27.9.25

Xuyên Trường Sơn (1/6)

Cố nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha (1949-1925) – nguyên cán bộ Phòng Tuyên huấn Binh chủng

Nhà thơ, nhạc sĩ, nhà nghiên cứu âm nhạc Nguyễn Thụy Kha nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2022. Ảnh: Nguyễn Hải.

I

Trong đoàn, tôi là người đầu tiên đến đơn vị. Tôi được phân về Trung đội 3 thuộc Đại đội 6. Đại đội 6 là đơn vị anh hùng đầu tiên của Đoàn Thông tin Lam Sơn nhờ thành tích phục vụ Tổng tấn công Mậu Thân. Đón tôi về Trung đội 3 là Trung đội trưởng Đỗ Hồng Khiết. Quê ở Hà Bắc, nhập ngũ vào Trung đoàn từ 1966, Khiết nhiều năm là chiến sĩ thi đua. Qua đào tạo, anh về làm trung đội trưởng Trung đội 3 của Đại đội 6. Khiết nở nụ cười hiền hậu đón tôi:

- Ông chuẩn bị ba lô rồi ta cùng về. Bê 3 của chúng ta cách đây ba tiếng nữa.

Tôi gấp võng vội vàng, khoác ba lô theo Khiết. Đến một khe nhỏ, Khiết bảo tôi giải lao. Hơi lạnh khe sâu làm dịu lại buổi trưa. Khiết cởi túi cơm đeo cạnh sườn, bẻ đưa tôi nửa nắm:

- Ông ăn tạm. Trai thành phố biết ăn cơm nắm chứ?

Cơm ai nắm rất khéo và mịn. Tôi vừa ăn cơm vừa thổ lộ:

- Cơm ngon quá. Tôi cứ nghĩ vào Trường Sơn là thiếu lắm. Hóa ra cũng đàng hoàng.

Khiết lại cười, nụ cười thật dễ mến:

- Có lúc cũng thiếu lắm. Nhưng lúc nào đàng hoàng thì rất đàng hoàng. Lính là thế đấy ông ạ.

Tôi và Khiết lại tiếp tục đi. Một bãi bằng mở ra bất ngờ.

- A! Trung đội trưởng về rồi. Lại thêm ông khách nào nữa.

Anh em trong một lán gần đấy, chạy ra. Rồi các lán khác chạy ra. Chỉ một lát, bao khuôn mặt hồ hởi đã vây quanh tôi. Chợt có tiếng reo:

- Anh Kha. Đúng anh Kha rồi. Có nhớ Quý không? Quý ở Ngô Xá đây.

Một anh chàng cao cao, tóc cắt cua, rẽ đám đông tiến vào. Tôi ngờ ngợ. Đúng rồi. Đúng là Quý, con ông chủ nhà lớp tôi mượn làm nhà ăn hồi sinh viên sơ tán ở Ngô Xá, Phú Thọ. Quý lớn nhiều nhưng nét mặt vẫn như trước. Làng Ngô Xá là một làng giáo dân. Thanh niên còn lạc hậu, ít chịu tham gia nghĩa vụ quân sự. Thế mà tôi lại gặp Quý ở Trường Sơn. Nhiều điều đã đổi khác qua năm tháng. Khiết ra hiệu cho tất cả im lặng:

- Định giới thiệu thì ông Quý làm trước rồi. Xin vắn tắt thế này nhé. Đây là đồng chí Kha, kỹ sư thông tin, nhập ngũ 1971, được điều về làm chiến sĩ B3 chúng ta. Đồng chí Kha sẽ về sinh hoạt ở A7. Đồng chí Quý đưa đồng chí Kha về A7 nhé.

Quý đỡ ba lô rồi kéo tôi về phía lán của tiểu đội 7. Chỉ vào một người mặt dài, cởi trần, quần đùi còn ướt rượt, Quý nói:

- A trưởng Việt đấy. Kìa "thủ trưởng em" lôi thôi quá. Ra mà nhận "lính mới" này.

Việt hơi đỏ mặt nhìn tôi:

- Ông thông cảm. Chúng mình đang be bờ tát cá "cải thiện". Ông theo Quý về lán nhé. Mình tắm qua một chút rồi anh em nói chuyện sau.

Tối hôm ấy, tôi dốc ba lô còn bao thuốc "Tam Đảo" và gói kẹo làm lễ "nhập gia" với anh em. Xa Hà Nội gần một tháng nhưng với anh em, tôi còn hồi hộp lắm. Tôi luôn mồm trả lời, giảng giải, kể lể, mọi chuyện ngoài Bắc. Trong câu chuyện, tôi không còn xa lạ. Tôi như người nhà mới đi xa về. Những giây phút ấm áp đầu tiên với đồng đội ở Trường Sơn, bao giờ tôi quên được?

Thực sự thành chiến sĩ đơn vị, tôi lao vào công việc mới mẻ say mê. Mới hôm nào ra sông Tà Riệp kéo cáp, hôm nay đã áp đường 70 giải phóng kho vật liệu. Bám theo đồng đội, tôi lặng lẽ học tập như một học sinh muộn mằn.

Ban ngày công tác mệt nhọc, đêm về, chúng tôi cười đùa không ngớt. Tôi bập bẹ đánh bài "tiến lên", một loại bài một trăm phần trăm giải trí của lính. Các từ ngữ vui vẻ như: "cối", "tọa độ", ba thằng "trái gió", "Nam Lào", "Campuchia", v.v... đều được gọi lên trong ván bài. Làm lính Trường Sơn thì phải sốt rét và đánh "tiến lên". Vừa đánh vừa trêu đùa nhau khiến đêm qua mau. Trước giờ ngủ, cả lán thường có nửa tiếng "Kể chuyện đêm khuya". Qua nửa tiếng quý giá ấy, tôi nhận biết bao tâm tư thầm kín của anh em. Càng hiểu nhau, càng gắn bó nhau hơn.

Mùa hè Trường Sơn, tiếng ve sầu ngân da diết. Tiếng ve gợi bao kỷ niệm buồn vui. Tiếng ve gọi mùa hè tuổi thơ lang thang hè phố, thuở học sinh hồi hộp kỳ thi, thuở ban đầu yêu thương nồng thắm. Tiếng ve rừng ngân trong tôi một giai điệu mới. Giai điệu về cuộc sống vô tư của lính Trường Sơn không dứt.

***

Lúc ấy, chiến dịch vào kỳ giòn giã. Ta giải phóng Đông Hà rồi thị xã Quảng Trị. Lòng chúng tôi cồn cào bứt rứt. Làm thằng lính mà lúc này còn chui tít xó rừng. Nhiệm vụ thật mà cứ ấm ức thế nào.

Một bữa, Đại đội trưởng Văn Đình Lộc đến Trung đội 3 phổ biến tình hình. Chúng tôi sung sướng bao nhiêu khi nghe bộ chỉ huy mặt trận khen ngợi mạng thông tin. Nhờ có nó mà mệnh lệnh chỉ huy xuyên qua dằng dặc Trường Sơn, kịp thời và bí mật tới mặt trận. Đại đội trưởng nói tiếp:

- Căn cứ vào nhiệm vụ của trên, đại đội giao cho "bê ba" nhiệm vụ nâng cao chất lượng để đường dây có thể phục vụ tốt hơn. Các đồng chí cố gắng thực hiện ngay.

Mờ sáng hôm sau, sau bữa ăn vội vã, các lán gỡ tăng, từng người xếp ba lô. Khi ở thì bồn chồn muốn đi. Khi gỡ hết mái tăng ra, các lán hầm trống trải như lòng người lúc ấy. Một chút gì lưu luyến cái góc rừng không tên thoáng lên nhè nhẹ trong mắt.

Chúng tôi bắt đầu băng những chóp núi ngất trời. Nơi ấy, cao hơn chóp núi là cột đường dây đứng vươn tay như dũng sĩ. Chúng tôi cắt những dây leo xoắn vào đường dây, căng lại độ chùng cho những khoảng dây bị võng. Đường dây có chỗ đi thẳng băng, có chỗ đi ngoằn ngoèo như thân rắn. Có nơi, đường dây lấy thân cây cổ thu làm cột. Thật kỳ lạ. Nếu còn ngồi trong nhà trường, tôi chẳng sao hình dung nổi đường dây xuyên Trường Sơn. Đồng đội tôi, những cậu Quý lém lỉnh, cậu Bảo gan góc, cậu Bảng lầm lì, Tiểu đội phó Đức với cây đàn ta lư vui tính. Họ là những người lính bình thường đã sinh ra đường dây và tận tâm săn sóc nó. Theo sách vở, để tổ chức thông tin và nhiều đường bằng máy tải ba, đường dây yêu cầu nhiều điều kiện ngặt nghèo. Câu chuyện tranh luận của người tư lệnh trưởng với anh em kỹ sư thông tin đã lan xuống đơn vị. Khi đề ra việc kéo đường dây xuyên Trường Sơn, có kỹ sư nghi ngại với điều kiện rừng rú, các đôi dây thông tin sẽ bị xuyên nhiễu rất nặng. Tư lệnh trưởng đã lấy ví dụ đơn giản và bất ngờ. Ông nói:

- Ta ví Trường Sơn như một căn nhà. Trong căn nhà ấy, mỗi đôi dây của máy tải ba là một người. Nếu có nhiều người la to trong nhà cùng một lúc thì mới sợ nhiễu chứ. Đằng này, ta chỉ để một người thôi. Hắn có la váng trời cũng chẳng ảnh hưởng sang ai hết. Các kỹ sư hiểu chứ? Thực tế đó. Với dung lượng Bộ Tổng yêu cầu, ta sẽ kéo đường dây một đôi cho tải ba, một đôi cho bảo vệ. Lợi dụng cây rừng làm cột hỉ? Nhất trí thì khẩn trương cùng Đoàn Thông tin Lam Sơn thực hiện.

Thế là từ Mậu Thân 1968, những đường dây dã chiến như vậy xuyên dọc, đâm ngang khắp Trường Sơn. Mưa đổ, địch phá, ta lại làm lại. Công trình ấy đang trải trước mắt tôi. Để làm đường dây dã chiến kịp phục vụ chiến dịch 1972, bộ đội Đoàn Thông tin Lam Sơn đã thị công cả mùa mưa. Tiểu đội phó Đức hai lần lên cơn sốt ác tính trong mùa mưa ấy. Hai lần đồng đội gạt nước mắt trói anh bằng chính sợi dây lưỡng kim hôm nay tải trên mình tiếng nói.

Theo đường dây thầm lặng, chúng tôi tới những thung rực nở, lừng hương. Vặn cột đường dây, men theo lèn đá, chúng tôi sững sờ trước đàn bướm trắng chập chờn trông như quả cầu di động. Chúng tôi gặp bãi giày của đàn voi đêm lồng ngược Ta Păng suýt làm sập phòng máy cơ vụ 434. Trong tiếng vượn hú, chim ríu ran, chúng tôi đi theo dấu chân nai lỏn chỏn ven bờ suối, con sóc bay chuyển cành chập tối, tiếng tắc kè buông thõng chiều hôm. Theo đường dây chúng tôi đi trong hoang dã Trường Sơn.

Ngay trong góc đại ngàn âm u xa lắc, kẻ thù vẫn ngày đêm nhòm ngó, phá phách điên cuồng. Những thước dây lại đứt tả tơi sau trận bom tọa độ. Chúng tôi từng băng qua hiểm nghèo để căng lại dây giữa lúc hơi bom còn khét lẹt. Chúng tôi từng nghẹn ngào trước những bản hoang sau trận bom tàn phá. Mấy cây cột nhà đen cháy đứng trơ trơ. Những nền nhà cỏ đã um lên. Nơi ấy bản đã hiến mình cho con đường xuyên qua, cho đường dây băng qua. Có lúc, ngay chính chúng tôi nằm trong tọa độ điên cuồng. Sau trận bom, giũ đất vùi gọi nhau đến lạc giọng. Đến khi bới nổi nhau lên thì ôm ghì nhau, rơi nước mắt. Có nơi, chúng tôi đến thì bom vừa rải thảm. Nhìn dòng suối lờ đờ cuốn trôi bao mái tóc của các cô thanh niên xung phong, lòng đắng lại không sao khóc nổi. Chiều qua, để nối lại một đoạn cáp đứt giữa sông Sen, đồng chí Dược của chúng tôi đã vấp mìn vướng giữa lúc lội sông tìm mối đứt và đã ra đi thầm lặng như bao thước dây đứt.

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005)

0 comments:

Đăng nhận xét