21.9.25

Những ngày tháng hào hùng (2/3)

Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan – hội viên Chi hội Phòng KHQS 

Tiếp theo kỳ 1/3

Thấy tình hình có vẻ căng lên, anh Lạc bảo chúng tôi "cho giải tán đi". Chúng tôi  bàn với nhau cũng là "giải tán" nhưng "giải tán đi vẽ ở cơ sở", để anh chị em vào Vĩnh Linh, Khu 4, lên rừng, ra biển... Chính trong dịp này và mấy dịp sau nữa, các họa sĩ thông tin tương lai có được nhiều ký họa - nhân chứng lịch sử - giúp cho phòng triển lãm "Chiến sĩ thông tin vẽ - Vẽ chiến sĩ thông tin" tổ chức vào tháng 10 năm 1968. (Họa sĩ Phạm Ngọc Liệu gần đây kể chuyện vui rằng: Khách du lịch Mỹ lại rất thích ký họa chiến tranh, mỗi bức họ trả hàng trăm đô!).

Đi "thực tế" về, chúng tôi thật sự "hoa mắt" vì những "tác phẩm" hội họa của anh chị em. Treo lên, ngắm nghía, chúc mừng... Chúng tôi lại mời các anh ở Hội Mỹ thuật đến xem. Xem xong, có lẽ là anh Dương Viên - bảo tôi: "Có thể đem ra Hà Nội triển lãm được đấy"... Chúng tôi vừa mừng, vừa lo. Lo là nếu đưa tranh ra triển lãm ở ngoài mà không báo cho Bộ tư lệnh, Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị thì "chết". Lo là vì chẳng hiểu "nó ra sao", "ở nhà nhất mẹ nhì con", nay ra bàn dân thiên hạ "thì còn lắm kẻ giòn hơn ta".. Lại phải làm mẹo thôi. Vốn đã được anh Lạc bảo "Tùy các cậu", chúng tôi ra Hội, "xin" Hội một thư gửi, mượn tranh triển lãm, ý tứ, nói chung chung. Thực tế, Hội và chúng tôi đã làm một triển lãm tranh đầu tiên trong quân đội tại Hàng Đào với nhan đề "Chiến sĩ Thông tin vẽ - Vẽ chiến sĩ Thông tin”, gồm phần lớn là ký họa, có cả tranh bố cục, sơn dầu, màu nước của chiến sĩ thông tin và cả của các anh Văn Đa, Thanh Tâm...

Chẳng biết từ đâu, bỗng Hội cho biết, đồng chí Trường Chinh tối nay ra thăm triển lãm của Bộ đội Thông tin. Điện từ Tổng cục Chính trị xuống. Trên hỏi "Triển lãm cái gì? Ai chủ trương". Chúng tôi cuống cả lên. Nhưng Chính ủy Lê Cư thương chúng tôi - bấy giờ mới được báo ngọn ngành chính thức, đã lên gặp Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Song Hào và tối hôm ấy, Chính ủy cùng với anh Nguyễn Duy Lạc, "cánh" chúng tôi được đón đồng chí Trường Chinh, được đồng chí biểu dương, căn dặn, khuyến khích. Hú vía! Nhưng rất đỗi hạnh phúc. Hạnh phúc hơn nữa là cuối năm đó, khi có triển lãm tranh của lực lượng vũ trang hai miền tổ chức ở Câu lạc bộ Thống Nhất góc đường Lê Thái Tổ, Hàng Trống, Bác Hồ có đến xem, dừng lại lâu trước bức tranh của chiến sĩ thông tin vẽ, tặng hoa cho hai chiến sĩ gái thông tin là Dương Thị Mỹ Bình và Nguyễn Thị Sang. Hai cô gái này lại được vinh dự hát bài Chiến sĩ quân bưu để Bác nghe.

Báo chí phát thanh những năm đó đưa tin nhiều đơn vị được Bác Hồ gửi thư khen. Chúng tôi lại bàn nhau "Bây giờ mình lên Bộ rồi, Bác cũng đã gần trăm tuổi, phải "kiếm một cái gì" để làm truyền thống, "làm tài sản" cho Binh chủng chứ!". Anh Sinh Hùng báo cáo với Phó Chủ nhiệm Chính trị để Phó Chủ nhiệm Nguyễn Duy Lạc báo cáo lên trên... Việc "tày trời" này, qua nhiều khâu lắm, Cục Tuyên huấn, rồi Tổng cục Chính trị, rồi Văn phòng Trung ương Đảng, rồi ông Vũ Kỳ... mà chỉ có Chính ủy Lê Cư mới làm được.

Năm 1968, nhất là trong Tết Mậu Thân 1968, Bộ đội Thông tin trên các chiến trường đã lập được nhiều thành tích. Tháng 11, Ủy ban Thường vụ đã có lệnh tuyên dương "Bộ đội Thông tin liên lạc hiệp đồng chặt chẽ, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, trưởng thành nhanh chóng, chiến thắng vẻ vang".

Để cổ vũ, động viên bộ đội trước tình hình mới, Đảng ủy Thông tin quyết định tổ chức Đại hội thi đua chống Mỹ, sau này có tên chính thức là Đại hội thi đua lập công, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Đây là "thời cơ" quý nhất, thời cơ có một không hai, bỏ lỡ là mất, không bao giờ có được nữa, cũng là tạo ra cái cớ "để xin thư của Bác".

Chúng tôi tổ chức Đại hội tại sân chơi có mái che của trường Chu Văn An - Hà Nội, nơi một bộ phận tiểu đoàn quân bưu sơ tán đến.

Đại biểu các đơn vị thông tin, các chiến sĩ thông tin có thành tích trực thuộc Bộ, các khu, ở Tây Nguyên... đã về dự. Anh em chúng tôi trong Ban Tuyên huấn còn bày ra "cái trò" Triển lãm tranh Thông tin, giao cho phạm Ngọc Liệu, Xuân Hạnh phụ trách, tin Đại hội hai ngày, ba số in trên đá là phần việc của Nguyễn Duy, Phạm Khắc Vinh, Phạm Đình Trọng (hiện tôi còn giữ được mấy bản). Đưa đón đại biểu ra Nhà hát Lớn xem văn nghệ, in phiếu cảm tưởng, làm hồ sơ đại biểu, đón thư Bác nếu có, kế hoạch tuyên truyền ngay trong lễ đón thư... biết bao nhiêu công việc mà chỉ có mấy anh em, (sau có thêm cô Tuyết Lan, cô Thanh Trà giúp) đoàn kết thật lòng, với tinh thần tự giác, tự trọng cao đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc, được Thường vụ Đảng ủy biểu dương...

Khi có thư Bác, Chính ủy Lê Cư vào Phủ Chủ tịch nhận, chúng tôi cử Tống Choan vào "phục kích" ngủ đêm ngay tại Nhà in Quân đội ở Cầu Diễn, 5 giờ 30 sáng chở thư bằng ô tô về Đại hội. Lập tức, chúng tôi đưa mấy bản vào Phát thanh Quân đội nhân dân, báo Quân đội nhân dân, báo Nhân dân dù biết là báo đã có trong đêm qua, đồng thời điện cho các đơn vị mở đài đón nghe buổi Phát thanh Quân đội lúc 6 giờ 30 phút.

6 giờ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1969, cả Đại hội đứng nghiêm nghe đọc thư của Bác, nhiều đại biểu đã không cầm được nước mắt... Và đến 6 giờ 30 phút, buổi Phát thanh Quân đội đã truyền đi khắp nước bức thư đó... Tất cả chúng tôi, xiết đỗi vui mừng, sung sướng...

Chính trong Đại hội này, với sự kiện ra được tờ Tin Đại hội mà mà tháng 5 sau đó, sau khi đồng chí Nguyễn Như Thuyết - Phó Chính ủy báo cáo với Cục Tuyên huấn, chúng tôi đã nhận được giấy phép của Sở Báo chí Trung ương, Phủ Thủ tướng cho xuất bản tờ tin Thông tin, một ấn phẩm văn hóa, mang tính lịch sử, một hiện vật vật thể bảo tàng như một "binh chủng - mặt trận tuyên truyền có hiệu quả, niềm tự hào của một bộ tư lệnh - binh chủng - đầu tiên có "tờ báo" của mình và là một tài sản quý của Bộ đội Thông tin...

Sau khi Chính ủy Lê Cư có một cuộc gặp mặt với văn nghệ sĩ gồm các ngành văn, thơ, nhạc, họa... Ban Tuyên huấn chúng tôi lại tiếp tục đưa các anh Vũ Trọng Hối, Đức Toàn, Huy Thục, Huy Du... đi thực tế tại các đơn vị thông tin... Chuyến đi dài ngày này đã để lại cho Bộ đội Thông tin nhiều bài hát thông tin được bộ đội yêu thích, bên cạnh những sáng tác "cây nhà lá vườn" của các "nhạc sĩ đơn vị" mà tiêu biểu nhất trong số này là Phạm Khắc Vinh. Một số nhà văn, thơ, họa sĩ như Vũ Bảo, Ngọc Bảo, Cao Tiến Lê, Phạm Thanh Tâm... cũng đã được mời xuống đơn vị "thâm nhập" và đã có nhiều sáng tác về Bộ đội Thông tin...

Tin tức chiến thắng từ các đơn vị gửi về đang ngày càng nhiều, bản tin Thông tin, báo Quân đội nhân dân, Nhân dân, đã đăng cho nhiều mà không hết, buộc chúng tôi phải tìm cách đem in thành sách. Sách thời chiến phải nhỏ, gọn, nhẹ và phải hay. Đó là những tiêu chí mà chúng tôi phải cố gắng đảm bảo, tiêu chí cuối cùng "hay" thì quả là rất khó, chỉ biết hết lòng, hết sức mình mà thôi! Được sự tận tình giúp đỡ của Cục Xuất bản - Tổng cục Chính trị, chúng tôi đã đưa in thêm nhiều sách mới loại Người tốt việc tốt, sách Thơ Thông tin, Nhạc Thông tin, tập Tranh Thông tin... mỗi năm có được ba, bốn ấn phẩm.

Không thỏa mãn trong các lĩnh vực đã đạt được, chúng tôi còn "to gan" đề nghị làm phim thông tin. (Thực ra, vào năm 1958, 1959, Trưởng phòng Huấn luyện Hoàng Tài Long đã chỉ đạo xây dựng một số phim thông tin về huấn luyện rồi). Chúng tôi bắt đầu bằng phim Đường dây quyết thắng ca ngợi chiến công của cán bộ chiến sĩ Trung đoàn dây trần 132. Kịch bản, lời bình, tổ chức quay phim, làm hậu kỳ... Ban chúng tôi đều tích cực tham gia. Phim đã có tiếng vang tốt. Tiếp sau đó là phim Những cô gái thông tin K6, do đạo diễn Chí Phúc thực hiện về chủ đề các chiến sĩ gái Trung đoàn 134 với sự tham gia của các bạn Đinh Tuyết Lan, Dương Thị Lệ Phái, Việt Hồng... Phim này của Xưởng phim Quân đội thực hiện, đã được bằng khen tại Liên hoan phim quốc tế 1970 và đã được trích đoạn vào một bộ phim do phóng viên điện ảnh của Đảng Cộng sản Nhật chiếu phục vụ Hội nghị Paris sau này.

Đạo diễn U Đa còn làm cho Bộ đội Thông tin một số phim Những bông hoa đẹp về anh hùng Hoàng Văn Cón, Mai Ngọc Thoảng...

Có phim riêng Thông tin rồi, làm sao để các chiến sĩ thông tin ở các trạm, tổ lẻ xem được? Chúng tôi lại đi xin máy chiếu riêng, "xe đít vuông" riêng, thành lập tổ chiếu phim lưu động do các bạn Tống Choan, Đào Nhạc, Đặng Văn Tiến phụ trách, đến tận tổ đường dây, có nhiều buổi, chỉ chiếu cho một hai "khán giả", và phải chiếu nhiều lần trong ngày để bảo đảm ai cũng được xem, không vì các phiên, ca trực mà lỡ dịp.

Nhân dịp Bộ Tổng Tham mưu tổ chức liên hoan văn nghệ, Bộ đội Thông tin đóng góp được một tiết mục "hát chèo" do chiến sĩ gái Nguyễn Thị Lộc trình diễn, chúng tôi "uất" lắm và bảo nhau, phải đẩy mạnh phong trào văn nghệ ở đơn vị lên. Bấy giờ ở Trung đoàn 132 "đạo diễn" Phạm Khắc Vinh đã dàn dựng vở kịch nói "tự biên tự diễn" Lý Tự Trọng. Chúng tôi có được xem. Kịch bản, vai diễn "nghệ sĩ" không có gì dám chê trách. Duy chỉ thấy là "nó" không hợp với "lính ta". Ban kịch thì người đông, đạo cụ cồng kềnh, kịch nói mà hệ thống âm thanh kém thành ra kịch câm... Chúng tôi bàn ngay với Phạm Khắc Vinh: lấy ca hát tập thể, đơn ca, chú trọng chèo, ca cảnh phối hợp ca hát, kịch nói ngắn thực nghiệm "tấu" của nhà thơ Thanh Tịnh. Sau đó, "xin" được Phạm Khắc Vinh về Ban để chuẩn bị các hội diễn văn nghệ quần chúng thông tin, chọn "nhân tài, tiết mục" đưa lên sóng Ca hát quần chúng của Phát thanh Quân đội nhân dân và chuẩn bị thành lập đội Tuyên truyền văn hóa. Chính trong phong trào này mà chúng tôi "tìm" được anh binh nhì Nguyễn Duy Nhuệ - sau này, theo anh nói, muốn "ra trò", tên gọi chỉ nên có hai chữ như các nhà thơ khác nên anh bỏ chữ Nhuệ, thành Nguyễn Duy - nhà thơ rất được chúng ta quý mến.

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu” NXB QĐND 2005)

0 comments:

Đăng nhận xét