30.9.25

Xuyên Trường Sơn (3/6)

Cố nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha (1949-1925) – nguyên cán bộ Phòng Tuyên huấn Binh chủng

Tiếp phần 2/6

Tháng 10 năm 1973, giữa mùa mưa Trường Sơn, Đại đội 10 đo đạc mới thành lập cùng các đồng chí: Huệ, Sử, Hiệu, Bổng đi trước khảo sát tuyến bắt đầu từ cơ vụ A, một cơ vụ nằm giữa khối Trường Sơn Bắc. Chỉ hơn hai tháng sau, cuối tháng 12 năm 1973, toàn Đoàn Lam Sơn rầm rập vào tuyến. Trong hai tiểu đoàn xây dựng đường dây thì Tiểu đoàn 9 mới thành lập. Tiểu đoàn 86 nhờ thành tích phục vụ thông tin cho chiến dịch 1972 nên được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang. Thành tích ấy càng nức lòng toàn Đoàn.

Để mở màn một công trình có tầm cỡ chiến lược lịch sử, Tư lệnh trưởng cùng đoàn công tác của Bộ tư lệnh Thông tin cũng kịp đến kiểm tra và động viên Đoàn Lam Sơn ra quân. Một tiểu đoàn xe thuộc Bộ tư lệnh Thông tin cũng được tăng cường cho Đoàn Lam Sơn.

Từ đấy, dọc đường 14, người ta thấy xuất hiện những đoàn xe mang số hiệu mới chở đầy lính, đầy hàng, vào sâu...

Mùa xuân 1974 đã về trên thung lũng A So. Nơi quê hương anh hùng Kan Lịch bao năm giành giật với kẻ thù, nay đã yên vui một vùng giải phóng. Buổi sớm, nắng kẻ những đường chéo cắt ngang dải đất núi còn phủ kín sương mù. Những đường kẻ dần vạch hết màn sương. Nắng ùa vào lòng thung tưới đẫm đồi tranh, ươm màu vàng huyền diệu. Đồi tranh khiến ta nhớ khôn nguôi những vụ mùa đồng quê, bông tranh trắng lắc lay lòng ta rười rượi. Năm ấy, tôi và Sáng, Hiệu, Huệ, Sử, Bổng với Tham mưu phó Hiệp cùng Đại đội 10 ăn tết tại thung lũng. Chưa bao giờ vùng rừng núi hoang vu lại bừng say cuộc sống đến thế. Bạn bè gần xa đi thăm nhau. Đồng hương đồng ngũ đi thăm nhau. Ở đâu cũng thấy nụ cười, cũng nghe tiếng hát. Xa quê hương đi xẻ dọc Trường Sơn, những người lính quần áo màu rừng quây quần gia đình lớn. Bên cạnh những mất mát, cuộc chiến tranh giải phóng làm nảy sinh thêm bao tình cảm mới, lớn lao.

Chúng tôi tổ chức đón xuân thật vui. Chỉ có bảy anh em cũng làm một đội bóng chuyền giao hữu với Đại đội 10. Rồi hai đội ghép làm một đi giao hữu với các đơn vị công binh trong khu vực. Người trong sân lăn lộn tận tình, người ngoài sân say sưa hò reo, không khí cứ xao lên không ngớt. Đường thông suốt, chúng tôi cảm động nhận quà từ Hà Nội gửi vào. Lần đầu tiên ở Trường Sơn ăn tết có su hào, bắp cải, cà chua. Chính ủy trung đoàn cũng kịp băng 200 cây số đường kịp đón giao thừa với mũi xung kích trong đội hình toàn đoàn. Tối giao thừa, tổ chức "hái hoa dân chủ". Cánh lính trẻ rất hăng. Cậu lên độc tấu, cậu hát dân ca, ngâm thơ liên tiếp. Những tràng vỗ tay rôm rả. Cây ghi-ta của cậu Thông tuy vỡ phải dán băng dính dọc ngang nhưng vẫn là nhạc cụ quan trọng của đêm biểu diễn. Lâu không cầm đàn, khẽ dạo một hợp âm quen, lòng tôi xốn xang lạ. Tốp ca nam của tiểu ban kỹ thuật hát một bài tôi vừa kịp viết mấy ngày trước tết. Âm nhạc "cây nhà lá vườn" thật hợp với những đêm thế này. Anh Viễn Chủ nhiệm quân y và anh Kiên Phó Chủ nhiệm Chính trị, cùng đi với Chính ủy đã hóm hỉnh rủ nhau lên múa bài "mì đồ đồ" từ thời đầu hòa bình. Tất cả lăn ra cười, cười hết cỡ.

Đám rẫy trước mặt ai đốt từ ban chiều có cây khô bén lửa. Gió khuya thổi hắt từng đợt. Cây khô bắn tàn tung tóe như pháo hoa.

Ra tết, chúng tôi lên đường ngay. Anh em các mũi đo đạc chuẩn bị sáu cây sào ngắm sơn trắng đỏ thẳng băng. Còn tôi thì vót lại cây bút chì cho sắc. Đấy là cây sào thứ bảy của mũi đo đạc. Sau buổi giao nhiệm vụ, nhận địa bàn và bản đồ từ tay Tham mưu phó Hiệp, tôi không khỏi băn khoăn. Là kỹ sư thông tin những môn đường dây tôi chỉ học có một trăm tiết. Một trăm tiết ấy lại không hề có tiết nào học bản đồ địa bàn. Tôi chỉ láng máng hiểu địa bàn qua bài tập đọc lớp 3 và kiến thức bản đồ qua môn địa lý lớp 5. Tuy có đi đo đạc nhưng chưa bao giờ tôi phụ trách hướng tuyến. Chính điều này, thường là mối nghi hoặc của anh em trung cấp kỹ thuật. Dẫu tôi thật lòng nói hết, anh em vẫn chưa tin. Có lúc đã nghe loáng thoáng dư luận: "Ôi dào! Mấy ông kỹ sư lý thuyết. Cứ một bản đồ địa bàn xuyên sơn, thằng nào làm được biết ngay". Chẳng để ý gì đến nét sâu xa của sự việc, tôi chỉ biết là tôi không thể lùi bước. Anh em đang hăm hở thế kia. Đã làm nghề đường dây không biết khảo sát đo đạc sao được. Tôi tự nhủ: "Cứ đi rồi học thêm vậy. Miễn là đừng giấu dốt. Khi đã làm hết khả năng, vấp váp cũng sẽ vượt qua".

* * *

Ngày đo đạc đầu tiên. Mũi đo đạc của tôi đấu lưng với mũi đo đạc của Huệ. Chúng tôi chia tay nhau tại hợp điểm ở cây số X. Cao điểm 905 mang tên A Dớt trùng tên với thần Dớt thiêng liêng. Đối với tôi, nó cũng bí ẩn như thần linh. Tôi sẽ xoay sở ra sao với tấm bản đồ ALT sơ sài chỉ có mạch núi, chưa có đường bình độ. Lóng ngóng cầm địa bàn, tôi cùng Huệ chọn hướng tuyến. Số phận đường dây men cao điểm 905 đã được định đoạt. Hướng Tây Nam. Tạm biệt đường 14 mũi đo của tôi tụt hoắm vực của ta luy âm đường. Những thước rừng đầu tiên bị khoét rỗng. Dọc "con đường chuột chạy" các cọc mốc viết chữ số bằng sơn đỏ lần lượt được đóng xuống. Tôi còn như chưa tin là mình đang đo đạc.

Từ bữa ấy, đo đạc về là tôi lúi húi ghi nhật ký công tác.

Lặng lẽ đi qua những ngày đo đạc đầu tiên, tôi đã phải trải qua bao dằn vặt, cầm cự khá quyết liệt. Sau bở ngỡ buổi đầu, đêm về giở tấm bản đồ, tôi loay hoay mãi với chiếc địa bàn. Trên tấm bản đồ chằng chịt nhiều nét và chiếc địa bàn thô sơ bí hiểm có gì tôi chưa hiểu nổi. Xoay đi, xoay lại chỉ cốt tìm cho được hướng tuyến hôm sau đó tiếp. Lúc nào thật bí, tôi mới hỏi Trung đội trưởng Diệm đã làm cán bộ trung cấp kỹ thuật lâu năm. Diệm chân thực và tận tình chỉ bảo khiến tôi sáng dần ra. Mọi việc nhờ thế mà trôi chảy. Ở cao điểm, mùa lạnh trời buốt giá ghê sợ. Buốt đến tức ê ẩm cả ngực. Vì hành quân bộ nên tôi mang nhẹ. Tuy đã ngủ chung với anh em mà nửa đêm vẫn thấy cóng rét. Không ngủ được, trở mình toàn nghĩ chuyện đo đạc. Mẫy mò, học hỏi mỗi ngày thêm chút ít. Sau thất bại bẻ góc ba lần, tôi càng tỉnh táo hơn. Đến cú cắt đường ở cây số 1, tôi đâm bạo dạn. Càng làm càng ham. Rừng núi đã bớt bí hiểm với tôi. Đo đạc về, ngày nào anh em cũng "cải thiện" thêm. Có bữa ít hoa chuối rừng thái mỏng trộn vừng rang. Có bữa rau dớn xào thịt hộp. Một hôm bắt được con rùa đang có trứng. Thịt rùa đem xào với củ chuối rừng. Lần đầu tiên tôi ăn trứng rùa cảm thấy ngon, không nghẹn bằng lòng đỏ trứng gà.

Anh em mũi đo đạc phần lớn là lính trẻ, luôn tin tưởng tôi, dẫu có lúc sơ suất làm anh em vất vả. Được anh em ủng hộ tôi càng vui, càng cố gắng.

Mau chóng kết thúc bước một của giai đoạn một, các mũi đo đạc tụ tập về trạm giao liên A Tép.

Chúng tôi lại khẩn trương tiến hành bước hai, hợp điểm sắp tới giữa mũi đo của tôi và Hiệu là bờ bắc sông B, một nguồn sông khá lớn đổ về đồng bằng khu Năm. Để hợp điểm giữa hai mũi đo, chúng tôi cứ đo độc lập đến khi gần tới ấy hai mũi đo mới liên hệ với nhau và quy định hợp điểm. Tín hiệu hợp điểm có thể là tiếng súng hoặc tiếng hú. Lần này, để chủ động và khoa học hơn, chúng tôi tính toán kỹ lưỡng trên bản đồ và quy định hợp điểm. Nếu sử dụng và kết hợp tốt bản đồ với thực địa, hai mũi đo sẽ hoàn toàn chủ động gặp nhau. Hợp điểm quy định là điểm giữa hai khe suối chảy ra từ bờ sông B...

Mùa hè đã ngấp nghé trở về rừng núi. Khoét rừng dưới sức hun hầm hập của mặt trời, có hôm khát khô cổ. Những cây dao quắm vừa mở đường vừa tìm chặt những đốt nứa để lấy nước uống. Chúng tôi thường gọi đó là "mạch nước thân cây". Nắm chắc bản đồ địa bàn, tôi sinh chủ quan. Một hôm đo đạc đã xế chiều, anh em yêu cầu tôi tìm đường về. Tôi quả quyết cứ đo một đoạn nữa, thế nào tuyến cũng ra kề đường. Càng đo, trời càng nhanh tối. Không tới được chỗ kề đường. Tôi loay hoay mãi mà chẳng thấy hướng ra. Cảnh âm u của rừng chiều khiến có gì cứ nặng trĩu vào lòng. Không tự chủ được nữa, tôi dắt anh em vạch lối lung tung. Gai cào, cành níu, chúng tôi hoàn toàn không còn phương hướng nữa. May sao, giẫm xuống một lòng khe, vất vả men theo lòng khe, anh em phải kiếm nứa khô đốt đuốc mới khỏi trơn ngã. Vừa đi vừa nghe tiếng thở dốc của lính trẻ, tôi trách mình quá lắm. Từ sau lần ấy, tôi luôn nhắc mình phải cẩn thận.

Đo đạc xuyên rừng, có chỗ chúng tôi gặp vết tích nhà hầm cũ, bãi khách cũ. Một hôm, đang hăm hở lao qua góc rừng già, bỗng cặp phát cây lùi lại. Tôi chạy lên vội vã. Một cảnh tượng đầy xúc động hiện ra trước mắt. Các bộ xương đã có mối đùn xung quanh. Giữa hai đầu bộ xương là hai đầu võng sờn mòn mưa nắng buộc vào hai gốc cây. Từng nghe anh em mặt trận Bốn kể chuyện, bây giờ chúng tôi đã chứng kiến. Sau Mậu Thân 1968, kẻ thù điên cuồng trả thù. Chúng vây ráp, lùng sục, bát bớ và cắt chặn hết các ngả đường tiếp tế lên chiến khu. Cả chiến khu BI lúc ấy sống cơ bản nhờ gạo từ đồng bằng chuyển lên. Gạo miền Bắc chưa chuyển vào được nhiều. Đường tiếp tế bị đứt, nhiều đơn vị đã sống trong tình trạng hết lương thực. Có đồng chí trong khi đi tìm rau hoang quả dại biết mình không sống nổi đã khẽ khàng buộc võng và nằm thiếp đi. Chúng tôi nghẹn ngào vun kín đất lên dấu vết xác xơ của người đồng chí vô danh. Các đồng chí đã ra đi nhường cho chúng tôi hôm nay. Các đồng chí giống cái bệ cột đường dây. Đỡ đứng cả một cây cột cao nhưng toàn bộ thân cột thì vùi sâu lòng đất.

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005) 

29.9.25

Xuyên Trường Sơn (2/6)

Cố nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha (1949-1925) – nguyên cán bộ Phòng Tuyên huấn Binh chủng

Tiếp phần 1/6

Một lần tôi cùng Việt và đại đội trưởng Lộc đi chữa dây qua suối La La. Vừa ra đường 9, một chiếc OV.10 rẹt qua, quấn lấy. Ba anh em chạy chữ chi dọc đường 9. Chiếc OV.10 bám riết. Vừa chạy, vừa thở, ba anh em nhảy ào vào một căn hầm ven đường, "pụp", một quả pháo bốc khói nghi ngút ngay tại đây. Chiếc OV.10 quay đi. Dày dạn kinh nghiệm, đại đội trưởng Lộc dắt chúng tôi ra  ngay:

- Phải mau chóng rút xa. Bê 57 đến ngay đấy.

Ba anh em nhanh nhẹn lách vào rừng le phía bắc đường. Chỉ vài phút sau, đã nghe bom ruỳnh ruỳnh mặt đất. Việt cười:

- Mẹ kiếp, thằng "OV mù" mách lẻo nhạy thật.

Mùa mưa bắt đầu đe dọa. Dưới đồng bằng, các lực lượng bộ binh kiên cường chốt Quảng Trị. Đường dây cũng ngày đêm phục vụ. Những phiên trực căng như đường đạn. Sau mỗi trận mưa nguồn, nước sông dâng nhanh. Tôi đã có ngày bì bõm suối khe đến trọng điểm Chà Lý nhận gạo, có chiều vượt dòng Xê Băng Hiên xiết dữ để lĩnh muối. Giữa lúc cuộc hành quân theo đường dây còn tiếp tục, tôi bị sốt. Không thể nằm lại được. Lính Trường Sơn sốt 39 độ hay 40 độ vẫn là thường. Tôi cắn răng bám theo anh em, chống lại từng thước dốc, chống lại từng con vắt, chống lại phút giây mềm yếu.

Anh em chặt cho tôi cây gậy chống khá chắc. Sau mỗi buổi hành quân, đồng đội len lỏi rừng tìm chất tươi cho tôi. Bữa thì nấm mối xào thịt hộp. Bữa thì cua đá nấu lá đay rừng. Tôi ốm thể xác mà tinh thần khỏe. Chẳng lúc nào tôi cô độc buồn chán. Thỉnh thoảng anh em lại đùa:

- Thế nào, liệu kỹ sư "chết" chưa?

Có anh em, tôi khó chết lắm. Đùm bọc lẫn nhau, chúng tôi đứng chân vững vàng trên Trường Sơn, ngay bên đường dây.

Một chiều, đang ngồi khỏa chân dưới suối, tôi thấy một đoàn cán bộ đi qua. Lát sau, Quý đến ghé tai:

- Đoàn tham mưu của Bộ và đoàn đến đấy. Chuyến này khảo sát tuyến mới nghe đâu lớn lắm anh ạ.

Chỉ tối hôm đó, chúng tôi nhận lệnh ngay. Nhiệm vụ của Trung đội 3 là cùng bộ phận khảo sát của đoàn khảo sát tuyến mới để xây dựng đường dây hiện đại xuyên Trường Sơn. Hai mũi đo đạc được hình thành từ Tiểu đội 7 và Tiểu đội 8 của Trung đội 3.

Sớm hôm sau, ra khỏi rừng chừng năm phút, chúng tôi vượt ngay một dốc tức thở. Vượt qua nhiều chặng dốc lắm vắt của một đường dây cũ được tận dụng làm đường dây mới, chúng tôi bươn lên chót vót đỉnh núi. Gió lồng lộng. Một cảm giác mới như men rượu bừng lên. Xa kia, qua nhấp nhô sóng núi, đồng bằng hiện mờ mờ một vệt nhiều màu. Giao tuyến với chân trời là biển xanh nhô cong. Bãi cát kẻ một vệt dày màu trắng và trong là màu xanh của cánh đồng. Gần nửa năm, tôi mới thấy đồng bằng. Có gì như sóng trào lên. Tất cả đoàn khảo sát im lặng dừng lại. Rồi lại đi như nhanh hơn qua khoảng rừng lộng gió.

Công việc đo đạc tiến hành chậm trễ vì tuyến quá dốc. Người phụ trách hướng tuyến là Hiệu, nhân viên kỹ thuật của đoàn bộ. Hiệu lành, ít nói. Đôi khi cười mỉm dễ thương. Làm được một đường dây, kỹ thuật tuy có hạn nhưng công sức thì vô giá. Chúng tôi thường đi sớm về muộn. Sào ngắm thì vót bằng nứa nên không sao thẳng được. Hăm hở ra đi thế mà qua mấy ngày, chúng tôi thấm mệt. Mũi đo của Tiểu đội 8 ở phía làng Chân Hinh đã phải cho người về tiếp tế gạo. Chúng tôi cũng chẳng còn bao nhiêu. Đành chia đôi vậy.

Trước mắt mũi đo đạc Tiểu đội 7 là đỉnh Động Long. Ngày thứ nhất đo được 500 mét thì trời sẩm tối. Ngày thứ hai đo được 400 mét thì trời sập mưa. Ngày thứ ba các dao quắm được mài sắc, nắm cơm phụ to hơn, bi đông đầy ắp nước. Chúng tôi quyết tâm chinh phục Động Long. Vào tuyến, chỉ nghỉ ngơi ít phút, cặp phát cây dầu băm bổ ngay. Những đường dao vun vút. Lách lau đổ ràn rạt. Qua hai trăm mét đầu vấp phải một bãi gai khá dài. Chơi "du kích" với loại cây này khá mệt. Đã hai cặp phát tuyến thay nhau, mà mũi đo vẫn chưa nhích là bao. Đến một vách đứng, nhân khe suối nhỏ, tiểu đội phó Đức ra lệnh nghỉ. "Thợ mài dao" Báo tranh thủ liếc dao lần nữa. Nửa tiếng sau chúng tôi tiếp tục mở đường. Hiệu vươn lên trước tìm hướng. Dao quắm lại vung lên, những bụi cây rũ xuống. Mồ hôi đầm đìa áo lính. Những bụi nứa bị chẻ toác hốc hoác. Xế chiều, sau khi chặt nốt một cây con, thấy đỉnh trời sáng ra trên đầu. Chúng tôi đã chiếm lĩnh Động Long. Cả bọn reo cười giữa cơn mưa bất thần ập đến. Tất cả hò nhau rút theo "con đường chuột chạy". Không quen đường, tôi tụt lại sau lúc nào không hay. Đến một chỗ, thấy mất tăm dấu vết, tôi hoang mang quá. Trên đầu, sấm dội ì ầm. Lưng trời chớp nháy nhì nhằng. Mưa quất chéo vào mặt. Mất phương hướng, tôi vạch lối chạy lung tung. Lo sợ quá, tôi cất tiếng gọi ầm ĩ, gọi khản giọng.Chẳng ai đáp lời tôi ngoài cái vách núi lạnh lùng trêu cợt. Người tôi rũ ra. Bao niềm vui vừa thoáng đến, rơi đâu mất. Bỗng tôi hụt hẫng. Tảng đất xốp đánh lừa tôi. Tôi trượt đi đến 200 mét. Lưng tôi đau dần. Đầu tôi ù lên, rối bời. Thà ra trận bắn thẳng kẻ thù cho bõ giận. Làm lính mà cứ chui rúc thế này, cực quá. Tức muốn khóc. Trời dần tối. Tôi hoang mang tột độ. Đã tính đến chuyện ôm bụng đói, ngủ rừng. Đến một khe cạn có bãi bằng, mùi ngai ngái khó chịu, tôi ngồi xuống định thần thì nghe tiếng gọi:

- Kh...a.... ơi! Ở đâu thì hú lên. Đứ...c đâ...y.

Mừng quá, tôi hú một hơi dài. Năm phút sau, Đức và Báo ập đến. Đức hổn hển:

- Ông định loay hoay đứng đấy cho hổ vồ à.

Tôi lạnh gáy chưa hiểu sao, Đức nhảy đến trước mặt:

- Ông có thấy vết chân hổ đầy ra đây không? Mình đi trước không để ý. Quay lại thì ông mất tăm. Mà ông rúc sao tài dữ. Lần theo vết đến mệt.

Cả hai phá lên cười khi nhìn tôi lấm láp. Đức vỗ vai:

- Lần sau bám sát nghe "nội". Mất "ông nội" chúng tôi hết hơi đấy, tuyến dốc quá, trên ra lệnh rút rồi.

Tôi vừa ngượng ngùng vừa băn khoăn. Tiếc công quá. Nhưng tuyến dốc thật. Để có một tuyến đường dây khá, đâu có dễ. Chỉ đổ sức ra chưa xong được. Tôi lững thững lê tấm thân đau dần theo Đức, Báo.

Mưa rừng lạ thật. Ào xuống đấy rồi lặng phắc ngay. Trăng non nhú lên. Trong một vũng nước đọng, trăng rơi vào ngơ ngác.

II

12 giờ ngày 23 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Paris được ký kết. Chúng tôi nhảy khỏi giường. Không ai ngủ trưa nữa. Tất cả vây quanh chiếc đài Li Đô. Tiếng người phát thanh viên như dòng suối ngọt ngào cứ chảy mãi vào không gian. Bài hát "Đường chúng ta đi" khơi lửa mãi trong rung cảm chúng tôi.

Về mặt chiến lược, hiệp định hạn chế đến mức tối thiểu sự có mặt của Mỹ trong giai đoạn mới. Để có một cú đấm quyết định cần chuẩn bị đầy đủ và khẩn trương. Dưới giáp ranh, ta giành giữ từng điểm chốt. Địch nhổ cờ cắm sang đất ta, ta đẩy lùi địch về vùng quy định. Trên Trường Sơn đã thuộc vùng giải phóng, các lực lượng hùng hậu của công binh, thanh niên xung phong thuộc Bộ tư lệnh Trường Sơn tràn ra mở đường. Đường 14 (tức đại lộ Hồ Chí Minh) được mở rộng hoàn thiện mặt bằng, nâng cấp. Cầu cống được làm mới hoàn chỉnh. Không còn bom đạn, các đoàn xe thả sức ra vào. Lốc bụi ùn lên suốt ngày đêm. Tiếng nói cười huyên náo. Những doanh trại mọc lên như phố xá hai bên đường. Chưa bao giờ, Trường Sơn đông vui đến thế.

Lấy trục đường 14 làm xương sống, chấp hành chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu, Bộ tư lệnh Thông tin định giao cho Đoàn Thông tin Lam Sơn kéo một đường dây chiến lược dây chiến lược mang tên là "Đường dây thống nhất" xuyên Trường Sơn. Đường dây này xây dựng bằng cột sắt hình U mang được nhiều đôi dây, truyền tải được nhiều đường tải ba.

Còn lại tôi, Phong, Tăng, Liêm được bổ sung về Tiểu ban kỹ thuật của Đoàn bộ. Với bốn chúng tôi, vị trí công tác bắt đầu thay đổi. Từ một anh lính thông tin, chúng tôi trở thành người trợ lý kỹ thuật của Đoàn. Phụ trách Tiểu ban kỹ thuật là anh Kim Quang Bàn. Anh Bàn cùng ra khóa 1971 như chúng tôi nhưng ở Trường Đại học Quân sự. Anh Bàn nhập ngũ 1963. Trước khi nhập ngũ, anh đã là cán bộ trung cấp thủy lợi. Vào bộ đội, anh công tác khá lâu ở đơn vị pháo mặt đất và đi học ở đấy. Chúng tôi chóng quen nhau. Ngoài năm kỹ sư, Tiểu ban kỹ thuật còn có mười cán bộ trung cấp, đã công tác tại Đoàn từ 1966 như Phan Nhật Sáng, từ 1968 như Quý, Quyết, Hiên, Huệ, Hưng, Sử, Đình, Bổng. Đấy là những đồng chí khá dày dạn kinh nghiệm. Sau khi thành lập hai tiểu đoàn, Tăng và Liêm được điều trở lại làm làm trợ lý kỹ thuật tiểu đoàn. Tiểu ban kỹ thuật chính thức còn ba kỹ sư và mười trung cấp. Tham mưu phó Trần Duy Hiệp và Tham mưu trưởng Đế Kim Tiêu cũng đều là kỹ sư. Lực lượng chưa nhiều nhưng thế cũng tạm ổn. Điều cần thiết nhất trong kỹ thuật là sự thống nhất phương pháp công tác thực tế.

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005) 

27.9.25

Xuyên Trường Sơn (1/6)

Cố nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha (1949-1925) – nguyên cán bộ Phòng Tuyên huấn Binh chủng

Nhà thơ, nhạc sĩ, nhà nghiên cứu âm nhạc Nguyễn Thụy Kha nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2022. Ảnh: Nguyễn Hải.

I

Trong đoàn, tôi là người đầu tiên đến đơn vị. Tôi được phân về Trung đội 3 thuộc Đại đội 6. Đại đội 6 là đơn vị anh hùng đầu tiên của Đoàn Thông tin Lam Sơn nhờ thành tích phục vụ Tổng tấn công Mậu Thân. Đón tôi về Trung đội 3 là Trung đội trưởng Đỗ Hồng Khiết. Quê ở Hà Bắc, nhập ngũ vào Trung đoàn từ 1966, Khiết nhiều năm là chiến sĩ thi đua. Qua đào tạo, anh về làm trung đội trưởng Trung đội 3 của Đại đội 6. Khiết nở nụ cười hiền hậu đón tôi:

- Ông chuẩn bị ba lô rồi ta cùng về. Bê 3 của chúng ta cách đây ba tiếng nữa.

Tôi gấp võng vội vàng, khoác ba lô theo Khiết. Đến một khe nhỏ, Khiết bảo tôi giải lao. Hơi lạnh khe sâu làm dịu lại buổi trưa. Khiết cởi túi cơm đeo cạnh sườn, bẻ đưa tôi nửa nắm:

- Ông ăn tạm. Trai thành phố biết ăn cơm nắm chứ?

Cơm ai nắm rất khéo và mịn. Tôi vừa ăn cơm vừa thổ lộ:

- Cơm ngon quá. Tôi cứ nghĩ vào Trường Sơn là thiếu lắm. Hóa ra cũng đàng hoàng.

Khiết lại cười, nụ cười thật dễ mến:

- Có lúc cũng thiếu lắm. Nhưng lúc nào đàng hoàng thì rất đàng hoàng. Lính là thế đấy ông ạ.

Tôi và Khiết lại tiếp tục đi. Một bãi bằng mở ra bất ngờ.

- A! Trung đội trưởng về rồi. Lại thêm ông khách nào nữa.

Anh em trong một lán gần đấy, chạy ra. Rồi các lán khác chạy ra. Chỉ một lát, bao khuôn mặt hồ hởi đã vây quanh tôi. Chợt có tiếng reo:

- Anh Kha. Đúng anh Kha rồi. Có nhớ Quý không? Quý ở Ngô Xá đây.

Một anh chàng cao cao, tóc cắt cua, rẽ đám đông tiến vào. Tôi ngờ ngợ. Đúng rồi. Đúng là Quý, con ông chủ nhà lớp tôi mượn làm nhà ăn hồi sinh viên sơ tán ở Ngô Xá, Phú Thọ. Quý lớn nhiều nhưng nét mặt vẫn như trước. Làng Ngô Xá là một làng giáo dân. Thanh niên còn lạc hậu, ít chịu tham gia nghĩa vụ quân sự. Thế mà tôi lại gặp Quý ở Trường Sơn. Nhiều điều đã đổi khác qua năm tháng. Khiết ra hiệu cho tất cả im lặng:

- Định giới thiệu thì ông Quý làm trước rồi. Xin vắn tắt thế này nhé. Đây là đồng chí Kha, kỹ sư thông tin, nhập ngũ 1971, được điều về làm chiến sĩ B3 chúng ta. Đồng chí Kha sẽ về sinh hoạt ở A7. Đồng chí Quý đưa đồng chí Kha về A7 nhé.

Quý đỡ ba lô rồi kéo tôi về phía lán của tiểu đội 7. Chỉ vào một người mặt dài, cởi trần, quần đùi còn ướt rượt, Quý nói:

- A trưởng Việt đấy. Kìa "thủ trưởng em" lôi thôi quá. Ra mà nhận "lính mới" này.

Việt hơi đỏ mặt nhìn tôi:

- Ông thông cảm. Chúng mình đang be bờ tát cá "cải thiện". Ông theo Quý về lán nhé. Mình tắm qua một chút rồi anh em nói chuyện sau.

Tối hôm ấy, tôi dốc ba lô còn bao thuốc "Tam Đảo" và gói kẹo làm lễ "nhập gia" với anh em. Xa Hà Nội gần một tháng nhưng với anh em, tôi còn hồi hộp lắm. Tôi luôn mồm trả lời, giảng giải, kể lể, mọi chuyện ngoài Bắc. Trong câu chuyện, tôi không còn xa lạ. Tôi như người nhà mới đi xa về. Những giây phút ấm áp đầu tiên với đồng đội ở Trường Sơn, bao giờ tôi quên được?

Thực sự thành chiến sĩ đơn vị, tôi lao vào công việc mới mẻ say mê. Mới hôm nào ra sông Tà Riệp kéo cáp, hôm nay đã áp đường 70 giải phóng kho vật liệu. Bám theo đồng đội, tôi lặng lẽ học tập như một học sinh muộn mằn.

Ban ngày công tác mệt nhọc, đêm về, chúng tôi cười đùa không ngớt. Tôi bập bẹ đánh bài "tiến lên", một loại bài một trăm phần trăm giải trí của lính. Các từ ngữ vui vẻ như: "cối", "tọa độ", ba thằng "trái gió", "Nam Lào", "Campuchia", v.v... đều được gọi lên trong ván bài. Làm lính Trường Sơn thì phải sốt rét và đánh "tiến lên". Vừa đánh vừa trêu đùa nhau khiến đêm qua mau. Trước giờ ngủ, cả lán thường có nửa tiếng "Kể chuyện đêm khuya". Qua nửa tiếng quý giá ấy, tôi nhận biết bao tâm tư thầm kín của anh em. Càng hiểu nhau, càng gắn bó nhau hơn.

Mùa hè Trường Sơn, tiếng ve sầu ngân da diết. Tiếng ve gợi bao kỷ niệm buồn vui. Tiếng ve gọi mùa hè tuổi thơ lang thang hè phố, thuở học sinh hồi hộp kỳ thi, thuở ban đầu yêu thương nồng thắm. Tiếng ve rừng ngân trong tôi một giai điệu mới. Giai điệu về cuộc sống vô tư của lính Trường Sơn không dứt.

***

Lúc ấy, chiến dịch vào kỳ giòn giã. Ta giải phóng Đông Hà rồi thị xã Quảng Trị. Lòng chúng tôi cồn cào bứt rứt. Làm thằng lính mà lúc này còn chui tít xó rừng. Nhiệm vụ thật mà cứ ấm ức thế nào.

Một bữa, Đại đội trưởng Văn Đình Lộc đến Trung đội 3 phổ biến tình hình. Chúng tôi sung sướng bao nhiêu khi nghe bộ chỉ huy mặt trận khen ngợi mạng thông tin. Nhờ có nó mà mệnh lệnh chỉ huy xuyên qua dằng dặc Trường Sơn, kịp thời và bí mật tới mặt trận. Đại đội trưởng nói tiếp:

- Căn cứ vào nhiệm vụ của trên, đại đội giao cho "bê ba" nhiệm vụ nâng cao chất lượng để đường dây có thể phục vụ tốt hơn. Các đồng chí cố gắng thực hiện ngay.

Mờ sáng hôm sau, sau bữa ăn vội vã, các lán gỡ tăng, từng người xếp ba lô. Khi ở thì bồn chồn muốn đi. Khi gỡ hết mái tăng ra, các lán hầm trống trải như lòng người lúc ấy. Một chút gì lưu luyến cái góc rừng không tên thoáng lên nhè nhẹ trong mắt.

Chúng tôi bắt đầu băng những chóp núi ngất trời. Nơi ấy, cao hơn chóp núi là cột đường dây đứng vươn tay như dũng sĩ. Chúng tôi cắt những dây leo xoắn vào đường dây, căng lại độ chùng cho những khoảng dây bị võng. Đường dây có chỗ đi thẳng băng, có chỗ đi ngoằn ngoèo như thân rắn. Có nơi, đường dây lấy thân cây cổ thu làm cột. Thật kỳ lạ. Nếu còn ngồi trong nhà trường, tôi chẳng sao hình dung nổi đường dây xuyên Trường Sơn. Đồng đội tôi, những cậu Quý lém lỉnh, cậu Bảo gan góc, cậu Bảng lầm lì, Tiểu đội phó Đức với cây đàn ta lư vui tính. Họ là những người lính bình thường đã sinh ra đường dây và tận tâm săn sóc nó. Theo sách vở, để tổ chức thông tin và nhiều đường bằng máy tải ba, đường dây yêu cầu nhiều điều kiện ngặt nghèo. Câu chuyện tranh luận của người tư lệnh trưởng với anh em kỹ sư thông tin đã lan xuống đơn vị. Khi đề ra việc kéo đường dây xuyên Trường Sơn, có kỹ sư nghi ngại với điều kiện rừng rú, các đôi dây thông tin sẽ bị xuyên nhiễu rất nặng. Tư lệnh trưởng đã lấy ví dụ đơn giản và bất ngờ. Ông nói:

- Ta ví Trường Sơn như một căn nhà. Trong căn nhà ấy, mỗi đôi dây của máy tải ba là một người. Nếu có nhiều người la to trong nhà cùng một lúc thì mới sợ nhiễu chứ. Đằng này, ta chỉ để một người thôi. Hắn có la váng trời cũng chẳng ảnh hưởng sang ai hết. Các kỹ sư hiểu chứ? Thực tế đó. Với dung lượng Bộ Tổng yêu cầu, ta sẽ kéo đường dây một đôi cho tải ba, một đôi cho bảo vệ. Lợi dụng cây rừng làm cột hỉ? Nhất trí thì khẩn trương cùng Đoàn Thông tin Lam Sơn thực hiện.

Thế là từ Mậu Thân 1968, những đường dây dã chiến như vậy xuyên dọc, đâm ngang khắp Trường Sơn. Mưa đổ, địch phá, ta lại làm lại. Công trình ấy đang trải trước mắt tôi. Để làm đường dây dã chiến kịp phục vụ chiến dịch 1972, bộ đội Đoàn Thông tin Lam Sơn đã thị công cả mùa mưa. Tiểu đội phó Đức hai lần lên cơn sốt ác tính trong mùa mưa ấy. Hai lần đồng đội gạt nước mắt trói anh bằng chính sợi dây lưỡng kim hôm nay tải trên mình tiếng nói.

Theo đường dây thầm lặng, chúng tôi tới những thung rực nở, lừng hương. Vặn cột đường dây, men theo lèn đá, chúng tôi sững sờ trước đàn bướm trắng chập chờn trông như quả cầu di động. Chúng tôi gặp bãi giày của đàn voi đêm lồng ngược Ta Păng suýt làm sập phòng máy cơ vụ 434. Trong tiếng vượn hú, chim ríu ran, chúng tôi đi theo dấu chân nai lỏn chỏn ven bờ suối, con sóc bay chuyển cành chập tối, tiếng tắc kè buông thõng chiều hôm. Theo đường dây chúng tôi đi trong hoang dã Trường Sơn.

Ngay trong góc đại ngàn âm u xa lắc, kẻ thù vẫn ngày đêm nhòm ngó, phá phách điên cuồng. Những thước dây lại đứt tả tơi sau trận bom tọa độ. Chúng tôi từng băng qua hiểm nghèo để căng lại dây giữa lúc hơi bom còn khét lẹt. Chúng tôi từng nghẹn ngào trước những bản hoang sau trận bom tàn phá. Mấy cây cột nhà đen cháy đứng trơ trơ. Những nền nhà cỏ đã um lên. Nơi ấy bản đã hiến mình cho con đường xuyên qua, cho đường dây băng qua. Có lúc, ngay chính chúng tôi nằm trong tọa độ điên cuồng. Sau trận bom, giũ đất vùi gọi nhau đến lạc giọng. Đến khi bới nổi nhau lên thì ôm ghì nhau, rơi nước mắt. Có nơi, chúng tôi đến thì bom vừa rải thảm. Nhìn dòng suối lờ đờ cuốn trôi bao mái tóc của các cô thanh niên xung phong, lòng đắng lại không sao khóc nổi. Chiều qua, để nối lại một đoạn cáp đứt giữa sông Sen, đồng chí Dược của chúng tôi đã vấp mìn vướng giữa lúc lội sông tìm mối đứt và đã ra đi thầm lặng như bao thước dây đứt.

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005)

25.9.25

Em không buồn nữa1

Bảo Định Giang

Mồ côi mẹ - lúc lên năm,

Ba em biệt tích không tầm2 đâu ra,

Em không biết nữa quê nhà

Nơi đâu và lại ở xa hay gần.

Đời em cơ cực trăm phần,

Ba nuôi em bắt đỡ đần người ta,

Lần lần em tuổi mười ba,

Em ham đi học ai mà cho đi,

Nhỏ như em chẳng thiếu gì,

Sớm trưa cắp sách đi, về vui sao!

Dắt trâu ăn cạnh bờ ao,

Chiều chiều nhớ mẹ biết bao là buồn.

Một hôm em trốn vô rừng,

Theo anh đánh giặc, em mừng xiết bao.

Nghe anh cắt nghĩa ngọt ngào:

"Làm dân có nước, đồng bào phải thương".

Em đi liên lạc dẫn đường,

Rảnh rang lấy sách anh thường dạy cho.

"Chương trình cứu quốc" mấy tờ,

Say sưa em đọc không giờ nào thôi.

Em nay lòng lại ấm rồi,

Em không còn thấy mồ côi một mình!

Năm 1947

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000)

-----------------------------------

1 Tâm sự của em Kiều, liên lạc viên Đội tuyên truyền Khu Tám.

2 Tầm: tìm, tiếng Nam Bộ. 

Lòng Hà Nội

Nguyễn Đình Thi

Người tù mở mắt

Giữa bốn bức tường đen.

 

Bên ngoài ô cửa sổ

Vàng mờ ánh đèn

 

Anh lại nhìn một lần

Đêm liên miên tối đen.

 

Dãy xà lim im lặng

Xào xạc tiếng giày đinh.

 

Hai tay anh giập nát

Chân trong cùm tê dại.

 

Anh nằm thoi thóp thở

Ngất đi rồi tỉnh lại.

 

Bỗng có tiếng văng vẳng

Ai gõ bên kia tường.

 

Tiếng gõ đang khẽ hỏi

Đồng chí có đau không?

 

Tiếng gõ như lo lắng

Đồng chí có còn sống?

 

Người tù mắt chớp nhanh

Nghiến răng anh ngồi dậy.

 

Anh gõ lên trả lời

"Vẫn sống và giữ vững".

 

Hà Nội bây giờ như thế

Ngày đêm rì rầm những tiếng truyền tin.

Năm 1949

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000) 

23.9.25

Những ngày tháng hào hùng (3/3)

Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan – hội viên Chi hội Phòng KHQS

Tiếp theo và hết

Từ một bài ca dao trên báo tường đơn vị, đến bài Tấu cáp ngầm sau đó là đỉnh cao Tấu cóc, giới thiệu một "phương pháp" chống mối mọt là thả cóc vào kho hàng, Nguyễn Duy Nhuệ đã về được với Ban, lo làm báo, làm thơ, đi theo đội Tuyên truyền văn nghệ vào Khu 4, Vĩnh Linh... Sau khi đi học Đại học Tổng hợp Văn về, chuyển ngành, bôn ba ngành nghề "cái máu giang hồ" đi đó đi đây của anh có lẽ bắt đầu từ đấy chăng?

Trong nhiều lần đi kiểm tra đơn vị, Tư lệnh và Chính ủy đều nói tới sự khao khát "văn công, văn nghệ" của anh em, nhất là các tổ, trạm, đài, phân tán, nhỏ, lẻ, hàng mấy năm trời không biết "văn công" là gì?

Chúng tôi bắt đầu đưa đội Tuyên truyền văn hóa của Trung đoàn 132 xuống tuyến. Với hơn mười "hạt nhân" anh em đã tìm đến các cung đường, trạm đang xây dựng đường dây trần, giúp đẵn cây, trồng cột, căng dây, đọc báo, ngâm thơ, ca hát, diễn kịch, kể chuyện ở Hà Nội, ở Bộ... để bộ đội nghe, xem. Liên lạc chặt chẽ với đội từng ngày, chúng tôi biết rằng tuy được hoan nghênh nhưng đội toàn "con trai" nên cũng chưa "hấp dẫn" lắm.

Những lần xuất quân của Tiểu đoàn Quân bưu, của Trung đoàn 134 có các gái đi cùng vào Vĩnh Linh, Quảng Bình, giúp bộ đội chữa dây, nối thông liên lạc, khâu vá, dạy hát... cho bộ đội, các em thiếu nhi... biểu diễn văn nghệ không những trước Bộ đội Thông tin mà còn cả bộ đội công binh, cao xạ... rất được hoan nghênh. Sau một lần xem biểu diễn, một đơn vị cao xạ đã hạ một "tên giặc trời", thông báo "chiến công này dành tặng đội Tuyên truyền văn nghệ! Đội của Trung đoàn 134, Đội trưởng là Dương Thị Lệ Phái (nay là Thành ủy viên Hà Nội) Đội phó là Phạm Bá Hiến (sau này là Đại tá Chánh văn phòng Học viện Chính trị - quân sự) đã được Bộ tư lệnh B2 mời đến thăm, động viên và khen ngợi. Hoạt động của các đội này liên tiếp trong nhiều thời kỳ đã để lại nhiều kỷ niệm với nhân dân và bộ đội tuyến trước, góp phần cổ vũ, giữ vững niềm tin chiến thắng quân thù...

Có một việc mà chúng tôi băn khoăn là chưa tìm được một câu nói, một tấm ảnh nào của Bác "riêng" với Bộ đội Thông tin.

Nhân dịp sẽ tổ chức Triển lãm 25 năm thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tháng 12 năm 1969, triển lãm mà mỗi đơn vị phải trưng bày thành tích của mình sao cho "điển hình", "nổi bật", "mỹ thuật", Chính ủy yêu cầu chúng tôi tìm cho được "một hiện vật nào đấy của Bác Hồ với Thông tin". Chúng tôi đã có bức ảnh "Bác quan sát trận địa Đông Khê năm 1950", cạnh Bác có anh chiến sĩ thông tin, ảnh Bác nhận công văn do một chiến sĩ quân bưu đưa đến... nhưng đều không đạt yêu cầu...

Một hôm, tôi và Phạm Ngọc Liệu đến nhà anh Văn Đa, họa sĩ quân đội giúp cho cái "ma két" tiền sảnh của triển lãm sắp tới. Bỗng nhiên, anh Văn Đa đưa ra một gợi ý là sẽ đưa ảnh "Bác Hồ đang nói điện thoại". Lập tức tôi nhớ tới ngay, đây là bức ảnh mà đạo diễn Nga Các Men đã công bố trong tập sách Ánh sáng trong rừng thẳm do Nhà xuất bản Thanh niên Cận vệ, Mátxcơva in 1958, viết bằng tiếng Nga, mà tôi đã mua ở hiệu sách Ngoại văn, Tràng Tiền, Hà Nội. Tấm ảnh ấy anh Văn Đa để lẫn trong sổ sách, chưa tìm được, hứa sẽ tìm ra. Tôi về nhà lục các giá để sách, may quá, chưa kịp gửi đi sơ tán nên vẫn còn. Đem đến anh Văn Đa, cũng là lúc anh tìm được tấm ảnh đó, anh không rõ xuất xứ ai chụp lại, chụp lại từ đâu... Chúng tôi mang ảnh Bác, của anh Văn Đa, sách có in ảnh Bác nói điện thoại báo cáo với Chính ủy, được Chính ủy chấp nhận...

Còn câu nói của Bác về thông tin? Chúng tôi đề nghị lấy "tám chữ vàng" Bác đã nói trong thư gửi Đại hội Thi đua Quyết thắng 1 là "kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn" (tám chữ này đã được một hội nghị cán bộ Đảng ủy mở rộng họp tại gác 2 ngôi nhà của Sở Giáo dục Hà Nội trước cổng sân vận động Hàng Đẫy, đường Trịnh Hoài Đức thảo luận và đệ trình Văn phòng Phủ Chủ tịch với nhiều phương án: nhanh chóng, chính xác, kịp thời, an toàn, bảo mật...). Để bộ đội dễ nhớ tám chữ này, chúng tôi mách nước theo một thứ tự đảo ngược A, B, C, K: "An toàn, bí mật, chính xác, kịp thời".

Trong năm 1969, tôi không nhớ từ đâu, đọc được mấy tập Văn kiện Đảng, trong đó công bố rất nhiều nghị quyết về giao thông. Tôi lần mò lên Thư viện Quân đội, tìm đọc các báo Cờ Giải phóng, một số hồi ký... để tìm hiểu thêm về vấn đề này, có vẻ như khá độc đáo của Đảng ta. Một buổi, tôi mượn cuốn Khu Giải phóng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp do Nhà xuất bản Sự thật in, bìa đã vàng, giấy đã cũ, có tờ đã nát. Liếc qua vài trang, bỗng ở trang 7 hiện lên dòng chữ "Cụ Hồ đã từng nói "Việc liên lạc là việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mạng, vì chính nó quyết định sự chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó đảm bảo thắng lợi"*.

Tôi run lên, nhưng vẫn phải bình tĩnh lấy giấy bút ra chép lại, mang về trình lãnh đạo, ý kiến lãnh đạo cho biết: Phải mượn được nguyên văn cuốn sách về... Sau khi đã chứng minh được tính chính xác câu nói của Bác do một người có đầy đủ tư cách phát biểu, Thường vụ quyết định đưa câu này lần đầu tiên ra triển lãm. Hàng chữ được anh tân binh họa sĩ đoàn "Chuông vàng" cắt gọt rất đẹp, giấu kín, bí mật, không dán lên trước, ngay cả hôm tổng duyệt mà chờ sáng ngày 21 tháng 12 năm 1969, khi đồng chí Trường Chinh đến thăm mới "rung" ra cùng bốn pa-nô "tứ bình": Kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn do Nguyễn Cương (sau này đỗ thủ khoa Trường Đại học Mỹ thuật, Hà Nội) vẽ mẫu và các bạn Phạm Ngọc Liệu, Xuân Hạnh, Nguyễn Thế Dân thực hiện. Sau khi đồng chí Trường Chinh về, lại đóng cửa không cho ai vào xem, chờ ngày mai Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến.

Phòng triển lãm Thông tin ở Sân bay Bạch Mai 1969 nhận được những dư luận tốt, khen Bộ đội Thông tin có văn hóa, lắm tài.

Năm 1972, Thường vụ Đảng ủy Thông tin có nghị quyết chuyên đề về Nhà truyền thốngBảo tàng Thông tin. Kế tục nghị quyết này đã đề xuất từ năm 1959, 1967... một số đơn vị như Trung đoàn 132, 205, 134, Nhà máy M1, rồi M3... lần lượt ra mắt các nhà truyền thống của đơn vị mình. Tuy quy mô còn nhỏ bé, hiện vật còn nghèo nàn, nhưng cũng đã hình thành được một số cơ sở văn hóa, một "ngôi đền thờ" các chiến công, thành tích của cán bộ, chiến sĩ đơn vị... Bản thân các thủ trưởng đều có ý thức xây dựng cho nhà truyền thống, bảo tàng. Chính ủy Trung đoàn 134, đồng chí Phạm Ngọc Thăng đã tự mình "áp tải" một xe hiện vật từ Đường 9 - Nam Lào ra cho Bộ tư lệnh, một số cán bộ được học qua lớp bảo tàng ngắn ngày đã xuống đơn vị thu nhập, làm hồ sơ các hiện vật, giúp cho đơn vị và cho bảo tàng tương lai của Binh chủng...

Chính nhờ có Nghị quyết này và lực lượng cán bộ sưu tầm mà trong năm 1975, Bộ tư lệnh Thông tin đã thu thập được hàng ngàn hiện vật, thư từ, báo chí, tranh ảnh, máy móc.. chuẩn bị cho năm 1980, xây dựng Bảo tàng Thông tin kỷ niệm 35 năm Bộ đội Thông tin. Sau đó không tiến hành được, dù đã chuẩn bị khá kỹ lưỡng, do tình hình chiến tranh ở Tây Nam và Biên giới diễn ra... Công việc xây dựng bảo tàng này phải chờ năm năm sau, vào năm 1985 mới thực hiện với quyết tâm và sự chỉ đạo cụ thể của Tư lệnh - Bí thư Đảng ủy Hoàng Niệm. Và đây cũng là một trong những bảo tàng binh chủng đầu tiên.

Sau khi Bảo tàng Thông tin ra đời, do nhiều đơn vị nhỏ, ở xa, không về tham quan được tại Bảo tàng, nên Ban Tuyên huấn chúng tôi, đưa vào mẫu "Phòng Lênin" của quân đội Xô viết, đệ trình Bộ tư lệnh một đề án thành lập Phòng Hồ Chí Minh. Được phê duyệt báo cáo, được phép Tổng cục Chính trị chúng tôi đã làm thí điểm ở một số đơn vị của quân bưu, một tiểu đoàn học viên, một đại đội vô tuyến điện, một trạm quân bưu, một bệnh xá. Đồng chí Trịnh Lâu và tôi được cử sang Campuchia, trong nhiều việc, có cả việc xây dựng phòng Hồ Chí Minh cho một đại đội vô tuyến điện phục vụ cơ quan lãnh đạo của quân đội tại Phnôm Pênh. Sơ kết việc làm ban đầu, chúng tôi tổ chức trưng bày "mẫu" tham khảo một Phòng Hồ Chí Minh tại Bảo tàng Thông tin. Thượng tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Đặng Vũ Hiệp có đến nghiên cứu, biểu dương, hứa sẽ cho kinh phí cho phòng và có thể sẽ cho nhân "kết quả này của Thông tin ra toàn quân"...

Hạt nhân Phòng Hồ Chí Minh được ươm tại Bộ tư lệnh Thông tin nay đang ra hoa, kết trái trong toàn quân ta.

Một trong những việc Ban Tuyên huấn chúng tôi quan tâm là làm thế nào tìm cho ra được một mốc lịch sử nào đó để làm ngày "khai sinh" cho Binh chủng. Nhiều cuộc họp đã diễn ra, đề xuất, tranh cãi, kiến nghị... Cuối cùng, sau khi đồng chí Hoàng Đạo Thúy kể chuyện về việc trong ngày 02 tháng 9 năm 1945, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã chỉ thị cho Phòng Thông tin lập mạng liên lạc toàn quốc và chỉ vài ngày sau là thông suốt, Thường vụ Đảng ủy quyết định chọn ngày 09-9, vì ngày 07 và ngày 10 trùng vào ngày lễ nào đó của một nước xã hội chủ nghĩa... làm Ngày truyền thống của Bộ đội Thông tin liên lạc hàng năm.

Báo cáo lên Tổng cục Chính trị, lên Quân ủy ít lâu sau có quyết định bằng văn bản của Quân ủy, Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng đồng ý công nhận ngày 09 tháng 9 năm 1945 là Ngày truyền thống của Bộ đội Thông tin.

Lễ kỷ niệm đầu tiên Ngày truyền thống tiến hành tại Hội trường trường Hành chính trên đường gọi là Giảng Võ - thực ra là đường đi về Trung đoàn 134 - nay là đường Láng Hạ. Trong lịch sử công tác chính trị - công tác đảng của Quân đội ta - theo báo Nhân dân - "đây là đơn vị đầu tiên, lần đầu tiên tổ chức Ngày truyền thống ra đời của đơn vị mình". Báo Nhân dân đã dành cho Bộ đội Thông tin, một bài xã luận, nhiều bài gương chiến đấu, giới thiệu một số tranh của chiến sĩ thông tin...

*

*     *

Sau nhiều năm rời quân ngũ, chúng tôi vẫn thường đến thăm các thủ trưởng cũ như đồng chí Lê Cư, Hoàng Niệm, Nguyễn Như Thuyết. Đồng chí Chính ủy Lê Cư có lần nói:

- Thật là những tháng năm hào hùng sôi nổi! Các cậu bấy giờ còn rất trẻ, quân hàm thấp mà sao nghĩ ra được nhiều việc tốt thế, làm được nhiều việc "hay" thế?

Tôi thành thực trả lời:

- Anh em chúng tôi thì nhiệt tình, đoàn kết, thương yêu bảo ban nhau, lấy công việc làm mục đích chẳng so bì hơn thiệt, thua kém gì, chỉ mong sao góp phần vào cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi... Nhưng nếu không được các đồng chí lãnh đạo từ Trung ương, từ đồng chí Trường Chinh, tới Quân ủy, tới đồng chí Văn, đồng chí Song Hào và các anh trong Thường vụ tạo điều kiện, thì chúng tôi cũng chẳng làm được gì...

Đúng là những tháng năm không thể nào quên được.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu” NXB QĐND 2005)

--------------------------------------------

* Năm 1994, tại kỷ niệm 50 năm thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói thêm rằng: thực ra Bác còn nói là công tác hàng đầu, nhưng bấy giờ chưa thể nói được. Xem kỷ yếu Hội thảo kỷ niệm 50 năm Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Tỉnh ủy Cao Bằng 1995. Sách này, sau tôi lại tìm được một cuốn và theo yêu cầu của Bảo tàng Cách mạng, tôi đã tặng Bảo tàng.

21.9.25

Những ngày tháng hào hùng (2/3)

Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan – hội viên Chi hội Phòng KHQS 

Tiếp theo kỳ 1/3

Thấy tình hình có vẻ căng lên, anh Lạc bảo chúng tôi "cho giải tán đi". Chúng tôi  bàn với nhau cũng là "giải tán" nhưng "giải tán đi vẽ ở cơ sở", để anh chị em vào Vĩnh Linh, Khu 4, lên rừng, ra biển... Chính trong dịp này và mấy dịp sau nữa, các họa sĩ thông tin tương lai có được nhiều ký họa - nhân chứng lịch sử - giúp cho phòng triển lãm "Chiến sĩ thông tin vẽ - Vẽ chiến sĩ thông tin" tổ chức vào tháng 10 năm 1968. (Họa sĩ Phạm Ngọc Liệu gần đây kể chuyện vui rằng: Khách du lịch Mỹ lại rất thích ký họa chiến tranh, mỗi bức họ trả hàng trăm đô!).

Đi "thực tế" về, chúng tôi thật sự "hoa mắt" vì những "tác phẩm" hội họa của anh chị em. Treo lên, ngắm nghía, chúc mừng... Chúng tôi lại mời các anh ở Hội Mỹ thuật đến xem. Xem xong, có lẽ là anh Dương Viên - bảo tôi: "Có thể đem ra Hà Nội triển lãm được đấy"... Chúng tôi vừa mừng, vừa lo. Lo là nếu đưa tranh ra triển lãm ở ngoài mà không báo cho Bộ tư lệnh, Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị thì "chết". Lo là vì chẳng hiểu "nó ra sao", "ở nhà nhất mẹ nhì con", nay ra bàn dân thiên hạ "thì còn lắm kẻ giòn hơn ta".. Lại phải làm mẹo thôi. Vốn đã được anh Lạc bảo "Tùy các cậu", chúng tôi ra Hội, "xin" Hội một thư gửi, mượn tranh triển lãm, ý tứ, nói chung chung. Thực tế, Hội và chúng tôi đã làm một triển lãm tranh đầu tiên trong quân đội tại Hàng Đào với nhan đề "Chiến sĩ Thông tin vẽ - Vẽ chiến sĩ Thông tin”, gồm phần lớn là ký họa, có cả tranh bố cục, sơn dầu, màu nước của chiến sĩ thông tin và cả của các anh Văn Đa, Thanh Tâm...

Chẳng biết từ đâu, bỗng Hội cho biết, đồng chí Trường Chinh tối nay ra thăm triển lãm của Bộ đội Thông tin. Điện từ Tổng cục Chính trị xuống. Trên hỏi "Triển lãm cái gì? Ai chủ trương". Chúng tôi cuống cả lên. Nhưng Chính ủy Lê Cư thương chúng tôi - bấy giờ mới được báo ngọn ngành chính thức, đã lên gặp Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Song Hào và tối hôm ấy, Chính ủy cùng với anh Nguyễn Duy Lạc, "cánh" chúng tôi được đón đồng chí Trường Chinh, được đồng chí biểu dương, căn dặn, khuyến khích. Hú vía! Nhưng rất đỗi hạnh phúc. Hạnh phúc hơn nữa là cuối năm đó, khi có triển lãm tranh của lực lượng vũ trang hai miền tổ chức ở Câu lạc bộ Thống Nhất góc đường Lê Thái Tổ, Hàng Trống, Bác Hồ có đến xem, dừng lại lâu trước bức tranh của chiến sĩ thông tin vẽ, tặng hoa cho hai chiến sĩ gái thông tin là Dương Thị Mỹ Bình và Nguyễn Thị Sang. Hai cô gái này lại được vinh dự hát bài Chiến sĩ quân bưu để Bác nghe.

Báo chí phát thanh những năm đó đưa tin nhiều đơn vị được Bác Hồ gửi thư khen. Chúng tôi lại bàn nhau "Bây giờ mình lên Bộ rồi, Bác cũng đã gần trăm tuổi, phải "kiếm một cái gì" để làm truyền thống, "làm tài sản" cho Binh chủng chứ!". Anh Sinh Hùng báo cáo với Phó Chủ nhiệm Chính trị để Phó Chủ nhiệm Nguyễn Duy Lạc báo cáo lên trên... Việc "tày trời" này, qua nhiều khâu lắm, Cục Tuyên huấn, rồi Tổng cục Chính trị, rồi Văn phòng Trung ương Đảng, rồi ông Vũ Kỳ... mà chỉ có Chính ủy Lê Cư mới làm được.

Năm 1968, nhất là trong Tết Mậu Thân 1968, Bộ đội Thông tin trên các chiến trường đã lập được nhiều thành tích. Tháng 11, Ủy ban Thường vụ đã có lệnh tuyên dương "Bộ đội Thông tin liên lạc hiệp đồng chặt chẽ, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, trưởng thành nhanh chóng, chiến thắng vẻ vang".

Để cổ vũ, động viên bộ đội trước tình hình mới, Đảng ủy Thông tin quyết định tổ chức Đại hội thi đua chống Mỹ, sau này có tên chính thức là Đại hội thi đua lập công, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Đây là "thời cơ" quý nhất, thời cơ có một không hai, bỏ lỡ là mất, không bao giờ có được nữa, cũng là tạo ra cái cớ "để xin thư của Bác".

Chúng tôi tổ chức Đại hội tại sân chơi có mái che của trường Chu Văn An - Hà Nội, nơi một bộ phận tiểu đoàn quân bưu sơ tán đến.

Đại biểu các đơn vị thông tin, các chiến sĩ thông tin có thành tích trực thuộc Bộ, các khu, ở Tây Nguyên... đã về dự. Anh em chúng tôi trong Ban Tuyên huấn còn bày ra "cái trò" Triển lãm tranh Thông tin, giao cho phạm Ngọc Liệu, Xuân Hạnh phụ trách, tin Đại hội hai ngày, ba số in trên đá là phần việc của Nguyễn Duy, Phạm Khắc Vinh, Phạm Đình Trọng (hiện tôi còn giữ được mấy bản). Đưa đón đại biểu ra Nhà hát Lớn xem văn nghệ, in phiếu cảm tưởng, làm hồ sơ đại biểu, đón thư Bác nếu có, kế hoạch tuyên truyền ngay trong lễ đón thư... biết bao nhiêu công việc mà chỉ có mấy anh em, (sau có thêm cô Tuyết Lan, cô Thanh Trà giúp) đoàn kết thật lòng, với tinh thần tự giác, tự trọng cao đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc, được Thường vụ Đảng ủy biểu dương...

Khi có thư Bác, Chính ủy Lê Cư vào Phủ Chủ tịch nhận, chúng tôi cử Tống Choan vào "phục kích" ngủ đêm ngay tại Nhà in Quân đội ở Cầu Diễn, 5 giờ 30 sáng chở thư bằng ô tô về Đại hội. Lập tức, chúng tôi đưa mấy bản vào Phát thanh Quân đội nhân dân, báo Quân đội nhân dân, báo Nhân dân dù biết là báo đã có trong đêm qua, đồng thời điện cho các đơn vị mở đài đón nghe buổi Phát thanh Quân đội lúc 6 giờ 30 phút.

6 giờ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1969, cả Đại hội đứng nghiêm nghe đọc thư của Bác, nhiều đại biểu đã không cầm được nước mắt... Và đến 6 giờ 30 phút, buổi Phát thanh Quân đội đã truyền đi khắp nước bức thư đó... Tất cả chúng tôi, xiết đỗi vui mừng, sung sướng...

Chính trong Đại hội này, với sự kiện ra được tờ Tin Đại hội mà mà tháng 5 sau đó, sau khi đồng chí Nguyễn Như Thuyết - Phó Chính ủy báo cáo với Cục Tuyên huấn, chúng tôi đã nhận được giấy phép của Sở Báo chí Trung ương, Phủ Thủ tướng cho xuất bản tờ tin Thông tin, một ấn phẩm văn hóa, mang tính lịch sử, một hiện vật vật thể bảo tàng như một "binh chủng - mặt trận tuyên truyền có hiệu quả, niềm tự hào của một bộ tư lệnh - binh chủng - đầu tiên có "tờ báo" của mình và là một tài sản quý của Bộ đội Thông tin...

Sau khi Chính ủy Lê Cư có một cuộc gặp mặt với văn nghệ sĩ gồm các ngành văn, thơ, nhạc, họa... Ban Tuyên huấn chúng tôi lại tiếp tục đưa các anh Vũ Trọng Hối, Đức Toàn, Huy Thục, Huy Du... đi thực tế tại các đơn vị thông tin... Chuyến đi dài ngày này đã để lại cho Bộ đội Thông tin nhiều bài hát thông tin được bộ đội yêu thích, bên cạnh những sáng tác "cây nhà lá vườn" của các "nhạc sĩ đơn vị" mà tiêu biểu nhất trong số này là Phạm Khắc Vinh. Một số nhà văn, thơ, họa sĩ như Vũ Bảo, Ngọc Bảo, Cao Tiến Lê, Phạm Thanh Tâm... cũng đã được mời xuống đơn vị "thâm nhập" và đã có nhiều sáng tác về Bộ đội Thông tin...

Tin tức chiến thắng từ các đơn vị gửi về đang ngày càng nhiều, bản tin Thông tin, báo Quân đội nhân dân, Nhân dân, đã đăng cho nhiều mà không hết, buộc chúng tôi phải tìm cách đem in thành sách. Sách thời chiến phải nhỏ, gọn, nhẹ và phải hay. Đó là những tiêu chí mà chúng tôi phải cố gắng đảm bảo, tiêu chí cuối cùng "hay" thì quả là rất khó, chỉ biết hết lòng, hết sức mình mà thôi! Được sự tận tình giúp đỡ của Cục Xuất bản - Tổng cục Chính trị, chúng tôi đã đưa in thêm nhiều sách mới loại Người tốt việc tốt, sách Thơ Thông tin, Nhạc Thông tin, tập Tranh Thông tin... mỗi năm có được ba, bốn ấn phẩm.

Không thỏa mãn trong các lĩnh vực đã đạt được, chúng tôi còn "to gan" đề nghị làm phim thông tin. (Thực ra, vào năm 1958, 1959, Trưởng phòng Huấn luyện Hoàng Tài Long đã chỉ đạo xây dựng một số phim thông tin về huấn luyện rồi). Chúng tôi bắt đầu bằng phim Đường dây quyết thắng ca ngợi chiến công của cán bộ chiến sĩ Trung đoàn dây trần 132. Kịch bản, lời bình, tổ chức quay phim, làm hậu kỳ... Ban chúng tôi đều tích cực tham gia. Phim đã có tiếng vang tốt. Tiếp sau đó là phim Những cô gái thông tin K6, do đạo diễn Chí Phúc thực hiện về chủ đề các chiến sĩ gái Trung đoàn 134 với sự tham gia của các bạn Đinh Tuyết Lan, Dương Thị Lệ Phái, Việt Hồng... Phim này của Xưởng phim Quân đội thực hiện, đã được bằng khen tại Liên hoan phim quốc tế 1970 và đã được trích đoạn vào một bộ phim do phóng viên điện ảnh của Đảng Cộng sản Nhật chiếu phục vụ Hội nghị Paris sau này.

Đạo diễn U Đa còn làm cho Bộ đội Thông tin một số phim Những bông hoa đẹp về anh hùng Hoàng Văn Cón, Mai Ngọc Thoảng...

Có phim riêng Thông tin rồi, làm sao để các chiến sĩ thông tin ở các trạm, tổ lẻ xem được? Chúng tôi lại đi xin máy chiếu riêng, "xe đít vuông" riêng, thành lập tổ chiếu phim lưu động do các bạn Tống Choan, Đào Nhạc, Đặng Văn Tiến phụ trách, đến tận tổ đường dây, có nhiều buổi, chỉ chiếu cho một hai "khán giả", và phải chiếu nhiều lần trong ngày để bảo đảm ai cũng được xem, không vì các phiên, ca trực mà lỡ dịp.

Nhân dịp Bộ Tổng Tham mưu tổ chức liên hoan văn nghệ, Bộ đội Thông tin đóng góp được một tiết mục "hát chèo" do chiến sĩ gái Nguyễn Thị Lộc trình diễn, chúng tôi "uất" lắm và bảo nhau, phải đẩy mạnh phong trào văn nghệ ở đơn vị lên. Bấy giờ ở Trung đoàn 132 "đạo diễn" Phạm Khắc Vinh đã dàn dựng vở kịch nói "tự biên tự diễn" Lý Tự Trọng. Chúng tôi có được xem. Kịch bản, vai diễn "nghệ sĩ" không có gì dám chê trách. Duy chỉ thấy là "nó" không hợp với "lính ta". Ban kịch thì người đông, đạo cụ cồng kềnh, kịch nói mà hệ thống âm thanh kém thành ra kịch câm... Chúng tôi bàn ngay với Phạm Khắc Vinh: lấy ca hát tập thể, đơn ca, chú trọng chèo, ca cảnh phối hợp ca hát, kịch nói ngắn thực nghiệm "tấu" của nhà thơ Thanh Tịnh. Sau đó, "xin" được Phạm Khắc Vinh về Ban để chuẩn bị các hội diễn văn nghệ quần chúng thông tin, chọn "nhân tài, tiết mục" đưa lên sóng Ca hát quần chúng của Phát thanh Quân đội nhân dân và chuẩn bị thành lập đội Tuyên truyền văn hóa. Chính trong phong trào này mà chúng tôi "tìm" được anh binh nhì Nguyễn Duy Nhuệ - sau này, theo anh nói, muốn "ra trò", tên gọi chỉ nên có hai chữ như các nhà thơ khác nên anh bỏ chữ Nhuệ, thành Nguyễn Duy - nhà thơ rất được chúng ta quý mến.

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu” NXB QĐND 2005)

19.9.25

Những ngày tháng hào hùng (1/3)

Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan – hội viên Chi hội Phòng KHQS

Giữa năm 1956, Tổng cục Chính trị triệu tập tôi và mấy cán bộ đại đội cùng cấp về Hà Nội học tiếng Nga - lớp tiếng Nga đầu tiên ở Việt Nam. Sau hai năm, đáng lẽ là tiếp tục sang Liên Xô, nhưng do nhiều nguyên nhân, việc "xuất ngoại" này hoãn lại, tôi cầm lệnh điều động về Cục Thông tin liên lạc vào giữa năm 1959.

Số phận và duyên nợ đã gắn bó cuộc đời tôi từ đây cho tới khi "hạ sao", tháng 9 năm 1989. Ba mươi năm ở Bộ đội Thông tin, qua gần chục "đời" Cục trưởng, Tư lệnh, từ đồng chí Hoàng Đạo Thúy, Nguyễn Anh Bảo, Hoàng Niệm, Phạm Niên, Tạ Đình Hiểu, Phan Hoan, Nguyễn Xuân Thăng...

Trong ba mươi năm đó, trải qua nhiều công tác như biên dịch, phiên dịch, cán bộ huấn luyện, giáo viên dạy tiếng Nga, biên soạn sách, giáo viên Trường Sĩ quan Thông tin, cán bộ tuyên huấn... nhưng những kỷ niệm sôi nổi, hào hùng nhất, đẹp đẽ nhất vẫn là những kỷ niệm về công tác tư tưởng, chính trị, văn hóa...

Năm 1964, sau hơn một năm cùng với các đồng chí khác từ Kiev Ucraina (Liên Xô) trở về khi có "Nghị quyết 9", tôi vác ba lô đi bộ về Hiệp Hòa, "căn cứ địa" của Trường Sĩ quan Thông tin do Trưởng phòng Huấn luyện cũ của tôi là Hoàng Tài Long làm hiệu phó, thực việc là hiệu trưởng. Đầu năm 1966, đồng chí Nguyễn Duy Lạc, cán bộ Phòng Chính trị Cục Thông tin lên Nhà trường, gặp tôi, hỏi thăm sức khỏe, tình hình công tác cũ thời chống Pháp, tình hình gia đình... và không thông báo một ý kiến gì. Do đã có mười lăm năm tuổi quân, nên tôi đoán sẽ có chuyện thay đổi nhiệm vụ.

Tôi bỗng nhớ lại, một ngày vào giữa năm 1959, khi cầm quyết định đến gặp "Đại tá Hoàng Đạo Thúy", vị Cục trưởng, huynh trưởng Hướng đạo sinh này mà tôi từng biết, hỏi:

- Nghe Đạm (tức Tạ Quang Đệ - nhà báo Quang Đạm) nói đồng chí là Xì-cút (Hướng đạo sinh)?

- Vâng. Ở đạo Hạc Thành với anh Trần Mỹ Thạch (anh ruột Đại tá Thông tin Trần Hoạch) và Văn Hà của anh Võ Chương và Quang Đạm.

- Xì-cút thì phải thế nào?

Tôi trả lời bằng tiếng Pháp:

- Phrǎng-giơ-et tú-giua prê (Franc jeu et toujours prêt: thành thật và sẵn sàng).

Cục trưởng đứng lên, bắt tay trái (lối bắt tay của Xì cút) và nói:

- Thế là tốt. Rồi đồng chí Anh Bảo (Bí thư Đảng ủy Cục, Cục phó...) sẽ giao công tác...

Thế là an tâm. Đã luôn luôn sẵn sàng thì chẳng phải lo nghĩ gì.

Mấy hôm sau, đồng chí Hoàng Tài Long trao cho tôi giấy quyết định về Cục.

Bấy giờ đã gần hai năm sau ngày Mỹ đánh phá Hồng Quảng, lấy cớ tàu Ma-đốc bị tấn công. Cơ quan Cục còn ở trong thành, phải làm hồ sơ mới có giấy vào. Vả lại cũng đang rục rịch sơ tán nên anh Sinh Hùng, cán bộ Ban Tuyên huấn Cục gửi tôi, Phạm Khắc Vinh và một cậu trung sĩ trẻ nữa ở nhờ Tiểu đoàn 78 tại một khu nhà giữa phố Lý Nam Đế (nay là Cục Tài vụ). Phần tôi, tôi cũng chẳng lạ gì cái "Thành", vì tôi đã ở, làm việc tại đấy từ năm 1959 cho đến 1963, ra vào khu A, khu B, chui xuống hầm nhà Con Rồng (điện Kính Thiên) đã tìm thấy cái giếng cổ, bờ giếng hằn sâu vết giày kéo vào đá gần lầu của Tây...

Ngày đến làm việc, trưa đi ăn cơm ngoài (bấy giờ chưa có từ "cơm bụi") vì Tiểu đoàn phó không cho báo cơm lại còn dọa "đưa ra ngoài doanh trại" vì không có giấy giới thiệu chính thức mà chỉ có lệnh miệng!

Nhiệm vụ đầu tiên của nhóm chúng tôi là biên tập, ghi chép thành tích của một số chiến sĩ có thành tích để "làm sách". Tuy công tác tại Hà Nội, nhưng những tháng đầu về Cục tôi vẫn phải mượn xe đạp lên Hiệp Hòa lĩnh lương, phiếu gạo.

Đấy là cách "mượn người cơ sở về cơ quan" của Phòng Chính trị. Chính cái "mẹo" này, về sau tôi đã học lại của Phòng để "mượn" rồi "cứt trâu để lâu hóa bùn", mượn mà không trả, "giải phóng" cho nhiều bạn đi học, đi khỏi đơn vị làm cái nghề mà mình thích như Nguyễn Duy, Phạm Khắc Vinh, Quang Chuyền, Phạm Đình Trọng, Quang Thống, Hồng Đào, Huy Thiêm, Trọng Tân, Thụy Kha, Phạm Ngọc Liệu, Nguyễn Cương, Xuân Hạnh, Bắc Sơn, Thúy Minh, Thọ My, Thanh Hải, Vân Anh...

Sách thông tin bấy giờ đã có một bộ sáu quyển Chiến sĩ Thông tin kể chuyện do Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy chủ trương, tổ chức cho cán bộ chiến sĩ Thông tin sau 1954 viết lại những kỷ niệm, kinh nghiệm huấn luyện, chiến đấu trong "ngành binh" của mình, đã in, phát hành đến đơn vị (không rõ bộ sách quý này có còn không?) Chính Cục trưởng đã làm gương khi viết Báo cáo! Liên lạc vững - một quyển sách nhỏ, mà theo lời tác giả: "Ông Tổng Tư lệnh (Đại tướng Võ Nguyên Giáp) lại thích cái lối viết ngắn của mình".

"Làm" xong cuốn Giữ vững đường dây về thông tin miền Bắc, cuốn Giao liên trên tuyến đầu Tổ quốc về thông tin miền Nam, Phạm Khắc Vinh vẫn còn là quân số mượn, còn tôi được "biên chế tạm thời" vào Cục.

Vào Phòng Chính trị Cục - tôi đã được đọc một số nghị quyết của Đảng ủy về việc viết "Lịch sử ngành binh (và đã có một tổ sử đang tiến hành) về tuyên truyền gương chiến đấu, huấn luyện, về công tác thu thập hiện vật làm nhà truyền thống, nâng cao trình độ văn hóa, cho cán bộ, chiến sĩ...

Những nghị quyết ấy, mang dấu ấn tư tưởng, tầm nhìn xa của đồng chí Lê Cư, đồng chí Nguyễn Anh Bảo và tập thể Thường vụ, mà tôi đã nhiều lần được trò chuyện. Tôi lập một đề cương hoạt động, bao gồm nhiều công việc cụ thể, từng bước, để thực hiện Nghị quyết của Đảng ủy. Chừng thấy tôi sốt ruột, đồng chí Lê Cư, một hôm, nói với tôi:

- Ta sắp "lên" Bộ tư lệnh rồi. Chờ đã...

Trong khi "chờ đã", tôi tranh thủ xin đi học lớp "bồi dưỡng cộng tác viên". Buổi Phát thanh Quân đội nhân dân" do anh Hồng Lân, Trưởng phòng giảng dạy. Tuy đã là "Tổng biên tập" báo trung đoàn từ năm 1953, có thẻ CTV (cộng tác viên) của báo Quân đội nhân dân, Phát thanh quân đội, đã có hai tập sách in (Tấm thảm màu xanh da trời, Một phút...), nhưng đây là lần đầu tiên tôi được đi học "chính quy" khóa báo chí... ngắn ngày.

Trở về, tôi kiến nghị mở lớp "Bạn đọc, thông tin viên", "mượn", "vay" các đơn vị cơ sở những anh chị em có năng khiếu, có văn hóa, có thể đưa tin, viết bài được... Tôi còn tiếp tục xin phép mở mấy "khóa" nữa, không những phát hiện đào tạo được cho Binh chủng một số nhà báo mà sau này các bạn ấy trong quá trình học tập công tác rèn luyện đã trở thành những nhà báo "có tên tuổi". Số lượng “bạn đọc, thông tin viên” này được bố trí trong các đơn vị thông tin chủ lực ở miền Bắc, trong các quân khu, quân chủng, binh chủng. Chúng tôi còn cử hoặc gửi "phóng viên" đi chiến dịch, vào B... để viết bài lấy tin tức... Chính đội ngũ này đã "nuôi sống" tờ "Thông tin", đã viết bài đều đặn có thời gian, hơi nhiều – trên buổi Phát thanh Quân đội, báo Quân đội nhân dân – nên có thời gian một số đơn vị đã "ghen ghét yêu thương" mà rằng: "Thông tin nó chiếm đài của ông Hồng Lân rồi!". Nhận thức được rằng, có thể có vài trăm kỹ sư hữu tuyến, vô tuyến, nhưng "kiếm ra" vài chục anh chị em viết báo, làm thơ, làm nhạc, vẽ... là điều không dễ có và cả không thể "trói" họ được mãi ở Binh chủng, nên chúng tôi cứ phải "liên tiếp" mở các lớp viết, rồi vẽ, cả trại sáng tác nhạc, chèo, kịch nói...

Yên tâm về mảng tuyên truyền báo chí rồi, ban Tuyên huấn muốn chúng tôi bước vào "cuộc chiến đấu mới" sau khi "thành Bộ tư lệnh", không còn là Cục nữa. Vốn yêu thích hội họa từ khi còn nhỏ, lớn lên lại có quen biết với một số họa sĩ, mong muốn ở các trạm đài, nơi đóng quân của bộ đội có những tranh cổ động cụ thể về đề tài nhiệm vụ thông tin nên chúng tôi đề nghị anh Nguyễn Duy Lạc cho mở "chui" lớp vẽ.

“Chui" là vì do thương yêu, nể nang cái ban "Tu huýt" (Tuyên huấn) nhiều sáng kiến của chúng tôi mà thủ trưởng cho "làm thử" không có báo cáo lên trên, không có chi phí gì. Còn chúng tôi thì căn cứ vào lòng yêu thích hội họa của anh chị em, trên cơ sở tình nguyện, theo mẹo cũ "mượn" người đi học, có kèm theo đôi lời huênh hoang nào về đơn vị sẽ... sẽ... v.v...

Lớp học bố trí tại trường Chu Văn An, gần Hồ Tây. Giáo viên đầu tiên là anh Lương Quý, bấy giờ là họa sĩ của báo Quân đội nhân dân. Anh là "họa sĩ cũ" của tờ "Tiến lên", báo của trung đoàn tôi trong chống Pháp, sau 1954 được giới thiệu đi học mỹ thuật. Sau khi lớp học mở được ít ngày, các anh Văn Đa, Phạm Thanh Tâm - họa sĩ quân đội - có đến thăm, trò chuyện, giảng giải. Lớp học trong tiếng còi báo động thường xuyên của thành phố. Ngoài số họa phẩm chúng tôi để dành được từ trước cho lớp học, Phòng Vật tư . Tổng cục Chính trị cũng cho thêm ít bộ bút vẽ (bấy giờ là rất quý), màu nước... Còn lại, học viên tự túc... đốt cây làm than, tự tạo lấy giá vẽ...

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu” NXB QĐND 2005)

13.9.25

Nhớ mãi (Ngày kỷ niệm 24/3/1967 - 24/3/1987)

Đại tá Nguyễn Trọng Khoát – nguyên Hiệu trưởng Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin

Trường tổ chức Lễ kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập (24/3/1967 - 24/3/1987) sau mấy nghìn ki-lô-mét di chuyển và những bước trưởng thành vượt bậc với thành tích xuất sắc. Đúng là ngày hội đáng tự hào của Nhà trường.

Đến dự có đồng chí Thiếu tướng Hoàng Niệm, Tư lệnh Binh chủng, các phó tư lệnh, thủ trưởng một số cơ quan Bộ Quốc phòng. Đến dự còn có đồng trí Trần Anh Vinh, Thứ trưởng Bộ Công nghiệp, đồng chí Giám đốc Công ty Than Uông Bí, Lê Quân, Giám đốc Công ty Than Cẩm Phả và đại biểu các địa phương như thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Bắc, huyện Kim Bảng (Hà Nam) cùng các đơn vị bạn.

Bắt đầu từ một mái nhà tranh ở thôn Phúc Thái, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Hà Bắc với 4 đại đội mà nay là một cơ sở huấn luyện với các giảng đường chuyên dùng, sân bãi tập gọn gàng, nhà ăn ở làm việc cho 4 tiểu đoàn học viên Việt và 1 tiểu đoàn học viên Bạn, cùng 7 khoa giáo viên và 1 xưởng trường, tuy còn khiêm tốn với mái tôn và nhà cấp 4.

Trong 20 năm, Trường đã mở 18 khóa với 180 lớp, cho ra trường hơn 22.000 học viên trung cấp kỹ thuật, trên 400 lớp báo vụ, đài trưởng với trên 15.000 học viên đi các chiến trường. Trường luôn đáp ứng theo yêu cầu của các thời kỳ, học viên ra trường 100% đi nhận nhiệm vụ (kể cả đi B và các chiến trường khác).

Trong ngày lễ hôm nay, các khối diễu binh lần lượt đi qua lễ đài, dẫn đầu là khối giáo viên cán bộ, trong đó giáo viên tiếp sức đã đưa xe máy đi phục vụ Sư đoàn 5 chiến đấu ở chiến trường K, có các giáo viên đã lắp đặt tổng đài tự động 400 số cho mỏ than Vàng Danh... Tiếp sau là khối nữ học viên nổi tiếp truyền thống các khóa trước đã đi nghiêm qua lễ đài Ba Đình kính chào Bác Hồ và các vị lãnh tụ, hôm nay trong khối nữ còn chị em lớp “dân dụng” (đã được BTL cho phép). Các khối đi hàng ngũ nghiêm chính, quân dung tươi tỉnh. Tiếp theo là khối xe cơ giới gồm các loại xe máy thông tin từ nhỏ đến lớn. Những xe qua chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, vẫn bảo đảm an toàn, qua hai chặng đường hơn 300km (từ Hà Bắc vào Vũng Tàu và ngược lại) hôm nay vẫn lăn bánh ngon lành qua lễ đài.

20 năm qua Nhà trường luôn được sự giúp đỡ rất chân tình của Đảng bộ, chính quyền và bà con địa phương: Quên sao được bao gia đình đã thu hẹp chỗ ở để nhường cho bộ đội đóng quân. Chiến sỹ ta bị trái nắng trở giời cảm cúm bà con nấu cho bát cháo, hớp nước. Kho tàng, sách bút, vũ khí... gửi trong dân được trông nom chu đáo.

Chúng ta cảm thấy ấm áp khi ở trong nhân dân. Viết đến đây tôi lại thấy trong lòng se lại vì sau khi về thành phố đã không quay lại thăm bà con mà giờ đây nhiều người đã về với tiên tổ.

Học viên trường ta còn được các gia đình và bà con nhận xét tốt nên nhiều người muốn gửi con vào đây học tập.

Các cán bộ giáo viên duy trì đều, có chất lượng các buổi sinh hoạt, làm cho học viên quen nếp bộ đội, kỷ luật được giữ tốt.

Năm 1981, đóng ở Nha Trang cùng nhiều đơn vị ở đó, để học viên trường tự giữ kỷ luật khi ra ngoài, quy định cả nam và nữ đều thêu ở áo 3 chữ T.K.T (anh em gọi đùa “Túi không tiền”).

Lần đi lao động giúp dân ở Ninh Hòa, Đảng ủy đã thấy được khó khăn thuận lợi nhưng quyết tâm làm tốt: Một vài học viên yếu để lao động ở Trường. Khi được biết như vậy số học viên đó trực tiếp gặp Hiệu trưởng xin đi lao động, không làm điều gì Trường phải phiền lòng.

Các đồng chí nghĩ thế là rất tốt, ở đâu cũng lao động thôi. Tôi mong từ nay về sau các đồng chí luôn rèn luyện tốt để cùng đi lao động và rèn luyện sau này.

Số học viên đó lúc ra trường đều khá.

Để chuẩn bị đi lao động, chúng tôi học tập bộ đội ta ở Campuchia, trích in lời thề thứ 9 của QĐND, vào tờ bướm nhỏ dán ở mũ. Ở nhà dân, mỗi nhà cử 1 nhóm trưởng, cơm chiều xong, bộ đội ở nhà đó ngồi quây lại trao đổi: vại nước có đầy không? Nhà sạch? Hoa quả? Quan hệ gia đình? Mượn của dân?

Kết quả bộ đội giữ kỷ luật rất nghiêm, bà con rất khen. Đơn vị đưa máy chiếu phim xuống phục vụ bà con, các gia đình mang hoa quả ra tặng bộ đội, anh em hỏi ý kiến.

- Cảm ơn bà con, để anh em nhận cho vui vẻ, nhưng phải giữ vệ sinh bãi xem sạch sẽ.

Đợt lao động đó Trường đã giúp xã đắp được 1km mương nông nghiệp nổi, lắp mạng loa phóng thanh được bà con rất hoan nghênh.

Đây không phải là lần đầu tiên đi giúp dân. Những năm 1970 - 1972, mùa nước năm nào tôi và anh Mai Ngọc Điễm, Phó Chính ủy cũng cùng bộ đội xuống hộ đê sông Cầu phía trên dưới bến đò Đông Xuyên, những năm ở Vũng Tàu, Trường đã đi bảo vệ bờ biển chống vượt biên trái phép, bảo vệ thành phố khi đổi tiền và những lúc có điều kiện đặc biệt.

Sau buổi lễ, có trận đấu bóng chuyền của Đội nữ BTL với đội Nhà trường.

Cán bộ giáo viên học viên công nhân viên Nhà trường ai cũng vui mừng phấn khởi, đáng ghi nhớ trong đời bộ đội, ghi nhớ mãi chẳng thể nào quên.

Thay cho lời kết.

Tôi đã gặp lại các thầy, các thủ trưởng và các bạn của tôi trong 40 năm Binh chủng, 22 năm ở Trường Kỹ thuật với tấm lòng tràn đầy lưu luyến và tự hào.

Tôi thắp hương nghiêng mình tưởng nhớ:

- Các thủ trưởng Lê Dung, Đào Văn Sửu (Hiệu trưởng), Võ Thương (Chính ủy).

- Các phó chính ủy: Mai Ngọc Điểm, Nguyễn Văn Ngọ, Nguyên Công Bông.

- Các phó hiệu trưởng: Phùng Văn A, Hồ Bắc, Lê Bài.

- Các thầy giáo Bùi Đức Huy, Hà Văn Bân.

- Tôi kính thăm các hiệu phó đang nghỉ tại địa phương sức khỏe yếu như Lê Bá Tước, Lê Duy Hương và thầy giáo Ngô Xuân Lực...

- Tôi kính chúc sức khỏe và nhiều may mắn đến các thầy, cô, cán bộ, công nhân viên Nhà trường đang nghỉ hưu ở địa phương và mong có dịp gặp.

Những ngày sơ tán và di chuyển đã cho tôi thêm yêu quý và kính trọng nhân dân ta ở các địa phương khác nhau những tấm lòng yêu thương bộ đội đều rất thắm thiết và tôi cảm thấy có lỗi với bà con vì từ khi ra đi đã không một lần quay về thăm lại. Ôi thời gian và sức khỏe!

Đất nước ngày nay đã khác, chiến tranh bây giờ không giống ngày xưa, chuyện kể lại chỉ để “Mua vui may được một vài trống canh”!

Xin kính chào tạm biệt...

Hà Nội, ngày 09 tháng 9 năm 2016

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Chú Bếp Cương” NXB Hội Nhà văn 2016)