30.9.25

Xuyên Trường Sơn (3/6)

Cố nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha (1949-1925) – nguyên cán bộ Phòng Tuyên huấn Binh chủng

Tiếp phần 2/6

Tháng 10 năm 1973, giữa mùa mưa Trường Sơn, Đại đội 10 đo đạc mới thành lập cùng các đồng chí: Huệ, Sử, Hiệu, Bổng đi trước khảo sát tuyến bắt đầu từ cơ vụ A, một cơ vụ nằm giữa khối Trường Sơn Bắc. Chỉ hơn hai tháng sau, cuối tháng 12 năm 1973, toàn Đoàn Lam Sơn rầm rập vào tuyến. Trong hai tiểu đoàn xây dựng đường dây thì Tiểu đoàn 9 mới thành lập. Tiểu đoàn 86 nhờ thành tích phục vụ thông tin cho chiến dịch 1972 nên được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang. Thành tích ấy càng nức lòng toàn Đoàn.

Để mở màn một công trình có tầm cỡ chiến lược lịch sử, Tư lệnh trưởng cùng đoàn công tác của Bộ tư lệnh Thông tin cũng kịp đến kiểm tra và động viên Đoàn Lam Sơn ra quân. Một tiểu đoàn xe thuộc Bộ tư lệnh Thông tin cũng được tăng cường cho Đoàn Lam Sơn.

Từ đấy, dọc đường 14, người ta thấy xuất hiện những đoàn xe mang số hiệu mới chở đầy lính, đầy hàng, vào sâu...

Mùa xuân 1974 đã về trên thung lũng A So. Nơi quê hương anh hùng Kan Lịch bao năm giành giật với kẻ thù, nay đã yên vui một vùng giải phóng. Buổi sớm, nắng kẻ những đường chéo cắt ngang dải đất núi còn phủ kín sương mù. Những đường kẻ dần vạch hết màn sương. Nắng ùa vào lòng thung tưới đẫm đồi tranh, ươm màu vàng huyền diệu. Đồi tranh khiến ta nhớ khôn nguôi những vụ mùa đồng quê, bông tranh trắng lắc lay lòng ta rười rượi. Năm ấy, tôi và Sáng, Hiệu, Huệ, Sử, Bổng với Tham mưu phó Hiệp cùng Đại đội 10 ăn tết tại thung lũng. Chưa bao giờ vùng rừng núi hoang vu lại bừng say cuộc sống đến thế. Bạn bè gần xa đi thăm nhau. Đồng hương đồng ngũ đi thăm nhau. Ở đâu cũng thấy nụ cười, cũng nghe tiếng hát. Xa quê hương đi xẻ dọc Trường Sơn, những người lính quần áo màu rừng quây quần gia đình lớn. Bên cạnh những mất mát, cuộc chiến tranh giải phóng làm nảy sinh thêm bao tình cảm mới, lớn lao.

Chúng tôi tổ chức đón xuân thật vui. Chỉ có bảy anh em cũng làm một đội bóng chuyền giao hữu với Đại đội 10. Rồi hai đội ghép làm một đi giao hữu với các đơn vị công binh trong khu vực. Người trong sân lăn lộn tận tình, người ngoài sân say sưa hò reo, không khí cứ xao lên không ngớt. Đường thông suốt, chúng tôi cảm động nhận quà từ Hà Nội gửi vào. Lần đầu tiên ở Trường Sơn ăn tết có su hào, bắp cải, cà chua. Chính ủy trung đoàn cũng kịp băng 200 cây số đường kịp đón giao thừa với mũi xung kích trong đội hình toàn đoàn. Tối giao thừa, tổ chức "hái hoa dân chủ". Cánh lính trẻ rất hăng. Cậu lên độc tấu, cậu hát dân ca, ngâm thơ liên tiếp. Những tràng vỗ tay rôm rả. Cây ghi-ta của cậu Thông tuy vỡ phải dán băng dính dọc ngang nhưng vẫn là nhạc cụ quan trọng của đêm biểu diễn. Lâu không cầm đàn, khẽ dạo một hợp âm quen, lòng tôi xốn xang lạ. Tốp ca nam của tiểu ban kỹ thuật hát một bài tôi vừa kịp viết mấy ngày trước tết. Âm nhạc "cây nhà lá vườn" thật hợp với những đêm thế này. Anh Viễn Chủ nhiệm quân y và anh Kiên Phó Chủ nhiệm Chính trị, cùng đi với Chính ủy đã hóm hỉnh rủ nhau lên múa bài "mì đồ đồ" từ thời đầu hòa bình. Tất cả lăn ra cười, cười hết cỡ.

Đám rẫy trước mặt ai đốt từ ban chiều có cây khô bén lửa. Gió khuya thổi hắt từng đợt. Cây khô bắn tàn tung tóe như pháo hoa.

Ra tết, chúng tôi lên đường ngay. Anh em các mũi đo đạc chuẩn bị sáu cây sào ngắm sơn trắng đỏ thẳng băng. Còn tôi thì vót lại cây bút chì cho sắc. Đấy là cây sào thứ bảy của mũi đo đạc. Sau buổi giao nhiệm vụ, nhận địa bàn và bản đồ từ tay Tham mưu phó Hiệp, tôi không khỏi băn khoăn. Là kỹ sư thông tin những môn đường dây tôi chỉ học có một trăm tiết. Một trăm tiết ấy lại không hề có tiết nào học bản đồ địa bàn. Tôi chỉ láng máng hiểu địa bàn qua bài tập đọc lớp 3 và kiến thức bản đồ qua môn địa lý lớp 5. Tuy có đi đo đạc nhưng chưa bao giờ tôi phụ trách hướng tuyến. Chính điều này, thường là mối nghi hoặc của anh em trung cấp kỹ thuật. Dẫu tôi thật lòng nói hết, anh em vẫn chưa tin. Có lúc đã nghe loáng thoáng dư luận: "Ôi dào! Mấy ông kỹ sư lý thuyết. Cứ một bản đồ địa bàn xuyên sơn, thằng nào làm được biết ngay". Chẳng để ý gì đến nét sâu xa của sự việc, tôi chỉ biết là tôi không thể lùi bước. Anh em đang hăm hở thế kia. Đã làm nghề đường dây không biết khảo sát đo đạc sao được. Tôi tự nhủ: "Cứ đi rồi học thêm vậy. Miễn là đừng giấu dốt. Khi đã làm hết khả năng, vấp váp cũng sẽ vượt qua".

* * *

Ngày đo đạc đầu tiên. Mũi đo đạc của tôi đấu lưng với mũi đo đạc của Huệ. Chúng tôi chia tay nhau tại hợp điểm ở cây số X. Cao điểm 905 mang tên A Dớt trùng tên với thần Dớt thiêng liêng. Đối với tôi, nó cũng bí ẩn như thần linh. Tôi sẽ xoay sở ra sao với tấm bản đồ ALT sơ sài chỉ có mạch núi, chưa có đường bình độ. Lóng ngóng cầm địa bàn, tôi cùng Huệ chọn hướng tuyến. Số phận đường dây men cao điểm 905 đã được định đoạt. Hướng Tây Nam. Tạm biệt đường 14 mũi đo của tôi tụt hoắm vực của ta luy âm đường. Những thước rừng đầu tiên bị khoét rỗng. Dọc "con đường chuột chạy" các cọc mốc viết chữ số bằng sơn đỏ lần lượt được đóng xuống. Tôi còn như chưa tin là mình đang đo đạc.

Từ bữa ấy, đo đạc về là tôi lúi húi ghi nhật ký công tác.

Lặng lẽ đi qua những ngày đo đạc đầu tiên, tôi đã phải trải qua bao dằn vặt, cầm cự khá quyết liệt. Sau bở ngỡ buổi đầu, đêm về giở tấm bản đồ, tôi loay hoay mãi với chiếc địa bàn. Trên tấm bản đồ chằng chịt nhiều nét và chiếc địa bàn thô sơ bí hiểm có gì tôi chưa hiểu nổi. Xoay đi, xoay lại chỉ cốt tìm cho được hướng tuyến hôm sau đó tiếp. Lúc nào thật bí, tôi mới hỏi Trung đội trưởng Diệm đã làm cán bộ trung cấp kỹ thuật lâu năm. Diệm chân thực và tận tình chỉ bảo khiến tôi sáng dần ra. Mọi việc nhờ thế mà trôi chảy. Ở cao điểm, mùa lạnh trời buốt giá ghê sợ. Buốt đến tức ê ẩm cả ngực. Vì hành quân bộ nên tôi mang nhẹ. Tuy đã ngủ chung với anh em mà nửa đêm vẫn thấy cóng rét. Không ngủ được, trở mình toàn nghĩ chuyện đo đạc. Mẫy mò, học hỏi mỗi ngày thêm chút ít. Sau thất bại bẻ góc ba lần, tôi càng tỉnh táo hơn. Đến cú cắt đường ở cây số 1, tôi đâm bạo dạn. Càng làm càng ham. Rừng núi đã bớt bí hiểm với tôi. Đo đạc về, ngày nào anh em cũng "cải thiện" thêm. Có bữa ít hoa chuối rừng thái mỏng trộn vừng rang. Có bữa rau dớn xào thịt hộp. Một hôm bắt được con rùa đang có trứng. Thịt rùa đem xào với củ chuối rừng. Lần đầu tiên tôi ăn trứng rùa cảm thấy ngon, không nghẹn bằng lòng đỏ trứng gà.

Anh em mũi đo đạc phần lớn là lính trẻ, luôn tin tưởng tôi, dẫu có lúc sơ suất làm anh em vất vả. Được anh em ủng hộ tôi càng vui, càng cố gắng.

Mau chóng kết thúc bước một của giai đoạn một, các mũi đo đạc tụ tập về trạm giao liên A Tép.

Chúng tôi lại khẩn trương tiến hành bước hai, hợp điểm sắp tới giữa mũi đo của tôi và Hiệu là bờ bắc sông B, một nguồn sông khá lớn đổ về đồng bằng khu Năm. Để hợp điểm giữa hai mũi đo, chúng tôi cứ đo độc lập đến khi gần tới ấy hai mũi đo mới liên hệ với nhau và quy định hợp điểm. Tín hiệu hợp điểm có thể là tiếng súng hoặc tiếng hú. Lần này, để chủ động và khoa học hơn, chúng tôi tính toán kỹ lưỡng trên bản đồ và quy định hợp điểm. Nếu sử dụng và kết hợp tốt bản đồ với thực địa, hai mũi đo sẽ hoàn toàn chủ động gặp nhau. Hợp điểm quy định là điểm giữa hai khe suối chảy ra từ bờ sông B...

Mùa hè đã ngấp nghé trở về rừng núi. Khoét rừng dưới sức hun hầm hập của mặt trời, có hôm khát khô cổ. Những cây dao quắm vừa mở đường vừa tìm chặt những đốt nứa để lấy nước uống. Chúng tôi thường gọi đó là "mạch nước thân cây". Nắm chắc bản đồ địa bàn, tôi sinh chủ quan. Một hôm đo đạc đã xế chiều, anh em yêu cầu tôi tìm đường về. Tôi quả quyết cứ đo một đoạn nữa, thế nào tuyến cũng ra kề đường. Càng đo, trời càng nhanh tối. Không tới được chỗ kề đường. Tôi loay hoay mãi mà chẳng thấy hướng ra. Cảnh âm u của rừng chiều khiến có gì cứ nặng trĩu vào lòng. Không tự chủ được nữa, tôi dắt anh em vạch lối lung tung. Gai cào, cành níu, chúng tôi hoàn toàn không còn phương hướng nữa. May sao, giẫm xuống một lòng khe, vất vả men theo lòng khe, anh em phải kiếm nứa khô đốt đuốc mới khỏi trơn ngã. Vừa đi vừa nghe tiếng thở dốc của lính trẻ, tôi trách mình quá lắm. Từ sau lần ấy, tôi luôn nhắc mình phải cẩn thận.

Đo đạc xuyên rừng, có chỗ chúng tôi gặp vết tích nhà hầm cũ, bãi khách cũ. Một hôm, đang hăm hở lao qua góc rừng già, bỗng cặp phát cây lùi lại. Tôi chạy lên vội vã. Một cảnh tượng đầy xúc động hiện ra trước mắt. Các bộ xương đã có mối đùn xung quanh. Giữa hai đầu bộ xương là hai đầu võng sờn mòn mưa nắng buộc vào hai gốc cây. Từng nghe anh em mặt trận Bốn kể chuyện, bây giờ chúng tôi đã chứng kiến. Sau Mậu Thân 1968, kẻ thù điên cuồng trả thù. Chúng vây ráp, lùng sục, bát bớ và cắt chặn hết các ngả đường tiếp tế lên chiến khu. Cả chiến khu BI lúc ấy sống cơ bản nhờ gạo từ đồng bằng chuyển lên. Gạo miền Bắc chưa chuyển vào được nhiều. Đường tiếp tế bị đứt, nhiều đơn vị đã sống trong tình trạng hết lương thực. Có đồng chí trong khi đi tìm rau hoang quả dại biết mình không sống nổi đã khẽ khàng buộc võng và nằm thiếp đi. Chúng tôi nghẹn ngào vun kín đất lên dấu vết xác xơ của người đồng chí vô danh. Các đồng chí đã ra đi nhường cho chúng tôi hôm nay. Các đồng chí giống cái bệ cột đường dây. Đỡ đứng cả một cây cột cao nhưng toàn bộ thân cột thì vùi sâu lòng đất.

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005) 

0 comments:

Đăng nhận xét