16 còn đại đa số là 17 tuổi.
Đêm đầu tiên xa nhà, buồn, vui lẫn lộn. Vui nhất là hôm
nhận quân trang. Lúc mặc thử quân phục, có chị mặc ngược đằng trước ra đằng
sau, có chị đi giày trái chân, có chị mặc quần áo tới số 3 vẫn còn dài như các
chị Thơm, Lành; có chị mặc quần áo số 1 vẫn còn ngắn như chị Lệ. Khoác những bộ
quần áo còn thơm mùi hồ trên mình chị nào chị nấy chững chạc hẳn lên.
Những ngày sau đó chúng tôi bước vào tập đội ngũ và bắn
súng. Vì phải sơ tán, sáng chúng tôi hành quân đến thôn Bắc Cầu, nơi đầu nguồn
của sông Đuống quê tôi với những rặng nhãn xum xuê đẹp mắt; vì còn trẻ nên
chúng tôi làm quen rất nhanh với nội quy và cũng rất lạc quan yêu đời. Trong giờ
giải lao thường chúng tôi được nghe chị Thơm và chị Loan (Sàng) hát chèo, các
chị Thuý Nga và Ngọc Phượng hát những bài tình ca thật là mượt mà, trong trẻo.
Dù mặc quân phục nhưng nhiều chị như chị Lý, chị Yến, chị Thuân, chị Phượng...
vẫn rất thích thả những bộ tóc dài trông thật mượt mà đáng yêu.
Những ngày học đội ngũ và học chính trị, chúng tôi được
thủ trưởng Duyện, thủ trưởng Thành là các thủ trưởng tiểu đoàn đến nói chuyện về
truyền thống của Binh chủng Thông tin liên lạc, xác định nhiệm vụ cho chúng
tôi. Vào một buổi tối, chúng tôi hành quân qua cầu Long Biên sang trường cấp 3
Nguyễn Trãi (đối diện với cơ quan Bộ tư lệnh Binh chủng bây giờ) để nhận nhiệm
vụ chuyển gạch từ Nhà máy gạch Đại La về xây Sở chỉ huy Binh chủng. Ban ngày
lao động vất vả, tối lại thường xuyên có báo động nhưng chúng tôi vẫn rất vui
và lạc quan. Thời gian này, máy bay Mỹ bắn phá miền Bắc rất ác liệt, Thủ đô Hà
Nội cũng liên tục bị ném bom. Chúng tôi lại phải sơ tán lên Ba Vì. Nơi chúng
tôi đến sơ tán là một bản của người dân tộc Mường ở tận chân núi Ba Vì. Chúng
tôi đi bằng ô tô. Sáng dậy, thấy núi ở ngay cạnh nhà. Ai cũng ngơ ngác vì đây
là lần đầu tiên chúng tôi thấy núi và mây ở ngay sát trên đầu. Xóm chúng tôi ở
có tên là Vân Sơn. Chúng tôi thi nhau chạy ra chân núi hái những quả sim chín mọng.
Thật là vui vẻ.
Ở Vân Sơn, hàng ngày chúng tôi phải lội qua một con suối
nhỏ để sang sườn núi phía bên kia bản tập bắn súng, tập lăn lê, bò toài, tập
đào hầm..., những bài tập đầu tiên của một tân binh. Chú Dần, người quản lý đơn
vị đọc cho chúng tôi nghe một câu thơ rất hay:
"Vân Sơn mây núi trập trùng
Non xanh, nước biếc ta đừng quên nhau!".
Qua một thời gian huấn luyện quân sự, cái nắng, cái gió
của Ba Vì làm cho chúng tôi ai cũng cứng rắn hẳn lên và có một nước da sạm nắng.
Các chị Tẽm, Hoài đã có sẵn nước da bánh mật thì nay lại càng săn chắc hơn lên.
Còn như chị Minh và một số các chị khác vốn có nước da trắng hồng thì nay trông
đã rắn rỏi lên nhiều. Đến hôm bắn đạn thật, ai cũng rất phấn khởi vì kết quả đạt
rất tốt. Người đạt điểm cao nhất là 29 điểm, thấp nhất cũng đạt 15 điểm, riêng
tôi đạt 26 điểm!
Sau hôm bắn đạn thật, chúng tôi chia tay nhau. 20 người
về Đại đội 3 trong đó có tôi, 20 người về Đại đội 5, còn lại về Đại đội 4. Số về
Đại đội 3 và Đại đội 5 học báo vụ còn số về Đại đội 4 thì học tổng đài và tải
ba.
Những ngày đầu về đại đội, do chưa có nhà riêng cho nữ,
nên chúng tôi ở trong nhà dân thôn Mỹ Lâm. Sáng hành quân về hội trường học tập,
hội trường nằm ở dưới một rặng tre già, phía sau nhà đại đội. Ngỡ ngàng với các
ký hiệu tịch, tà (morse). Khi tập phát tín hiệu bằng mồm, ai đó đọc sai, thừa
ra một tịch hay một tà thì cả lớp cùng cười vang. Ở Mỹ Lâm được ít ngày, chúng
tôi được chuyển về ở tập trung trong ngôi nhà dành riêng cho nữ với 20 cái giường
và một cái giếng rất trong ở dưới chân đồi. Về đây, ngoài học báo vụ, chúng tôi
còn phải lao động đào hào, làm đường đi. Ngày chủ nhật được nghỉ học, nhưng tuần
nào cũng phải vào rừng lấy củi, cứ mỗi người một gánh từ rừng qua Đại đội 5,
qua nông trường Việt Phi mất khoảng gần 10km mới về tới nhà. Tuy vất vả, song
chúng tôi vẫn hăng hái học tập và rèn luyện.
Tết Nguyên đán năm 1967, Tết đầu tiên xa nhà. Các thủ
trưởng sợ chúng tôi nhớ nhà nên tổ chức đón Tết ngay ở nhà nữ, làm cây thông,
hái hoa dân chủ với nhiều trò chơi rất vui vẻ. Đến giao thừa, cả đơn vị nghe
Bác Hồ chúc Tết, lúc ấy sao mà thiêng liêng thế, dù có nhớ nhà đến mấy cũng
không có ai dám khóc, chúng tôi thấy mình đã lớn hơn bởi nhiệm vụ thông tin
liên lạc cao quý lắm. Sáng mùng 1 và các ngày sau đó đơn vị tổ chức các trò
chơi chạy, kéo co và bóng chuyền, ai nấy đều vui vẻ, phấn khởi.
Qua Tết được ít ngày, kết thúc khoá học, chúng tôi lại
chia tay nhau. Tám chị về Trung đội 1 ở Hà Nội, tôi và 10 chị ở lại Trung đội 2
ở An Thành.
Những ngày đầu vào buồng thu, cắm cáp phụ nghe các anh
trong tiểu đội làm việc, tôi nghe chưa quen vì tín hiệu khác xa khi chúng tôi học.
Tiếng "tịch, tà" ở đây nhanh như chim hót, tín hiệu lúc được, lúc mất.
Rồi công việc cũng quen dần, chúng tôi từ đảm nhiệm được các phiên đơn giản, ít
điện phát đi hay nhận về, rồi lên các phiên khó hơn.
Thời gian này, tôi và các bạn ở c3, c4, c5 cũng đã đảm
nhận một phần công việc để thay thế các đồng chí nam giới đi chiến trường.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, cả đơn vị làm việc căng
thẳng, cứ xuống hầm là đeo cáp, không khí trong buồng thu rất nhộn nhịp; điện
phát, điện thu quá nhiều, độ khẩn hầu hết là TK, TK dịch ngay. Ngoài giờ làm việc
ở buồng thu về, chúng tôi vẫn tranh thủ tăng gia rau xanh và trồng sắn để cải
thiện bữa ăn hàng ngày.
Sau cuộc Tổng tiến công Mậu Thân, ai trong chúng tôi cũng
tự hào là mình đã được đóng góp một phần nhỏ bé vào chiến công chung. Các chị
nhập ngũ năm 1965 có chị Lơi, chị Thành là vận động viên đi thu phát báo quốc tế,
còn con gái 66 chúng tôi có các chị Vương Thị Ngọc Phượng, Nguyễn Thị Thịnh có
thành tích 10.000 nhóm điện không sai sót, được toàn quân học tập. Chị Thịnh
còn vinh dự được Bác Hồ tặng huy hiệu.
Giặc Mỹ càng điên cuồng bắn phá miền Bắc, Trung đội 1 ở
trong thành sơ tán lên An Thành, thế là chúng tôi lại gần nhau, cùng làm việc
và thay nhau đi lao động để xây dựng cơ sở cho Đại đội 3 sau này.
Trong các phong trào thi đua của Bộ tư lệnh và của đơn
vị, nữ 66 chúng tôi luôn tham gia nhiệt tình, nhiều chị đạt thành tích cao, được
tặng Bằng khen, Giấy khen.
Đến giữa năm 1968, do yêu cầu nhiệm vụ, 13 chị: Hải, Chính,
Thuý, Nga, Hoài, Lê, Lý, Tươi, Hiền, Nhạn, Hồng, Chí và tôi được điều động về đội
kiểm soát vô tuyến điện (nay là Trung tâm kiểm soát vô tuyến điện), để thay thế
cho một số anh đi chiến trường tiếp. Về đây chúng tôi không trực tiếp làm công
tác thông báo, mà chỉ theo dõi các phiên liên lạc vô tuyến điện của các mạng,
phát hiện các sai sót giúp Cơ quan Tham mưu Binh chủng kịp thời chấn chỉnh uốn
nắn.
Ít tháng sau, một số chị em lại về Cục Bảo vệ Bộ Quốc phòng
như: Yến, Vinh, Đam, Lệ, Thao. Lúc này Tiểu đoàn 77 đã tuyển nữ 68 vào thay thế
chúng tôi.
Cuối năm 1969, Bộ tư lệnh cho một số chị em đi học ôn văn
hoá thi vào các trường đại học và trung cấp. Đầu năm 1970, tôi cùng một số chị
cũng được đi học trung cấp y. Từ đó, người đi học, người chuyển ngành ở nhiều
nơi khác nhau gần như sự liên hệ với nhau rất ít, trừ một số chị ở Hà Nội.
Cho đến ngày 30 tháng 6 năm 1996, chúng tôi tổ chức họp
mặt kỷ niệm 30 năm ngày nhập ngũ (ở nhà chị Từng). Lần đầu tiên tập hợp được gần
20 chị, chị Sâm (Hưng Yên), chị Loan (Nam Hà) cũng về. Tuy chỉ là một số ít trong
tổng số nữ 66, nhưng cũng đủ nói lên tình cảm của chị em sau những ngày bặt tin
nhau; kẻ khóc, người cười thật cảm động. Chúng tôi ai cũng thương Lý, vì Lý là người
không may mắn nhất; chỉ do một sơ suất nhỏ của đồng đội, Lý đã phải vĩnh viễn để
lại một chân trên đất An Thành. Hiện tại Lý cũng đã có gia đình và những đứa con
ngoan, biết yêu thương chăm sóc mẹ, nhờ đó mà chúng tôi cũng yên tâm và mừng
cho Lý.
Gặp nhau chúng tôi mới biết, sau những ngày rời quân ngũ
trở về cuộc sống đời thường, với nhiều ngành nghề khác nhau, chị em đều phát
huy bản chất, truyền thống tốt đẹp "Bộ đội Cụ Hồ". Năm chị (Thúy Nga,
Khánh, Diệu, Yến và tôi) tốt nghiệp đại học; chị Sâm (Hưng Yên) là Chủ tịch Công
đoàn Bưu điện tỉnh; chị Ngâm là Chủ tịch Phụ nữ xã; chị Nga tham gia công tác ở
phường; chị Vũ Thị Phương, chị Minh rất thành đạt trong kinh doanh. Chị Gái, một
sĩ quan chính trị - cán bộ đại đội thuộc Tiểu đoàn 78 quân bưu đã chuyển ngành
về làm việc tại huyện ủy Gia Lâm. Năm cô con gái "rượu" của chị Từng
đều học giỏi và tốt nghiệp đại học, các cháu rất thành công trong nghề nghiệp.
Còn nhiều chị em khác ở nhiều địa phương mà tôi không thể kể hết được tên; có
thể nói rằng, với chúng tôi những cô gái 66 năm xưa dù ở đâu, làm gì đều gương
mẫu, nhiệt tình hoàn thành tốt nhiệm vụ trên từng vị trí công tác và đều thành
đạt. Đặc biệt chị nào cũng có gia đình riêng rất hạnh phúc.
Ngày 30 tháng 6 năm 2006, chúng tôi tổ chức kỷ niệm 40
năm ngày nhập ngũ ở Đầm Long - Sơn Tây và có về thăm lại Mỹ Lâm - nơi đơn vị sơ
tán ngày xưa. Bây giờ tất cả chúng tôi đều nghỉ hưu và đã lên chức bà nội, bà
ngoại; cũng có chị đã mất vì bệnh tật. Dù ở tuổi nào, khi gặp nhau chúng tôi đều
thấy mình trẻ lại như buổi ban đầu mới vào quân ngũ.
Theo dòng năm tháng, những kỷ niệm tuổi mười chín, đôi
mươi, tuổi tràn đầy nhựa sống của những năm tháng chiến tranh và những buổi vào
ca, những phiên liên lạc với những tiếng "tịch", tiếng "tà"
vẫn vang mãi trong tôi như một bài ca về những cô gái 66 mến yêu năm nào.
Hà Nội, ngày 10-5-2009
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)
0 comments:
Đăng nhận xét