Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan, hội viên Chi hội Phòng
KHQS
Vào khoảng những năm 1960, ai đến đọc sách hay làm việc
tại Thư viện Quốc gia Hà Nội đều dễ nhận thấy một người đàn ông trạc tuổi năm
mươi, nếp sống mang đôi nét lập dị: lúc nào cũng đóng áo dài khi đen, khi trắng,
trên tay là một chiếc ô thâm đã bạc màu và chân luôn đi đôi guốc mộc.
Những đồng sự với người đàn ông ấy còn biết thêm về cuộc
sống rất đạm bạc vì những khó khăn gia đình của ông; cán bộ tổ chức thì biết
thêm rằng ông là một thân sĩ mới từ nước ngoài trở về năm 1957. Người hay đọc
sách thì biết ông là dịch giả cuốn sách "Bọn chính khách buôn bạc"
(Les chéquards) của Paul Tillard.
Riêng một vài đồng chí cách mạng lão thành hoặc lãnh đạo
cao cấp thì biết rõ rằng người đàn ông
này đã từng tham dự vào một trong những sự kiện lịch sử trọng đại nhất của dân
tộc...
Đó là ông Lê Văn Đản, sinh ngày 7-6-1907, tại làng Xuân
Thanh, Kim Sơn, Ninh Bình. Học hết tiểu học, ông lên Hà Nội học Trường Bảo hộ
(tức Trường Bưởi nổi tiếng). Năm 1923, vì tham gia bãi khóa bị đuổi học, ông về
quê mày mò học vô tuyến điện. Tháng 7-1926, ông xin làm báo vụ viên Đài vô tuyến
điện Bạch Mai (Hà Nội). Năm sau, Lê Văn Đản vào Sài Gòn làm trên tàu "Caravella"
của hãng Năm Sao chạy đường Hải Phòng - Hồng Kông - Thượng Hải. Chính trên tuyến
đường này Lê Văn Đản đã liên hệ được với những chiến sĩ cách mạng và thiết lập
một đường dây liên lạc của tổ chức cách mạng.
Tháng 5-1928, ông Đản đổi sang tàu "Lincoln"
của một hãng khác chạy đường Hải Phòng - Quảng Châu - Hồng Kông và tại đây ông
được gặp Nguyễn Lương Bằng, người đang có trách nhiệm xây dựng các tuyến liên lạc.
Theo sự bố trí của tổ chức, ông chuyển sang tàu "Liêm Châu" và được tổ
chức kết nạp vào "Thanh niên" (10-1929).
Từ đó, tàu "Liêm Châu" được giao nhiệm vụ
chính thức làm tàu liên lạc cho Tổng bộ tuyến Hải Phòng - Quảng Châu - Thượng Hải.
Tổ giao thông của Lê Văn Đản đã nhiều lần chuyển thư từ, báo chí, đưa đón cán bộ
đi, về an toàn. Gần cuối tháng 1-1930, Lê Văn Đản nhận nhiệm vụ đón Trịnh Đình
Cửu và Nguyễn Đức Cảnh xuống tàu.
Trên tàu "Liêm Châu", trong khoang của nhân
viên vô tuyến điện có một giường nằm, kê thêm một cái khung bàn, dưới có hai
ngăn kéo dài khoảng 1,2m, cao độ 1m. Nếu tháo đáy hai ngăn kéo ra, tạo nên một
chỗ ngồi thoải mái. Đấy chính là nơi Lê Văn Đản giấu đồng chí Trịnh Đình Cửu,
Bí thư Trung ương lâm thời và đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, ủy viên Trung ương đi Hồng
Kông họp thống nhất các tổ chức Đảng1. Ban ngày, hai đồng chí bó gối
ngồi trong hai ngăn kéo, cơm nước do hai thủy thủ được đồng chí Đản giác ngộ
mang tới. Đêm, sau 10 giờ được ra ngoài. Sở dĩ khoang báo vụ được an toàn vì
theo luật của tàu, buồng của ô-pê-ra-tơ (báo vụ viên) không được ai vào, trừ
thuyền trưởng...
Lần ấy, sau 48 giờ, từ Hải Phòng, tàu "Liêm
Châu" đã cập cảng Hồng Kông. Trên bờ đã có người của Tổng bộ xuống đón 2 đồng
chí về cơ sở2. Công việc hoàn thành tốt đẹp bí mật và chỉ có 3 người
biết: Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh và Lê Văn Đản.
Có lẽ vì thế mà năm 1958, khi trở về nước, công tác tại
Thư viện quốc gia, Lê Văn Đản đã có trao đổi với Lê Đình (tức Trịnh Đình Cửu) về
chuyến đi này. Hiện nay tại Kho Lưu trữ Trung ương Đảng còn có một giấy chứng
nhận như sau:
"Tôi, Trịnh Đình Cửu (cán bộ do Trung ương quản
lý) chứng nhận đồng chí Lê Văn Đản là cán bộ trong Ban Giao thông Trung ương của
Đảng Cộng sản Đông Dương. Đồng chí Đản làm ở tàu Liêm Châu (vô tuyến điện
viên), do đó đồng chí được giao nhiệm vụ làm giao thông liên lạc giữa Hải Phòng
và Hương Cảng 1929-1930.
Đầu năm 1930, Ban Giao thông liên lạc Trung ương giao
nhiệm vụ cho đồng chí Đản, chở bí mật tôi và Nguyễn Đức Cảnh (đại biểu của Đảng
Cộng sản Đông Dương) đi dự hội nghị hợp nhất ở Hương Cảng".
Tháng 4 năm 1930, vì có kẻ khai báo, Lê Văn Đản bị địch
bắt, bị tra tấn, nhưng do không có chứng cứ, chúng phải thả. Tháng 7 năm 1934,
trước cao trào cách mạng trong cả nước, thực dân Pháp lại bắt ông và đày ra Côn
Đảo. Tại nhà ngục trần gian này, ông đã gặp một số cán bộ Đảng cũng bị đày ở
đây như Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng...
Tháng 11 năm 1936, Lê Văn Đản được tha kèm theo một lệnh
trục xuất khỏi Bắc Kỳ, quê hương ông. Ông lại tiếp tục nghề trên tàu D'
Artagnan chạy đường Sài Gòn - Marseille. Ông gia nhập tổ chức các thủy thủ tại
Bouche du Rhône và tháng 2 năm 1938, đã tham gia Đảng Cộng sản Pháp. Năm 1941,
phát xít Đức chiếm Paris, Lê Văn Đản trở thành đội viên du kích, giao thông của
Đảng sản Pháp kháng chiến chống Đức... Từ năm 1945 cho đến 1956, ông vẫn tiếp tục
hoạt động trong chi bộ thủy thủ ở Pháp mặc đầu bị nhà cầm quyền Pháp nhiều lần
gây khó dễ, đàn áp...
Trở về nước năm 1957, Lê Văn Đản khiêm tốn nhận mọi
nhiệm vụ được giao. Ông có trao đổi những tâm sự của mình qua các bức thư gửi tới
các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước để phản ánh hiện trạng một số cán bộ địa
phương đã sa sút về phẩm chất, v.v...
Ông mất năm 1978. Trong những di vật để lại, ngoài những
trang bản thảo hồi ký, bản dịch... còn lẫn những kỷ vật của một thời hoạt động:
tấm danh thiếp của Marcel Cachin, Jacques Duclos, nguyên Tổng Bí thư ĐCS Pháp, của
Louis Molino, Thư ký Tổng Công đoàn Pháp, tấm thẻ thành viên Liên đoàn Quốc gia
yêu nước chống phát xít, v.v... Nhưng với những đóng góp của ông vào sự kiện
mùa xuân 1930, hội nghị hợp nhất Đảng thì nay chỉ còn lại những dòng ghi của những
người đồng chí cũng đã khuất, lẫn trong những bề bộn của các kho lưu trữ. Ai sẽ
là người nhắc tới những việc làm của ông. Dù chỉ nhỏ bé như một giọt nước thì
biển cả chẳng phải là có từ muôn vàn những giọt nước ấy?
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Giao thông – Thông tin –
Liên lạc”. NXB Lao Động 1997)
..................................................
1 Hồ sơ số
T0/1 của Bảo tàng lưu niệm Trần Phú do Đặng Xuân Thiều chú thích ngày
22-12-1959.
2 Lê Văn Đản.
Hồi ký, bản chép tay, bản lưu của gia đình. Dẫn theo Nguyễn Trọng Cổn.