Đại tá Nguyễn Trọng Khoát – nguyên Hiệu trưởng Trường
Trung cấp Kỹ thuật Thông tin
Trường tổ chức Lễ kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập
(24/3/1967 - 24/3/1987) sau mấy nghìn ki-lô-mét di chuyển và những bước trưởng
thành vượt bậc với thành tích xuất sắc. Đúng là ngày hội đáng tự hào của Nhà
trường.
Đến dự có đồng chí Thiếu tướng Hoàng Niệm, Tư lệnh Binh
chủng, các phó tư lệnh, thủ trưởng một số cơ quan Bộ Quốc phòng. Đến dự còn có
đồng trí Trần Anh Vinh, Thứ trưởng Bộ Công nghiệp, đồng chí Giám đốc Công ty Than
Uông Bí, Lê Quân, Giám đốc Công ty Than Cẩm Phả và đại biểu các địa phương như
thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Bắc, huyện Kim Bảng (Hà Nam) cùng các đơn vị bạn.
Bắt đầu từ một mái nhà tranh ở thôn Phúc Thái, xã Danh
Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Hà Bắc với 4 đại đội mà nay là một cơ sở huấn luyện
với các giảng đường chuyên dùng, sân bãi tập gọn gàng, nhà ăn ở làm việc cho 4
tiểu đoàn học viên Việt và 1 tiểu đoàn học viên Bạn, cùng 7 khoa giáo viên và 1
xưởng trường, tuy còn khiêm tốn với mái tôn và nhà cấp 4.
Trong 20 năm, Trường đã mở 18 khóa với 180 lớp, cho ra
trường hơn 22.000 học viên trung cấp kỹ thuật, trên 400 lớp báo vụ, đài trưởng
với trên 15.000 học viên đi các chiến trường. Trường luôn đáp ứng theo yêu cầu
của các thời kỳ, học viên ra trường 100% đi nhận nhiệm vụ (kể cả đi B và các
chiến trường khác).
Trong ngày lễ hôm nay, các khối diễu binh lần lượt đi
qua lễ đài, dẫn đầu là khối giáo viên cán bộ, trong đó giáo viên tiếp sức đã
đưa xe máy đi phục vụ Sư đoàn 5 chiến đấu ở chiến trường K, có các giáo viên đã
lắp đặt tổng đài tự động 400 số cho mỏ than Vàng Danh... Tiếp sau là khối nữ học
viên nổi tiếp truyền thống các khóa trước đã đi nghiêm qua lễ đài Ba Đình kính chào
Bác Hồ và các vị lãnh tụ, hôm nay trong khối nữ còn chị em lớp “dân dụng” (đã
được BTL cho phép). Các khối đi hàng ngũ nghiêm chính, quân dung tươi tỉnh. Tiếp
theo là khối xe cơ giới gồm các loại xe máy thông tin từ nhỏ đến lớn. Những xe
qua chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, vẫn bảo đảm an toàn, qua hai chặng đường hơn
300km (từ Hà Bắc vào Vũng Tàu và ngược lại) hôm nay vẫn lăn bánh ngon lành qua
lễ đài.
20 năm qua Nhà trường luôn được sự giúp đỡ rất chân
tình của Đảng bộ, chính quyền và bà con địa phương: Quên sao được bao gia đình
đã thu hẹp chỗ ở để nhường cho bộ đội đóng quân. Chiến sỹ ta bị trái nắng trở
giời cảm cúm bà con nấu cho bát cháo, hớp nước. Kho tàng, sách bút, vũ khí... gửi
trong dân được trông nom chu đáo.
Chúng ta cảm thấy ấm áp khi ở trong nhân dân. Viết đến
đây tôi lại thấy trong lòng se lại vì sau khi về thành phố đã không quay lại
thăm bà con mà giờ đây nhiều người đã về với tiên tổ.
Học viên trường ta còn được các gia đình và bà con nhận
xét tốt nên nhiều người muốn gửi con vào đây học tập.
Các cán bộ giáo viên duy trì đều, có chất lượng các buổi
sinh hoạt, làm cho học viên quen nếp bộ đội, kỷ luật được giữ tốt.
Năm 1981, đóng ở Nha Trang cùng nhiều đơn vị ở đó, để
học viên trường tự giữ kỷ luật khi ra ngoài, quy định cả nam và nữ đều thêu ở
áo 3 chữ T.K.T (anh em gọi đùa “Túi không tiền”).
Lần đi lao động giúp dân ở Ninh Hòa, Đảng ủy đã thấy
được khó khăn thuận lợi nhưng quyết tâm làm tốt: Một vài học viên yếu để lao động
ở Trường. Khi được biết như vậy số học viên đó trực tiếp gặp Hiệu trưởng xin đi
lao động, không làm điều gì Trường phải phiền lòng.
Các đồng chí nghĩ thế là rất tốt, ở đâu cũng lao động
thôi. Tôi mong từ nay về sau các đồng chí luôn rèn luyện tốt để cùng đi lao động
và rèn luyện sau này.
Số học viên đó lúc ra trường đều khá.
Để chuẩn bị đi lao động, chúng tôi học tập bộ đội ta ở
Campuchia, trích in lời thề thứ 9 của QĐND, vào tờ bướm nhỏ dán ở mũ. Ở nhà
dân, mỗi nhà cử 1 nhóm trưởng, cơm chiều xong, bộ đội ở nhà đó ngồi quây lại
trao đổi: vại nước có đầy không? Nhà sạch? Hoa quả? Quan hệ gia đình? Mượn của
dân?
Kết quả bộ đội giữ kỷ luật rất nghiêm, bà con rất
khen. Đơn vị đưa máy chiếu phim xuống phục vụ bà con, các gia đình mang hoa quả
ra tặng bộ đội, anh em hỏi ý kiến.
- Cảm ơn bà con, để anh em nhận cho vui vẻ, nhưng phải
giữ vệ sinh bãi xem sạch sẽ.
Đợt lao động đó Trường đã giúp xã đắp được 1km mương
nông nghiệp nổi, lắp mạng loa phóng thanh được bà con rất hoan nghênh.
Đây không phải là lần đầu tiên đi giúp dân. Những năm
1970 - 1972, mùa nước năm nào tôi và anh Mai Ngọc Điễm, Phó Chính ủy cũng cùng bộ
đội xuống hộ đê sông Cầu phía trên dưới bến đò Đông Xuyên, những năm ở Vũng
Tàu, Trường đã đi bảo vệ bờ biển chống vượt biên trái phép, bảo vệ thành phố
khi đổi tiền và những lúc có điều kiện đặc biệt.
Sau buổi lễ, có trận đấu bóng chuyền của Đội nữ BTL với
đội Nhà trường.
Cán bộ giáo viên học viên công nhân viên Nhà trường ai
cũng vui mừng phấn khởi, đáng ghi nhớ trong đời bộ đội, ghi nhớ mãi chẳng thể nào
quên.
Thay cho lời kết.
Tôi đã gặp lại các thầy, các thủ trưởng và các bạn của
tôi trong 40 năm Binh chủng, 22 năm ở Trường Kỹ thuật với tấm lòng tràn đầy lưu
luyến và tự hào.
Tôi thắp hương nghiêng mình tưởng nhớ:
- Các thủ trưởng Lê Dung, Đào Văn Sửu (Hiệu trưởng),
Võ Thương (Chính ủy).
- Các phó chính ủy: Mai Ngọc Điểm, Nguyễn Văn Ngọ,
Nguyên Công Bông.
- Các phó hiệu trưởng: Phùng Văn A, Hồ Bắc, Lê Bài.
- Các thầy giáo Bùi Đức Huy, Hà Văn Bân.
- Tôi kính thăm các hiệu phó đang nghỉ tại địa phương
sức khỏe yếu như Lê Bá Tước, Lê Duy Hương và thầy giáo Ngô Xuân Lực...
- Tôi kính chúc sức khỏe và nhiều may mắn đến các thầy,
cô, cán bộ, công nhân viên Nhà trường đang nghỉ hưu ở địa phương và mong có dịp
gặp.
Những ngày sơ tán và di chuyển đã cho tôi thêm yêu quý
và kính trọng nhân dân ta ở các địa phương khác nhau những tấm lòng yêu thương bộ
đội đều rất thắm thiết và tôi cảm thấy có lỗi với bà con vì từ khi ra đi đã
không một lần quay về thăm lại. Ôi thời gian và sức khỏe!
Đất nước ngày nay đã khác, chiến tranh bây giờ không
giống ngày xưa, chuyện kể lại chỉ để “Mua vui may được một vài trống canh”!
Xin kính chào tạm biệt...
Hà Nội, ngày 09 tháng 9 năm 2016
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Chú Bếp Cương” NXB Hội Nhà văn 2016)
0 comments:
Đăng nhận xét