29.9.25

Xuyên Trường Sơn (2/6)

Cố nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha (1949-1925) – nguyên cán bộ Phòng Tuyên huấn Binh chủng

Tiếp phần 1/6

Một lần tôi cùng Việt và đại đội trưởng Lộc đi chữa dây qua suối La La. Vừa ra đường 9, một chiếc OV.10 rẹt qua, quấn lấy. Ba anh em chạy chữ chi dọc đường 9. Chiếc OV.10 bám riết. Vừa chạy, vừa thở, ba anh em nhảy ào vào một căn hầm ven đường, "pụp", một quả pháo bốc khói nghi ngút ngay tại đây. Chiếc OV.10 quay đi. Dày dạn kinh nghiệm, đại đội trưởng Lộc dắt chúng tôi ra  ngay:

- Phải mau chóng rút xa. Bê 57 đến ngay đấy.

Ba anh em nhanh nhẹn lách vào rừng le phía bắc đường. Chỉ vài phút sau, đã nghe bom ruỳnh ruỳnh mặt đất. Việt cười:

- Mẹ kiếp, thằng "OV mù" mách lẻo nhạy thật.

Mùa mưa bắt đầu đe dọa. Dưới đồng bằng, các lực lượng bộ binh kiên cường chốt Quảng Trị. Đường dây cũng ngày đêm phục vụ. Những phiên trực căng như đường đạn. Sau mỗi trận mưa nguồn, nước sông dâng nhanh. Tôi đã có ngày bì bõm suối khe đến trọng điểm Chà Lý nhận gạo, có chiều vượt dòng Xê Băng Hiên xiết dữ để lĩnh muối. Giữa lúc cuộc hành quân theo đường dây còn tiếp tục, tôi bị sốt. Không thể nằm lại được. Lính Trường Sơn sốt 39 độ hay 40 độ vẫn là thường. Tôi cắn răng bám theo anh em, chống lại từng thước dốc, chống lại từng con vắt, chống lại phút giây mềm yếu.

Anh em chặt cho tôi cây gậy chống khá chắc. Sau mỗi buổi hành quân, đồng đội len lỏi rừng tìm chất tươi cho tôi. Bữa thì nấm mối xào thịt hộp. Bữa thì cua đá nấu lá đay rừng. Tôi ốm thể xác mà tinh thần khỏe. Chẳng lúc nào tôi cô độc buồn chán. Thỉnh thoảng anh em lại đùa:

- Thế nào, liệu kỹ sư "chết" chưa?

Có anh em, tôi khó chết lắm. Đùm bọc lẫn nhau, chúng tôi đứng chân vững vàng trên Trường Sơn, ngay bên đường dây.

Một chiều, đang ngồi khỏa chân dưới suối, tôi thấy một đoàn cán bộ đi qua. Lát sau, Quý đến ghé tai:

- Đoàn tham mưu của Bộ và đoàn đến đấy. Chuyến này khảo sát tuyến mới nghe đâu lớn lắm anh ạ.

Chỉ tối hôm đó, chúng tôi nhận lệnh ngay. Nhiệm vụ của Trung đội 3 là cùng bộ phận khảo sát của đoàn khảo sát tuyến mới để xây dựng đường dây hiện đại xuyên Trường Sơn. Hai mũi đo đạc được hình thành từ Tiểu đội 7 và Tiểu đội 8 của Trung đội 3.

Sớm hôm sau, ra khỏi rừng chừng năm phút, chúng tôi vượt ngay một dốc tức thở. Vượt qua nhiều chặng dốc lắm vắt của một đường dây cũ được tận dụng làm đường dây mới, chúng tôi bươn lên chót vót đỉnh núi. Gió lồng lộng. Một cảm giác mới như men rượu bừng lên. Xa kia, qua nhấp nhô sóng núi, đồng bằng hiện mờ mờ một vệt nhiều màu. Giao tuyến với chân trời là biển xanh nhô cong. Bãi cát kẻ một vệt dày màu trắng và trong là màu xanh của cánh đồng. Gần nửa năm, tôi mới thấy đồng bằng. Có gì như sóng trào lên. Tất cả đoàn khảo sát im lặng dừng lại. Rồi lại đi như nhanh hơn qua khoảng rừng lộng gió.

Công việc đo đạc tiến hành chậm trễ vì tuyến quá dốc. Người phụ trách hướng tuyến là Hiệu, nhân viên kỹ thuật của đoàn bộ. Hiệu lành, ít nói. Đôi khi cười mỉm dễ thương. Làm được một đường dây, kỹ thuật tuy có hạn nhưng công sức thì vô giá. Chúng tôi thường đi sớm về muộn. Sào ngắm thì vót bằng nứa nên không sao thẳng được. Hăm hở ra đi thế mà qua mấy ngày, chúng tôi thấm mệt. Mũi đo của Tiểu đội 8 ở phía làng Chân Hinh đã phải cho người về tiếp tế gạo. Chúng tôi cũng chẳng còn bao nhiêu. Đành chia đôi vậy.

Trước mắt mũi đo đạc Tiểu đội 7 là đỉnh Động Long. Ngày thứ nhất đo được 500 mét thì trời sẩm tối. Ngày thứ hai đo được 400 mét thì trời sập mưa. Ngày thứ ba các dao quắm được mài sắc, nắm cơm phụ to hơn, bi đông đầy ắp nước. Chúng tôi quyết tâm chinh phục Động Long. Vào tuyến, chỉ nghỉ ngơi ít phút, cặp phát cây dầu băm bổ ngay. Những đường dao vun vút. Lách lau đổ ràn rạt. Qua hai trăm mét đầu vấp phải một bãi gai khá dài. Chơi "du kích" với loại cây này khá mệt. Đã hai cặp phát tuyến thay nhau, mà mũi đo vẫn chưa nhích là bao. Đến một vách đứng, nhân khe suối nhỏ, tiểu đội phó Đức ra lệnh nghỉ. "Thợ mài dao" Báo tranh thủ liếc dao lần nữa. Nửa tiếng sau chúng tôi tiếp tục mở đường. Hiệu vươn lên trước tìm hướng. Dao quắm lại vung lên, những bụi cây rũ xuống. Mồ hôi đầm đìa áo lính. Những bụi nứa bị chẻ toác hốc hoác. Xế chiều, sau khi chặt nốt một cây con, thấy đỉnh trời sáng ra trên đầu. Chúng tôi đã chiếm lĩnh Động Long. Cả bọn reo cười giữa cơn mưa bất thần ập đến. Tất cả hò nhau rút theo "con đường chuột chạy". Không quen đường, tôi tụt lại sau lúc nào không hay. Đến một chỗ, thấy mất tăm dấu vết, tôi hoang mang quá. Trên đầu, sấm dội ì ầm. Lưng trời chớp nháy nhì nhằng. Mưa quất chéo vào mặt. Mất phương hướng, tôi vạch lối chạy lung tung. Lo sợ quá, tôi cất tiếng gọi ầm ĩ, gọi khản giọng.Chẳng ai đáp lời tôi ngoài cái vách núi lạnh lùng trêu cợt. Người tôi rũ ra. Bao niềm vui vừa thoáng đến, rơi đâu mất. Bỗng tôi hụt hẫng. Tảng đất xốp đánh lừa tôi. Tôi trượt đi đến 200 mét. Lưng tôi đau dần. Đầu tôi ù lên, rối bời. Thà ra trận bắn thẳng kẻ thù cho bõ giận. Làm lính mà cứ chui rúc thế này, cực quá. Tức muốn khóc. Trời dần tối. Tôi hoang mang tột độ. Đã tính đến chuyện ôm bụng đói, ngủ rừng. Đến một khe cạn có bãi bằng, mùi ngai ngái khó chịu, tôi ngồi xuống định thần thì nghe tiếng gọi:

- Kh...a.... ơi! Ở đâu thì hú lên. Đứ...c đâ...y.

Mừng quá, tôi hú một hơi dài. Năm phút sau, Đức và Báo ập đến. Đức hổn hển:

- Ông định loay hoay đứng đấy cho hổ vồ à.

Tôi lạnh gáy chưa hiểu sao, Đức nhảy đến trước mặt:

- Ông có thấy vết chân hổ đầy ra đây không? Mình đi trước không để ý. Quay lại thì ông mất tăm. Mà ông rúc sao tài dữ. Lần theo vết đến mệt.

Cả hai phá lên cười khi nhìn tôi lấm láp. Đức vỗ vai:

- Lần sau bám sát nghe "nội". Mất "ông nội" chúng tôi hết hơi đấy, tuyến dốc quá, trên ra lệnh rút rồi.

Tôi vừa ngượng ngùng vừa băn khoăn. Tiếc công quá. Nhưng tuyến dốc thật. Để có một tuyến đường dây khá, đâu có dễ. Chỉ đổ sức ra chưa xong được. Tôi lững thững lê tấm thân đau dần theo Đức, Báo.

Mưa rừng lạ thật. Ào xuống đấy rồi lặng phắc ngay. Trăng non nhú lên. Trong một vũng nước đọng, trăng rơi vào ngơ ngác.

II

12 giờ ngày 23 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Paris được ký kết. Chúng tôi nhảy khỏi giường. Không ai ngủ trưa nữa. Tất cả vây quanh chiếc đài Li Đô. Tiếng người phát thanh viên như dòng suối ngọt ngào cứ chảy mãi vào không gian. Bài hát "Đường chúng ta đi" khơi lửa mãi trong rung cảm chúng tôi.

Về mặt chiến lược, hiệp định hạn chế đến mức tối thiểu sự có mặt của Mỹ trong giai đoạn mới. Để có một cú đấm quyết định cần chuẩn bị đầy đủ và khẩn trương. Dưới giáp ranh, ta giành giữ từng điểm chốt. Địch nhổ cờ cắm sang đất ta, ta đẩy lùi địch về vùng quy định. Trên Trường Sơn đã thuộc vùng giải phóng, các lực lượng hùng hậu của công binh, thanh niên xung phong thuộc Bộ tư lệnh Trường Sơn tràn ra mở đường. Đường 14 (tức đại lộ Hồ Chí Minh) được mở rộng hoàn thiện mặt bằng, nâng cấp. Cầu cống được làm mới hoàn chỉnh. Không còn bom đạn, các đoàn xe thả sức ra vào. Lốc bụi ùn lên suốt ngày đêm. Tiếng nói cười huyên náo. Những doanh trại mọc lên như phố xá hai bên đường. Chưa bao giờ, Trường Sơn đông vui đến thế.

Lấy trục đường 14 làm xương sống, chấp hành chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu, Bộ tư lệnh Thông tin định giao cho Đoàn Thông tin Lam Sơn kéo một đường dây chiến lược dây chiến lược mang tên là "Đường dây thống nhất" xuyên Trường Sơn. Đường dây này xây dựng bằng cột sắt hình U mang được nhiều đôi dây, truyền tải được nhiều đường tải ba.

Còn lại tôi, Phong, Tăng, Liêm được bổ sung về Tiểu ban kỹ thuật của Đoàn bộ. Với bốn chúng tôi, vị trí công tác bắt đầu thay đổi. Từ một anh lính thông tin, chúng tôi trở thành người trợ lý kỹ thuật của Đoàn. Phụ trách Tiểu ban kỹ thuật là anh Kim Quang Bàn. Anh Bàn cùng ra khóa 1971 như chúng tôi nhưng ở Trường Đại học Quân sự. Anh Bàn nhập ngũ 1963. Trước khi nhập ngũ, anh đã là cán bộ trung cấp thủy lợi. Vào bộ đội, anh công tác khá lâu ở đơn vị pháo mặt đất và đi học ở đấy. Chúng tôi chóng quen nhau. Ngoài năm kỹ sư, Tiểu ban kỹ thuật còn có mười cán bộ trung cấp, đã công tác tại Đoàn từ 1966 như Phan Nhật Sáng, từ 1968 như Quý, Quyết, Hiên, Huệ, Hưng, Sử, Đình, Bổng. Đấy là những đồng chí khá dày dạn kinh nghiệm. Sau khi thành lập hai tiểu đoàn, Tăng và Liêm được điều trở lại làm làm trợ lý kỹ thuật tiểu đoàn. Tiểu ban kỹ thuật chính thức còn ba kỹ sư và mười trung cấp. Tham mưu phó Trần Duy Hiệp và Tham mưu trưởng Đế Kim Tiêu cũng đều là kỹ sư. Lực lượng chưa nhiều nhưng thế cũng tạm ổn. Điều cần thiết nhất trong kỹ thuật là sự thống nhất phương pháp công tác thực tế.

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005) 

0 comments:

Đăng nhận xét