Cố nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha (1949-1925) – nguyên
cán bộ Phòng Tuyên huấn Binh chủng

Nhà thơ, nhạc sĩ, nhà nghiên cứu âm nhạc Nguyễn Thụy Kha nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2022. Ảnh: Nguyễn Hải.
I
Trong đoàn, tôi là người đầu tiên đến đơn vị. Tôi được
phân về Trung đội 3 thuộc Đại đội 6. Đại đội 6 là đơn vị anh hùng đầu tiên của Đoàn
Thông tin Lam Sơn nhờ thành tích phục vụ Tổng tấn công Mậu Thân. Đón tôi về Trung
đội 3 là Trung đội trưởng Đỗ Hồng Khiết. Quê ở Hà Bắc, nhập ngũ vào Trung đoàn
từ 1966, Khiết nhiều năm là chiến sĩ thi đua. Qua đào tạo, anh về làm trung đội
trưởng Trung đội 3 của Đại đội 6. Khiết nở nụ cười hiền hậu đón tôi:
- Ông chuẩn bị ba lô rồi ta cùng về. Bê 3 của chúng ta
cách đây ba tiếng nữa.
Tôi gấp võng vội vàng, khoác ba lô theo Khiết. Đến một
khe nhỏ, Khiết bảo tôi giải lao. Hơi lạnh khe sâu làm dịu lại buổi trưa. Khiết
cởi túi cơm đeo cạnh sườn, bẻ đưa tôi nửa nắm:
- Ông ăn tạm. Trai thành phố biết ăn cơm nắm chứ?
Cơm ai nắm rất khéo và mịn. Tôi vừa ăn cơm vừa thổ lộ:
- Cơm ngon quá. Tôi cứ nghĩ vào Trường Sơn là thiếu lắm.
Hóa ra cũng đàng hoàng.
Khiết lại cười, nụ cười thật dễ mến:
- Có lúc cũng thiếu lắm. Nhưng lúc nào đàng hoàng thì
rất đàng hoàng. Lính là thế đấy ông ạ.
Tôi và Khiết lại tiếp tục đi. Một bãi bằng mở ra bất
ngờ.
- A! Trung đội trưởng về rồi. Lại thêm ông khách nào nữa.
Anh em trong một lán gần đấy, chạy ra. Rồi các lán khác
chạy ra. Chỉ một lát, bao khuôn mặt hồ hởi đã vây quanh tôi. Chợt có tiếng reo:
- Anh Kha. Đúng anh Kha rồi. Có nhớ Quý không? Quý ở
Ngô Xá đây.
Một anh chàng cao cao, tóc cắt cua, rẽ đám đông tiến vào.
Tôi ngờ ngợ. Đúng rồi. Đúng là Quý, con ông chủ nhà lớp tôi mượn làm nhà ăn hồi
sinh viên sơ tán ở Ngô Xá, Phú Thọ. Quý lớn nhiều nhưng nét mặt vẫn như trước.
Làng Ngô Xá là một làng giáo dân. Thanh niên còn lạc hậu, ít chịu tham gia
nghĩa vụ quân sự. Thế mà tôi lại gặp Quý ở Trường Sơn. Nhiều điều đã đổi khác qua
năm tháng. Khiết ra hiệu cho tất cả im lặng:
- Định giới thiệu thì ông Quý làm trước rồi. Xin vắn tắt
thế này nhé. Đây là đồng chí Kha, kỹ sư thông tin, nhập ngũ 1971, được điều về
làm chiến sĩ B3 chúng ta. Đồng chí Kha sẽ về sinh hoạt ở A7. Đồng chí Quý đưa đồng
chí Kha về A7 nhé.
Quý đỡ ba lô rồi kéo tôi về phía lán của tiểu đội 7. Chỉ
vào một người mặt dài, cởi trần, quần đùi còn ướt rượt, Quý nói:
- A trưởng Việt đấy. Kìa "thủ trưởng em" lôi
thôi quá. Ra mà nhận "lính mới" này.
Việt hơi đỏ mặt nhìn tôi:
- Ông thông cảm. Chúng mình đang be bờ tát cá "cải
thiện". Ông theo Quý về lán nhé. Mình tắm qua một chút rồi anh em nói chuyện
sau.
Tối hôm ấy, tôi dốc ba lô còn bao thuốc "Tam Đảo"
và gói kẹo làm lễ "nhập gia" với anh em. Xa Hà Nội gần một tháng
nhưng với anh em, tôi còn hồi hộp lắm. Tôi luôn mồm trả lời, giảng giải, kể lể,
mọi chuyện ngoài Bắc. Trong câu chuyện, tôi không còn xa lạ. Tôi như người nhà
mới đi xa về. Những giây phút ấm áp đầu tiên với đồng đội ở Trường Sơn, bao giờ
tôi quên được?
Thực sự thành chiến sĩ đơn vị, tôi lao vào công việc mới
mẻ say mê. Mới hôm nào ra sông Tà Riệp kéo cáp, hôm nay đã áp đường 70 giải
phóng kho vật liệu. Bám theo đồng đội, tôi lặng lẽ học tập như một học sinh muộn
mằn.
Ban ngày công tác mệt nhọc, đêm về, chúng tôi cười đùa
không ngớt. Tôi bập bẹ đánh bài "tiến lên", một loại bài một trăm phần
trăm giải trí của lính. Các từ ngữ vui vẻ như: "cối", "tọa độ",
ba thằng "trái gió", "Nam Lào", "Campuchia",
v.v... đều được gọi lên trong ván bài. Làm lính Trường Sơn thì phải sốt rét và
đánh "tiến lên". Vừa đánh vừa trêu đùa nhau khiến đêm qua mau. Trước
giờ ngủ, cả lán thường có nửa tiếng "Kể chuyện đêm khuya". Qua nửa tiếng
quý giá ấy, tôi nhận biết bao tâm tư thầm kín của anh em. Càng hiểu nhau, càng
gắn bó nhau hơn.
Mùa hè Trường Sơn, tiếng ve sầu ngân da diết. Tiếng ve
gợi bao kỷ niệm buồn vui. Tiếng ve gọi mùa hè tuổi thơ lang thang hè phố, thuở
học sinh hồi hộp kỳ thi, thuở ban đầu yêu thương nồng thắm. Tiếng ve rừng ngân
trong tôi một giai điệu mới. Giai điệu về cuộc sống vô tư của lính Trường Sơn
không dứt.
***
Lúc ấy, chiến dịch vào kỳ giòn giã. Ta giải phóng Đông
Hà rồi thị xã Quảng Trị. Lòng chúng tôi cồn cào bứt rứt. Làm thằng lính mà lúc
này còn chui tít xó rừng. Nhiệm vụ thật mà cứ ấm ức thế nào.
Một bữa, Đại đội trưởng Văn Đình Lộc đến Trung đội 3
phổ biến tình hình. Chúng tôi sung sướng bao nhiêu khi nghe bộ chỉ huy mặt trận
khen ngợi mạng thông tin. Nhờ có nó mà mệnh lệnh chỉ huy xuyên qua dằng dặc Trường
Sơn, kịp thời và bí mật tới mặt trận. Đại đội trưởng nói tiếp:
- Căn cứ vào nhiệm vụ của trên, đại đội giao cho
"bê ba" nhiệm vụ nâng cao chất lượng để đường dây có thể phục vụ tốt
hơn. Các đồng chí cố gắng thực hiện ngay.
Mờ sáng hôm sau, sau bữa ăn vội vã, các lán gỡ tăng, từng
người xếp ba lô. Khi ở thì bồn chồn muốn đi. Khi gỡ hết mái tăng ra, các lán hầm
trống trải như lòng người lúc ấy. Một chút gì lưu luyến cái góc rừng không tên thoáng
lên nhè nhẹ trong mắt.
Chúng tôi bắt đầu băng những chóp núi ngất trời. Nơi ấy,
cao hơn chóp núi là cột đường dây đứng vươn tay như dũng sĩ. Chúng tôi cắt những
dây leo xoắn vào đường dây, căng lại độ chùng cho những khoảng dây bị võng. Đường
dây có chỗ đi thẳng băng, có chỗ đi ngoằn ngoèo như thân rắn. Có nơi, đường dây
lấy thân cây cổ thu làm cột. Thật kỳ lạ. Nếu còn ngồi trong nhà trường, tôi chẳng
sao hình dung nổi đường dây xuyên Trường Sơn. Đồng đội tôi, những cậu Quý lém lỉnh,
cậu Bảo gan góc, cậu Bảng lầm lì, Tiểu đội phó Đức với cây đàn ta lư vui tính.
Họ là những người lính bình thường đã sinh ra đường dây và tận tâm săn sóc nó.
Theo sách vở, để tổ chức thông tin và nhiều đường bằng máy tải ba, đường dây
yêu cầu nhiều điều kiện ngặt nghèo. Câu chuyện tranh luận của người tư lệnh trưởng
với anh em kỹ sư thông tin đã lan xuống đơn vị. Khi đề ra việc kéo đường dây
xuyên Trường Sơn, có kỹ sư nghi ngại với điều kiện rừng rú, các đôi dây thông
tin sẽ bị xuyên nhiễu rất nặng. Tư lệnh trưởng đã lấy ví dụ đơn giản và bất ngờ.
Ông nói:
- Ta ví Trường Sơn như một căn nhà. Trong căn nhà ấy,
mỗi đôi dây của máy tải ba là một người. Nếu có nhiều người la to trong nhà
cùng một lúc thì mới sợ nhiễu chứ. Đằng này, ta chỉ để một người thôi. Hắn có
la váng trời cũng chẳng ảnh hưởng sang ai hết. Các kỹ sư hiểu chứ? Thực tế đó.
Với dung lượng Bộ Tổng yêu cầu, ta sẽ kéo đường dây một đôi cho tải ba, một đôi
cho bảo vệ. Lợi dụng cây rừng làm cột hỉ? Nhất trí thì khẩn trương cùng Đoàn Thông
tin Lam Sơn thực hiện.
Thế là từ Mậu Thân 1968, những đường dây dã chiến như
vậy xuyên dọc, đâm ngang khắp Trường Sơn. Mưa đổ, địch phá, ta lại làm lại.
Công trình ấy đang trải trước mắt tôi. Để làm đường dây dã chiến kịp phục vụ chiến
dịch 1972, bộ đội Đoàn Thông tin Lam Sơn đã thị công cả mùa mưa. Tiểu đội phó Đức
hai lần lên cơn sốt ác tính trong mùa mưa ấy. Hai lần đồng đội gạt nước mắt
trói anh bằng chính sợi dây lưỡng kim hôm nay tải trên mình tiếng nói.
Theo đường dây thầm lặng, chúng tôi tới những thung rực
nở, lừng hương. Vặn cột đường dây, men theo lèn đá, chúng tôi sững sờ trước đàn
bướm trắng chập chờn trông như quả cầu di động. Chúng tôi gặp bãi giày của đàn
voi đêm lồng ngược Ta Păng suýt làm sập phòng máy cơ vụ 434. Trong tiếng vượn
hú, chim ríu ran, chúng tôi đi theo dấu chân nai lỏn chỏn ven bờ suối, con sóc
bay chuyển cành chập tối, tiếng tắc kè buông thõng chiều hôm. Theo đường dây
chúng tôi đi trong hoang dã Trường Sơn.
Ngay trong góc đại ngàn âm u xa lắc, kẻ thù vẫn ngày
đêm nhòm ngó, phá phách điên cuồng. Những thước dây lại đứt tả tơi sau trận bom
tọa độ. Chúng tôi từng băng qua hiểm nghèo để căng lại dây giữa lúc hơi bom còn
khét lẹt. Chúng tôi từng nghẹn ngào trước những bản hoang sau trận bom tàn phá.
Mấy cây cột nhà đen cháy đứng trơ trơ. Những nền nhà cỏ đã um lên. Nơi ấy bản
đã hiến mình cho con đường xuyên qua, cho đường dây băng qua. Có lúc, ngay
chính chúng tôi nằm trong tọa độ điên cuồng. Sau trận bom, giũ đất vùi gọi nhau
đến lạc giọng. Đến khi bới nổi nhau lên thì ôm ghì nhau, rơi nước mắt. Có nơi,
chúng tôi đến thì bom vừa rải thảm. Nhìn dòng suối lờ đờ cuốn trôi bao mái tóc của
các cô thanh niên xung phong, lòng đắng lại không sao khóc nổi. Chiều qua, để nối
lại một đoạn cáp đứt giữa sông Sen, đồng chí Dược của chúng tôi đã vấp mìn vướng
giữa lúc lội sông tìm mối đứt và đã ra đi thầm lặng như bao thước dây đứt.
Còn nữa
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005)
0 comments:
Đăng nhận xét