12.12.24

Được làm người lính thợ

 Thân Văn Tình - nguyên Bí thư Đảng ủy Nhà máy Z755

Anh Nam được sinh ra ngày đầu cách mạng thành công 1945, trong gia đình nông dân nghèo đã từng bị giai cấp thống trị áp bức bóc lột. Cuộc đời cùng cực, lớn lên trong vùng quê miền Trung nắng dãi mưa dầu, gió Lào rát lưng nhưng giàu truyền thống cách mạng, nhiều sĩ phu yêu nước đến các vị lãnh đạo lão thành xuất sắc. Trong những ngày kháng chiến, bộ đội về làng súng to, súng nhỏ cậu bé mê vũ khí lắm, tâm nguyện lớn lên ráng học giỏi làm thợ sửa chữa, sản xuất vũ khí cho bộ đội đánh giặc Pháp xâm lược. Năm 1961, thi vào Trường Kỹ thuật I Hà Nội. Năm 1964, ra trường với tấm bằng loại giỏi.

Tháng 8 năm 1964, Mỹ mở rộng chiến tranh cục bộ đánh phá ác liệt miền Bắc và đưa quân ồ ạt vào miền Nam. Vận nước đã đến, mỗi thanh niên ngày ấy lòng sục sôi căm thù địch đã dã man dùng B52, F4 thần sấm, con ma rải bom giết hại đồng bào ta. Nam chích máu làm đơn xin tòng quân giết giặc. Ngày 24 tháng 2 năm 1965, Nam được gọi vào Trung đoàn 36 f308. Lòng tràn ngập vui sướng, Nam quyết tâm phấn đấu rèn luyện và đạt được kết quả cao nhất trong hành quân, bắn đạn thật, trở thành chiến sĩ giỏi toàn diện. Đến tháng 8 năm 1966, anh được điều về nhà máy thông tin M1. Từ đây, anh trở thành người lính thợ. Đúng với nguyện vọng những năm còn nhỏ, anh luôn tích cực, chủ động, sáng tạo trong công việc và học tập kinh nghiệm của những người đi trước. Do vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, anh đã nắm vững được chuyên môn kỹ thuật và luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ. Anh trực tiếp tham gia cải tiến thành công các máy thông tin hệ II thay hệ I và nghiên cứu công nghệ trong đại tu máy thông tin PRC-25, P105.

Anh là một người thợ giỏi, một kỹ sư có năng lực, một cán bộ phong trào trào tốt và là một tấm gương sáng cho mọi người học tập.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”)

Ngồi nhầm toa con mọn

Thượng úy Phạm Khắc Vinh - cán bộ Phòng Chính trị Bộ tư lệnh Thông tin

Toa này rộng,

Nào ngờ "Con mọn"

Ghi bảng con con.

 

Là lính, cứ vui, cứ ca, cứ nhộn

"Suỵt! Các em ngủ chú ơi!”

Yên lặng sáng sao

Mênh mông gió gọi

Ếch nhái vô tư hát ca sôi nổi

Chú cuội từ trăng say chuyện cười

Xa xa chớp cong chân trời

Đôi môi bé cong dấu hỏi.

 

(Tàu khựng, bom rơi

Trong tôi cháu bé

Nhoáng nhoàng chớp lóe

Khóc òa tiếng trẻ

Thình thịch ngực tôi...)

 

Nhịp thình thịch bây giờ vẫn nhớ

Lính không nhỏ, vậy mà con mọn

Con tàu dài níu tuổi thơ

Đêm đi hành quân thế đấy

Chọn

Vần

Máu chảy

Vai tôi...

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”) 

Người thương binh chưa có huân chương

Đặng Trường Lưu

Gần như cùng một lúc chúng tôi nhận ra nhau trước cổng cơ quan Bộ tư lệnh: "Thàng"". Anh sững lại, tay buông chiếc đòn gánh xuống mặt đường. Chúng tôi lao vào nhau trước bao cặp mắt các sĩ quan quân đội, các vị đại biểu ngực đeo đầy các loại huân chương trong buổi sáng ngày kỷ niệm 55 năm truyền thống Bộ đội Thông tin liên lạc.

Thàng ôm ghì lấy tôi không biết đến bao giờ, nếu không có một giọng phụ nữ gọi anh. Khi anh buông khỏi tôi, khuôn mặt già nua đã đầm đìa nước mắt. Thàng khoát tay giới thiệu vợ anh với tôi bằng một câu gọn lỏn: "Người cứu mình đấy!". Tôi gật đầu chào chị - người phụ nữ Tà Ôi, da ngăm đen mà ngót 30 năm trước, tôi đã một lần nhìn thấy, khi chị cũng trên lưng đồng đội bị thương trả về cho chúng tôi, mệt mỏi, kiệt quệ là thế mà đôi mắt luôn nhìn xuống kia của em vẫn ánh lên cái nhìn thăm thẳm như dòng sông Sê Xa Mu ngày nắng. Phải! Thấm thoát mấy chục năm rồi!

Ngày ấy tôi được bổ sung về một tổ canh dây tuyến đường ngang Sê Xa Mu, từ trục thông tin chiến lược về Đông Châu, nơi mà mãi sau này chúng tôi được biết là vị trí sở chỉ huy chiến dịch của ta. Nhiệm vụ của chúng tôi phải giữ gìn, bảo vệ đường dây thông tin liên lạc trong mọi tình huống. Tổ có ba người do Thàng phụ trách, đảm nhận đoạn đường gần chục kilômét qua đèo cao, vực sâu của miền Quảng Trị. Có lẽ không cần phải nói nhiều về mức độ ác liệt mà quân thù dành cho mảnh đất Trị - Thiên trong suốt cuộc chiến tranh này. Ngay từ đầu tháng 2 năm 1971, đánh hơi thấy việc ta sẽ mở chiến dịch lớn, địch tập trung lực lượng chủ yếu là pháo binh và không quân, hòng "đập nát cuống họng hành lang chiến lược" của ta. Sau những trận bom cày đi xới lại, suốt hai miền Trường Sơn bất kể là ngày hay đêm, mỗi lần chui ra khỏi đất chúng tôi ngầm hỏi "Còn ư?". Vâng! Không biết đã bao lần anh em chúng tôi đã bật lên thành lời, đã nuốt vào tâm khảm cái câu hỏi lẽ ra đừng nên có ấy. Chỉ biết rằng đằng sau câu hỏi là tiếng chuông máy lẻ giòn tan báo thông tin liên lạc - máu vẫn về tim.

Càng gần ngày mở màn chiến dịch, địch càng điên cuồng bắn phá có ngày hàng trăm lần chiếc B52 trút bom rải thảm. Trực thăng Mỹ đổ quân xuống cắt đường dây liên lạc. Mỗi buổi chiều, sau khi cử đồng chí Khuông ở nhà trực máy, Thàng cùng tôi đi khảo sát tuyến mới, rải dây vòng khe núi, hiểm trở hơn nhưng lại an toàn. Trời vừa nhập nhoạng tối thì chúng tôi gặp địch: Một tiểu đội thám báo đang lùng sục, hung hăng nổ súng trước với hàng loạt đạn tiểu liên cực nhanh. Thàng quyết định vừa bắn trả vừa nhử chúng đuổi theo, đánh lạc hướng tránh xa đường dây. Rồi bóng tối ập xuống. Tiếng súng cũng thưa dần. Chúng tôi lạc nhau. Tôi tìm được đường về thì trời đã gần sáng. Những ngày tiếp đó, hai đứa chúng tôi vẫn giữ thông tin liên lạc, vừa phải thay nhau vào rừng tìm bạn. Năm ngày sau Thàng trở về trên lưng một cô gái Tà Ôi. Hai người khuỵu xuống như một thân cây đổ, áo quần, tóc tai bơ phờ, rũ rượi. Chúng tôi mếu máo nhìn họ, hết cười lại khóc. Cô gái chỉ biết duy nhất một tiếng "Bác Hồ" ngượng nghịu khi tôi đưa chiếc khăn tay màu cỏ úa và bị đông nước, ra hiệu cho cô rửa mặt. Cô nhìn tôi bằng đôi mắt thăm thẳm Sê Xa Mu ấy, để mấy chục sau, giữa lòng Hà Nội tôi còn nhận ra dù đã nhạt nhòa.

Thì ra trong lúc vừa nổ súng vừa nhử giặc đuổi theo để giữ an toàn tọa độ đường dây, Thàng trúng đạn, vết thương ở đùi kéo anh vật xuống và kẹt lại trong khe đá. May thay một cô gái đi tìm củ mài đã cứu được anh. Viên đạn chỉ xé phần mềm, cô tìm lá rịt vết thương, rồi khi dìu khi cõng, suốt mấy ngày đêm bươn bả, đưa anh về với chúng tôi. Sau khi tự ý đi tìm một bọc to đúng các loại lá thuốc dành chữa vết thương cho Thàng, cô quầy quậy ra hiệu chỉ tay lên núi đòi về, rồi cô lẳng lặng biến mất.

Chiến dịch tổng tiến công năm 1972 thắng lợi với việc ta giải phóng Quảng Trị. Những đường dây dã chiến được thu hồi. Chúng tôi mỗi người mỗi ngả. Tôi được gọi về miền Bắc nhận nhiệm vụ khác, còn Thàng và Khuông được điều về trung đoàn mới.

Chiến tranh chấm dứt. Những người lính hoàn thành nghĩa vụ vẻ vang của mình với Tổ quốc, ai cũng khao khát và vội vã trở về với gia đình, làm nhiệm vụ của người con, người chồng, sau bao năm vắng bóng. Thàng cũng như thế. Trước niềm vui lớn lao ấy anh không thể kiên nhẫn để chờ đợi có đủ các loại giấy tờ chứng nhận công trạng. Cái vết thương ở đùi, to bằng trên bát, da non đỏ bóng, đã quên nhắc anh phải tới quân y viện để giám định thương tật. Vả lại trái tim anh còn đang thôi thúc về với cô gái Tà Ôi đã cứu anh năm nào. Hai người trở thành vợ chồng, cùng dìu dắt nhau về sống ở quê anh bên bờ con sông Đà hung dữ.

Rồi lũ sông Đà bất ngờ nổi lên cuốn đi nếp nhà mà vợ chồng anh vừa dựng. Rồi Nhà máy thủy điện Hòa Bình khởi công, nơi anh ở biến thành lòng hồ chứa nước. Vợ chồng anh được nhận vào làm công nhân xây dựng. Những ngày tháng hào hùng ấy rồi cũng qua đi. Khi dòng điện sông Đà tỏa sáng cũng là lúc phần lớn những người công nhân lại lên đường về phía bao công trình mới. Vợ chồng Thàng không đủ sức đi tiếp. Họ ở lại trong phần lán của mình với những gốc sắn, gốc chè trồng quanh trồng quẩn. Đứa con muộn mằn khi bệnh tật của tuổi tác, của chính cái vết thương ngỡ ở phần mềm vô sự ấy bắt đầu hành hạ. Vợ anh, người đàn bà chỉ biết có nương rẫy và sương gió Trường Sơn, rồi cũng học được cái đôn đáo, tháo vát của người Kinh, của người công nhân công trường khi không còn việc làm. Dãy lán tạm của các gia đình công nhân giờ trở thành mặt ngõ. Chị mở quán cho anh ngồi bán nước, thuốc lá cùng những hàng tạp hóa rẻ tiền. Tưởng thế đã yên phận. Nào ngờ, quy hoạch mới chỉ cho phép một số hộ ở lại, còn phần lớn phải chuyển lên nhà tầng ở nơi khác. Ai sẽ được ở lại chính nơi mình đang ở, tất cả phụ thuộc vào cuộc họp xét duyệt của hội đồng theo phương thức cộng điểm, gồm năm tháng phục vụ, huân huy chương và xếp loại thương tật...

Bây giờ thì Thàng mới ớ ra. Tất cả giấy tờ chứng nhận có thể cứu cánh cho gia đình anh lúc này lẽ ra phải có thì anh không có. Một vài loại giấy tờ khác khi trở về địa phương cũng đã theo nước lũ sông Đà mà ra biển. Anh cứ ngồi như thế mà xỉ vả mình trước cái nhìn lẳng lặng của vợ, trong tiếng khóc ậm ọe của đứa con vừa cai sữa.

Tìm đâu ra những tờ giấy ấy? Ai có thể chứng nhận cho anh lúc này, ngoài người vợ yêu quý? Ngày ấy, ai có thể ngờ được những giấy nọ tờ kia mấy chục năm sau sẽ là địa vị, là cơm áo, là tất cả! Trung đoàn cũ đã giải thể từ lâu. Đồng đội ai còn ai mất? Và lại là chiến sĩ ở một tổ canh dây giữa rừng thời giặc giã, lấy đâu ra các mối quan hệ mà nhờ cậy. Anh chỉ chỉ có thể nhớ tên thủ trưởng trực tiếp của mình, nhưng hình như anh mới chỉ gặp một hai lần gì đó, và bây giờ họ đang ở đâu? Hạn nộp các giấy tờ chứng nhận để được ưu tiên sắp hết thì đầu anh lóe lên một tia hy vọng. Anh quyết định gọi con, rồi cùng vợ hai đầu đòn gánh là hai bọc quần áo, là bọc sắn củ làm lương ăn dọc đường xuôi về Hà Nội, tìm đến cơ quan Bộ tư lệnh Binh chủng, mong gặp được người quen. Họ đứng nem nép bên tường nhà bảo tàng, dõi theo từng người qua lại, và họ đã gặp tôi.

Câu chuyện dài thế nhưng Thàng kể cho tôi nghe chỉ trong mấy phút. Chúng tôi nhìn nhau nước mắt chan hòa. Đôi mắt Tà Ôi xinh đẹp của vợ anh cũng đang ầng ẫng nước. Tôi để họ ngồi trong buồng khách giữa buổi sáng ngày đại lễ, với ngàn ngạt xe, ngàn ngạt người cùng huân chương đỏ ối. Tôi chạy thống tháo đi tìm những cán bộ của trung đoàn cũ và cơ quan chức năng để giúp vợ chồng anh có được một tờ giấy xác nhận đúng là anh cùng những gì anh đang có.

Tôi đưa vợ chồng Thàng ra bến cho kịp chuyến xe về thị xã Hòa Bình. Tờ giấy xác nhận mà anh run run cầm trong tay rồi đút sâu vào ngực áo, phải được đặt trên bàn làm việc của hội đồng xét duyệt trước hai giờ chiều. Dọc đường về và cả khi đã ngồi vào hàng ghế hội trường trong buổi lễ long trọng kỷ niệm Ngày Truyền thống Binh chủng, giữa tiếng vỗ tay ràn rạt sau những diễn văn và lời chúc, tôi cứ cầu mong cho cái giấy chứng nhận kia, đủ sức mạnh giúp vợ chồng Thàng có thêm vài điểm, dù vẫn biết rằng còn bao nhiêu đồng đội, chiến tranh đi qua mấy chục năm rồi, vẫn đang âm thầm chịu đựng nỗi đau mất mát, bệnh tật mà chẳng thứ giấy tờ nào có thể bù đắp xoa dịu.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”) 

Ảnh Bác Hồ trên điểm cao 409

Đặng Trường Lưu - hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam

Tôi đã từng được dự nhiều cuộc kỷ niệm ngày sinh Bác Hồ - vị lãnh tụ vĩ đại, người Cha già kính yêu của dân tộc. Mỗi cuộc kỷ niệm ở mỗi nơi với nhiều hình thức khác nhau nhưng lần nào cũng xúc động khiến lòng tôi rưng rưng nhớ mãi. Câu chuyện nhỏ mà tôi sắp kể với các bạn xảy ra đã hơn ba chục năm rồi. Ấy là lần kỷ niệm cuối cùng khi Người còn sống. Bởi vì, không ai biết rằng, chỉ hơn 3 tháng sau, Bác của chúng ta ra đi vĩnh viễn.

Dạo ấy, chúng tôi đón một cái Tết hân hoan đầy ý nghĩa giữa rừng Lào bởi những lời ngợi khen chân tình và sâu sắc từ thư của Bác Hồ gửi bộ đội thông tin liên lạc. Trung đoàn chúng tôi, một đơn vị có nhiệm vụ chuyên xây dựng đường dây thông tin chiến lược của Bộ, nhận lệnh cấp tốc hành quân trở ra để xây dựng một đường dây mới, tương đối hiện đại với những hàng cột sắt từ A60 đến A70. Đây là tuyến đường hiểm trở và quan trọng như xương sống của cơ thể miền Trung, đòi hỏi việc thực hiện phải khẩn trương, kín đáo và kỹ thuật cao, đáp ứng được mọi tình huống liên lạc, đề phòng giặc Mỹ có thể điên cuồng trở lại đánh phá miền Bắc. Đại đội 6 của tôi, trong những ngày này, đang bừng bừng khí thế phấn đấu được Nhà nước phong danh hiệu cao quý: "Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân". Lá cờ thưởng luân lưu của Ban Chấp hành Trung ương Đảng trao cho quân đội, quân đội trao cho Binh chủng Thông tin. Binh chủng lại trao cho trung đoàn chúng tôi, đơn vị mũi nhọn chịu nhiều gian khổ hy sinh tại chiến trường cho chiến dịch tổng tấn công Mậu Thân năm 1968, và Đại đội 6 của tôi nhận lấy vinh dự phải giữ bằng được lá cờ vẻ vang ấy.

Nhiệm vụ lập tức triển khai. Sau khi phát rừng mở tuyến, chúng tôi vận chuyển bệ xi măng, cột sắt cùng xà gồ, tích sứ và dây kim loại vào từng cột mốc trên đôi vai của mình. Cứ bốn người khiêng một bệ xi măng, hai người khiêng một cột sắt. Ngày lại ngày dưới trời nắng tháng tư như thiêu như đốt, chúng tôi cần cù và hối hả vận chuyển vật liệu, lấp dần từng khoảng cột với nỗi niềm đã kết thành ý chí "Quyết giữ cờ Đảng".

Điểm cao 409 nằm trong dãy núi trập trùng của huyện Tuyên Hóa - Quảng Bình, nối liền với dải Trường Sơn, là đoạn tuyến cuối cùng của Đại đội 6, cũng là đoạn đường hiểm trở nhất. Từ chân lên đỉnh, quãng đường dài 3km ấy lúc chênh vênh bên sườn đồi cháy nắng, lúc hun hút lao xuống vực thẳm, khi vượt lên dựng đứng như bức tường thành. Những người lính từng kéo đường dây lên Tây Bắc hay len lỏi trong rừng già Trường Sơn, phục vụ vụ thông tin liên lạc cho chiến dịch tổng tấn công Mậu Thân ở Huế như chúng tôi, sau mỗi ngày phát cây mở tuyến trở về, ai cũng phải "lắc đầu lè lưỡi" với đoạn đường có một không hai này, chính vậy mà từ mấy ngày trước, ban chỉ huy đại đội đã họp cùng anh em bàn cách chinh phục. Và chiến dịch đột kích điểm cao 409 được phát động vào đúng ngày 19 tháng 5, lấy thành tích thiết thực chào mừng ngày sinh của Bác.

Hãy thử hình dung bốn người khiêng một bệ xi măng gần 2 tạ với những đòn tre, quang sắt nhùng nhằng, thận trọng nhích từng bước trên đoạn đường như chiếc thang dựng đứng. Hãy thử hình dung một cây cột sắt chữ T dài 6 mét, hai người khiêng trên dốc đèo ngoằn ngoèo như ruột lợn... Cố thử hình dung bao nỗi nhọc nhằn dưới nắng lửa mưa tuôn như thế mới hiểu được phần nào cái niềm vui dâng trào tột đỉnh của người chiến sĩ, khi những khối vật liệu nặng nề câm lặng kia được đưa an toàn vào nơi quy định, để rồi lắp đặt, dựng chúng lên căng thành con đường liên lạc, để tiếng nói Bác Hồ mệnh lệnh của Đảng, của Tổng tư lệnh truyền tới chiến trường qua bao tín hiệu trầm bổng ngày đêm ca hát.

Suốt 4 tiếng đồng hồ, kể từ lúc mở màn trận đột kích, chúng tôi bươn bải giữa nắng lửa, với đèo cao. Lần lượt những khối xi măng, những cột nữa mới đến được mốc số 140, cột mốc cuối cùng nằm trên đỉnh đồi 409, đồng chí cùng khiêng cột sắt với Vi Quang Mướng trượt chân ngã trẹo xương bánh chè.

Cây cột suýt đè ngang người Mướng anh đau đớn nghiến răng trèo trẹo, rồi bình tĩnh quay ngang đầu cột, từ từ đặt xuống.

Mướng là một thanh niên khỏe mạnh, người dân tộc miền Sơn Đông, Bắc Giang. Vào bộ đội, anh chưa hề biết chữ. Đại đội cử người tìm sách dạy cho anh học, đến nay đã học xong chương trình lớp bốn. Ở đại đội, anh em gọi Mướng là "danh thủ chuyển vận". Đường dốc không thể gánh, anh buộc 12 thanh một bó và gùi đi, trong khi chỉ tiêu đơn vị giao cho mỗi lần chỉ khoảng 6 đến 8 xà. 12 xà gỗ trên lưng và một thanh xà dùng thay gậy chống. Chỉ tiêu hai người khiêng một cột sắt, mình anh chuyển 9 cột vượt quy định 6 cột mỗi ngày. Mướng là một người ít nói, hay cười, có nhiều mơ ước, hôm vượt sông An An Châu về huyện lỵ nhập ngũ, được vào bộ đội Binh chủng Thông tin, hành quân qua thủ đô Hà Nội, anh cứ mong có một ngày được đến Ba Đình ngắm vào nhà Bác... Ngồi nghỉ một lát, biết đội hình vận chuyển đại đội không thể có người bổ sung, anh quyết định một mình vác cột nhích dần lên đỉnh.

Khi chúng tôi cùng chính trị phó đại đội Vũ Đức Thanh khiêng bệ xi măng đến điểm cao 409 thì mặt trời đã lặn vào khe núi. Tiếng reo chiến thắng của anh em truyền từ đỉnh xuống chân đồi, rồi cứ thế truyền đi truyền lại, âm vang như sóng dội vào vách đá. Vi Quang Mướng nằm đó, ngất xỉu bên cây cột sắt còn vương hơi nóng, chúng tôi nhìn thấy ảnh Bác Hồ to bằng bàn tay, hẳn đã được cắt ra từ cuốn sổ phần thưởng, và dưới tấm ảnh Bác Hồ mỉm cười đôn hậu ấy, một dòng chữ bằng máu được viết bằng đầu tăm tre, nét chữ ngả nghiêng cứng đờ của một bàn tay chai sạn, ấy là thứ chữ của người vừa được học, dòng chữ viết rằng "Cháu tên là Mướng, Bác Hồ ơi!".

Thảo nào đêm qua, cả tiểu đội nhắc nhau ngủ sớm để lấy sức cho ngày thi đua lập công mừng ngày sinh nhật Bác, chúng tôi thấy Mướng cứ hì hụi mãi trong màn, dưới ánh đèn dầu tù mù, làm một việc gì đó có vẻ bí mật, mà mãi đến lúc này chúng tôi mới hiểu.

Rồi Mướng tỉnh dậy, cùng chúng tôi đứng lên hướng về phương Bắc những người lính áo quần sũng nặng mồ hôi, khuôn mặt đen nhẻm tràn trề nước mắt - ấy là những giọt nước mắt của niềm vui. Chúng tôi muốn thưa cùng Người chút thành tích vừa cùng nhau lập được trong ngày, thầm mong Người luôn luôn mạnh khoẻ. Chúng tôi nào có biết rằng chính lúc này đây người đang nằm trên giường bệnh và chỉ hơn ba tháng sau, Người không còn nữa. Ngày trung đoàn bàn giao tuyến đường dây quan trọng bên bờ sông Choóc - Quảng Bình để lại quân vào mặt trận, cũng là ngày Bác Hồ vĩnh biệt chúng ta.

Năm tháng qua đi, nhiều đồng đội của chúng tôi trong đó có Vi Quang Mướng đã ngã xuống ở mặt trận Tây Nguyên, khi các anh được lệnh chuyển về tăng cường cho lực lượng thông tin tỉnh đội. Tấm ảnh Bác Hồ có dòng chữ được viết bằng máu của Mướng được anh em gửi về nhà truyền thống từ buổi chiều đáng nhớ ấy, nay cũng chẳng còn, và rồi, nhiệm vụ mới của thông tin thời bình đã không cho phép trung đoàn chúng tôi tồn tại nữa, anh em lại tản ra mỗi người về một đơn vị trong binh chủng của âm thanh nghĩa tình khoan nhặt.

Tháng 5-2002

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”) 

11.12.24

Chiếc tải ba đầu tiên của Quân khu 5

Đại úy Đặng Minh Trí - kỹ sư vô tuyến điện, nguyên Trưởng kho Xưởng Viễn thông Long Bình Lữ đoàn 596

Đối với chiếc tải ba TCT bằng bán dẫn của Hung-ga-ri thì các kỹ sư tải ba hoặc thấp hơn là trung cấp hoặc sơ cấp tải ba được Bộ tư lệnh đào tạo vào thời điểm năm 1972 thì không có gì là mới mẻ. Sự thật chiếc tải ba TCT mà Bộ tư lệnh Thông tin gửi vào lại trùng khớp với chiến dịch mà Quân khu 5 đánh vào huyện lỵ Quế Sơn - Tiên Phước và lần đầu tiên Quân khu 5 sử dụng pháo 130 ly và xe tăng. Ba vỏ đạn pháo đầu tiên bắn trúng đích căn cứ mở màn cho chiến dịch đã được đồng chí Chương Mẫn Tư lệnh trưởng Quân khu 5 yêu cầu giữ lại ghi dấu chiến tích và nó hiện vẫn còn lưu giữ tại Bảo tàng Quân đội ở Quảng Nam. Thế thì vì sao chúng ta không kể lại và ghi dấu chiến tích của chiếc tải ba đã giúp cho đồng chí Tư lệnh Quân khu 5 ra lệnh trực tiếp đến Tiểu đoàn pháo 130 ly chứ chiếc tải ba là những sự kiện đáng nhớ đáng kể ra để các bạn tham khảo. Lúc đó tôi đang ở Bình Định cùng với phòng thông tin Quân khu 5 tổ chức bảo đảm thông tin cho chiến dịch giải phóng ba huyện phía bắc của tỉnh Bình Định do Sư đoàn 3 Quân khu 5 và quân dân tỉnh Bình Định tiến hành. Ba ngày sau khi chiến dịch giải phóng ba huyện thắng lợi thì tôi nhận được bức điện của đồng chí trưởng phòng thông tin Quân khu 5 với nội dung "Đồng chí ra ngay quân khu để triển khai mạng tải ba".

Tôi hết sức vui mừng vì sắp hết thời cho việc dùng bộ khuếch đại âm tần để kéo dài đường dây hữu tuyến mà chỉ có thể liên lạc một chiều. Điều này hết sức phiền lòng các đồng chí tư lệnh vì chỉ một người nói người kia nghe, không nói chen ngang được. Nhưng tôi lại hết sức lo lắng là tôi gần như không biết gì về tải ba.

Nhận được điện, tôi không biết sẽ dùng tải ba gì. Tôi đoán chắc là tải ba bán dẫn TCT mà một lần tôi được kỹ sư tải ba giới thiệu qua sơ đồ khối cho cán bộ trong phòng kỹ thuật biết về một loại máy mới sắp trang bị. Sự việc đó đã cách 4 năm rồi. Giờ đây tôi đang cố nhớ lại sơ đồ khối đó. Trong đầu tôi lúc đó chỉ còn nhớ hai khối: khối mạch vào có mạch cần phân chia tần số thu, phát và sóng mang. Khối dao động sóng mang là gay go nhất mà tôi không giải đáp được. Liên hệ với nguyên lý của vô tuyến điện cũng có sóng mang là để điều tần hoặc điều biên. Tôi còn nhớ sóng mang của tải ba TCT chỉ là 6kHz hoặc 13kHz thì không thể điều tần hoặc điều biên được.

Các bạn có tin rằng, đến ngày thứ chín tôi mới khẳng định được sóng mang mà tải ba và tần số dùng để cộng và trừ dải âm tần để cho ra tần số thu và phát cách biệt nhau để liên lạc hai chiều không? Các bạn có thể cho tôi là anh dốt nát về tải ba. Điều đó tôi không có gì phản đối nhưng tôi lại tự lý luận là người đang tự phát minh ra máy tải ba đấy. Đến ngày thứ mười thì tôi vẽ ra số khối của tải ba và tạm bằng lòng về nó và chính vì "Phát minh ra máy tải ba" đó, tôi đi một mạch không nghỉ 15 ngày từ Bình Định về đến Xưởng Thông tin Quân khu 5 mà lần vào tôi phải đi 19 ngày. Về đến xưởng tôi hỏi ngay về chiếc tải ba.

Đồng chí Nguyễn Văn Toàn trung cấp vô tuyến điện tổ trưởng kỹ thuật của xưởng nói với tôi "Em đầu hàng, trên máy đều dùng tiếng nước ngoài, quyển thuyết minh cũng dùng tiếng nước ngoài không có sơ đồ nguyên lý".

Tôi hỏi máy tải ba gì? Đúng như tôi dự đoán đó là máy TCT 1 và 2.

Tôi nói với Toàn: "Trên đường đi tôi hình dung ra sơ đồ khối" và tôi đã đưa cho Toàn sơ đồ khối và giải thích cho Toàn.

Toàn nói: "Như vậy thì đơn giản, em nghĩ không ra".

"Thì tôi có nghĩ ra đâu phải mười ngày sau mới vẽ ra được".

Ngày hôm sau tôi nói với Toàn: "Đem máy ra nghiên cứu". Rất may các chữ trên máy là tiếng Pháp, với vốn tiếng Pháp học được thời Pháp thuộc (lúc đó tôi học đến đệ lục) tôi vừa đoán vừa dịch ra tiếng Việt. Chúng tôi mầy mò dần sử dụng được. Tôi nói cần hai máy vừa nói truyền tiếp được thông qua chế độ 4 dây.

Tôi điện về Quân khu 5 xin cấp thêm 2 máy nữa, phòng thông tin Quân khu 5 đồng ý. Tôi mời một số cán bộ chủ chốt họp để triển khai. Ngoài tôi và đồng chí Toàn còn có đồng chí Phan Văn Quý phụ trách lớp học cơ động sơ cấp vô tuyến điện 40 học viên, đồng chí Phạm Hồng Vương phụ trách kho và vật tư. "Hiện đồng chí Vương làm Viện trưởng Viện kiểm sát thành phố Hà Nội", đồng chí Phạm Đăng Dần tổ cấp vô tuyến điện trưởng xưởng vô tuyến điện. Đồng chí Dần là cán bộ duy nhất còn lại lúc đồng chí Ngô Lê Tân là anh hùng quân đội làm xưởng trưởng. Đồng chí Dần sửa chữa rất giỏi và là một kho kinh nghiệm về sửa chữa máy thông tin ở chiến trường Quân khu 5.

Mở đầu tôi nói "Phòng thông tin Quân khu 5 giao triển khai mạng tải ba cho chúng tôi cũng có nghĩa là giao nhiệm vụ huấn luyện cho cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 2 thông tin Quân khu 5 để triển khai mạng tải ba cho chiến dịch sắp tới. Điều đó cũng có nghĩa chúng ta phải đào tạo thợ để bảo đảm kỹ thuật. Đội trưởng đào tạo chính là cán bộ chúng ta và học viên chúng ta đang đào tạo. Vậy chúng ta có thể trực tiếp tham gia chiến dịch để bảo đảm thông tin".

Công việc trước mắt là triển khai mạng tải ba tại xưởng để chúng ta biết và tổ chức sử dụng máy và mạng tải ba. Hoàn chỉnh sơ đồ khối và tìm ra sơ đồ nguyên lý để đào tạo thợ vì vậy tôi phân công như sau:

- Vương ra đường tuyến dẫn theo hai đồng chí để nhận thêm hai máy tải ba nữa nhưng quan trọng hơn tìm cho được bảng thuyết minh tiếng Việt về sử dụng tải ba và sơ đồ nguyên lý phòng thông tin.

- Đồng chí Quý và Toàn phân công nhau dò mạch trong máy bằng đồng hồ vạn năng và nhận màu trên dây. Dò xong thì đổi mạch dò cho nhau để kiểm tra lại. Tôi chịu trách nhiệm tổng hợp và phần các đảo mạch ở mặt máy.

- Đồng chí Dần sang thay đồng chí Quý quản lý lớp học. Giao lại cho đồng chí Tuyên tăng cường việc sửa chữa máy để đem đổi cho Sư đoàn 2.

Tôi đề nghị thời gian hoàn thành là 7 ngày chờ anh Vương về nếu có sơ đồ thì ta đối chiếu lại còn nếu không có sơ đồ thì chúng ta chủ động có thể dùng sơ đồ do chúng ta vẽ đề làm công tác huấn luyện.

Đến ngày thứ ba đồng chí Toàn và Quý giao sơ đồ nguyên lý cho tôi. Tôi bảo, các đồng chí đổi cho nhau. Tôi phải làm việc ban đêm vì ban ngày hai máy dành cho đồng chí Toàn và đồng chí Quý. Tôi kiểm tra lại đo đạc của hai đồng chí và gắn kết lại toàn bộ sơ đồ nguyên lý. Tôi cho máy chạy nóng để đo chỉ tiêu của đèn. Tôi dùng máy phát sóng để xác định tần số sóng mang đo điện áp ra, điện áp vào coi đó là chỉ tiêu của máy để làm tài liệu giảng dạy. Sau 6 ngày, chúng tôi tạm chấp nhận sơ đồ nguyên lý cùng chỉ tiêu của máy. Tôi giao cho Quý vẽ lại để làm sơ đồ dò.

Vương về báo tin không có quyển thuyết minh nào tiếng Việt và sơ đồ nguyên lý. Như vậy tôi đành chọn sơ đồ nguyên lý máy tải ba TCT do chúng tôi nghĩ ra, tôi gọi Toàn và Quý lên phân công "Tôi và Toàn xuống huấn luyện cho d2", "Quý chuẩn bị huấn luyện cho cơ công của xưởng và lớp học".

Quý hỏi tôi: "Tài liệu đâu?".

Tôi nói: "Tài liệu làm như lớp vô tuyến điện cậu dạy. Có nghĩa tôi sẽ lên lớp vẽ sơ đồ nguyên lý của tải ba TCT vận hành và triển khai mạng. Quý, Toàn, Dần ghi chép tỉ mỉ. Quý chịu trách nhiệm biên soạn lại các bài giảng của Toàn, Dần, Quý đó là tài liệu giảng dạy.

Quý nhìn tôi cười: "Bổn cũ soạn lại".

Tôi nói: "Đó là cách soạn tài liệu độc đáo nhất, vì chúng ta không dựa vào sách vở mà dựa vào trí tuệ tập thể còn tồn tại được của chúng ta sau bao nhiêu ngày bị sốt rét rừng và thuốc Quinin tàn phá trí nhớ của chúng ta. Và đó là vốn quý mà cậu học làm gì có".

Tôi và Toàn lên lớp về tải ba, cách triển khai mạng tải ba cho d2 có phòng thông tin hướng dẫn như một chuyên gia thực thụ về tải ba. Tôi còn dịch các chữ tiếng Pháp sang tiếng Việt.

Một buổi tối tôi gặp đồng chí Cao Hùng Kiếm và đồng chí Luật tôi nói: "Cách đây một tháng tôi i tờ về tải ba, mười ngày nữa sẽ cho ra đời vài chục thợ tải ba". Anh Kiếm nói: "Mày nói dóc", "Nếu anh không tin thì 10 ngày nữa anh xuống kiểm tra". Anh Luật xen vào: "Mấy cái đài tao gửi xuống để mày lấy bộ khuếch đại âm tần đâu? Bây giờ có tải ba không dùng nó mày để làm gì?". "Thì anh để tụi em nghe hoặc đổi heo ăn mừng lớp cơ công tải ba bế mạc". "Mày phải có lệnh của tao". "Thì hôm nay ra lệnh luôn"."Làm gì có lệnh cấp máy đổi heo". "Thì cấp cho Ban chỉ huy của xưởng" anh Kiếm xen vào "Các cậu có cả bầy heo bây giờ cần gì lấy đài đổi heo". "Cái gì của xưởng thì của xưởng, cái gì của phòng cho thì cứ coi là phần thưởng của phòng đi".

Tôi đề nghị anh Kiếm cho diễn tập triển khai mạng tải ba để anh em có kinh nghiệm. Anh Kiếm đồng ý.

Đến đây có thể nói nhiệm vụ của phòng giao cho chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc.

Để phục vụ cho chiến dịch, tôi trực tiếp tổ chức một đoàn xuống trực tiếp tại Sư đoàn 2 để đổi máy hư và tổ chức sửa chữa tại chỗ, bảo đảm đủ máy thông tin đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Công việc chuẩn bị cho chiến dịch căn bản đã hoàn thành. Tôi rút quân về đóng tại gần Bộ tư lệnh tiền phương trên núi Yên Ngựa. Lương thực chúng tôi đã cạn nhưng quân khu không cấp, dành lương thực cho tiểu đoàn xe tăng và pháo 130 ly đang triển khai trận địa. Tôi cho hai anh em về xưởng để cõng lương thực xuống.

Một hôm liên lạc của phòng thông tin xuống chỉ đích danh tôi xuống trạm chuyển tiếp tải ba đặt bên cạnh sông Thu Bồn để bảo đảm liên lạc cho đồng chí Tư lệnh Quân khu trực tiếp ra lệnh cho tiểu đoàn pháo nổ súng. Tôi khăn gói lên đường, anh em nhét cho tôi một túi mì khô (củ sắn, sắn lát phơi khô) độ hơn 1 kg.

Tôi đến trạm, anh em rất mừng rỡ vì có tôi anh em yên tâm hơn.

Đến ngày thứ ba phòng thông tin gọi cho tôi báo giờ G nổ súng. Tôi đi kiểm tra lại đường dây vừa xong, đo cách điện của dây, cho thay pin mới. Tối đó tôi bảo anh em đi ngủ để tôi trực. Gần sáng chúng ta đã giải phóng quận lỵ Quế Sơn - Tiên Phước. Ba quả đạn đầu tiên trúng ngay căn cứ địch làm bọn chúng hoang mang hỗn loạn. Pháo ta dồn dập nã đạn mở đường cho bộ đội tiến vào nhanh chóng ít thương vong. Đồng chí chỉ huy Tư lệnh Quân khu 5 ra lệnh giữ lại ba vỏ đạn 130 ly để làm chiến tích chiến tranh và hiện nay Bảo tàng Quân khu 5 còn lưu giữ.

15-6-2005

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”) 

Nhớ và nhớ mãi

Đại tá Nguyễn Xuân Hòa - nguyên Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 596

Đời người bao nhiêu việc đã qua đều vẫn nhớ. Nhớ của tôi cũng thế, làm sao mà quên được. Như những lúc cầm súng ở rừng thời đánh Pháp, rồi những năm thức trắng để vượt đèo Khế (ở Tuyên Quang), dốc "Cun" (ở Hòa Bình) thời chống chiến tranh phá hoại, thời đánh Mỹ, cũng như những lúc vượt rừng để đi nhặt đuôi máy bay Mỹ để được công nhận đã bắn rơi. Rồi những năm học làm lính thông tin và các loại kỹ thuật quân sự hiện đại tưởng chừng không bao giờ có được trong đời lính của mình, và nhớ nhất là sau 42 năm trọn vẹn trở về vẫn giữ được trọn vẹn như lúc ra đi đánh giặc.

Ôi sung sướng biết bao khi trở lại quê hương thân yêu, luôn luôn sóng nhẹ xô bờ và tất cả kỷ niệm làm sao tôi quên được.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”)

Những năm tháng cùng đồng đội

Đại tá Hà Thị Tố Nga - nguyên Giám đốc Công ty Điện tử - Viễn thông quân đội phía Nam

Tôi và anh Hai Phủ gặp nhau, quen nhau, rồi kết thân trong môi trường sinh viên, chúng tôi cùng học ngành vô tuyến điện tử Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Anh Hai Phủ học khóa 3, còn tôi học khóa 6. Theo mong muốn của gia đình hai bên chúng tôi sẽ tổ chức lễ thành hôn trước khi tôi tốt nghiệp ra trường. Nhưng tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ đã tấn công miền Bắc Việt Nam, cuộc sống của toàn thể nhân dân miền Bắc, hậu phương lớn của công cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của đồng bào miền Nam Việt Nam đã hoàn toàn đảo lộn. Mặc dù vậy, tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, anh chị em sinh viên khóa 6 chúng tôi vẫn tiếp tục hăng say học tập, ra sức phấn đấu để hoàn tất nhiệm vụ của năm học cuối cùng.

Một buổi chiều thứ bảy nắng đẹp, khi mặt trời sắp lặn, bất chợt anh Hai Phủ xuất hiện lòng tôi hết sức vui mừng. Anh Hai Phủ cùng đồng đội đang ngày đêm khẩn trương xây dựng công trình thông tin dẫn đường cho sân bay Nội Bài chuẩn bị đón máy bay MIG về để tăng cường bảo vệ bầu trời miền Bắc của Tổ quốc Việt Nam; anh đã tranh thủ ghé về trường thăm tôi. Dưới bóng hoàng hôn chúng tôi nắm tay nhau đi chầm chậm dọc theo hàng cây ven đường quanh sân vận động của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Tôi xiết chặt tay anh Hai Phủ và hỏi: - Anh! Em được thông báo Bộ Quốc phòng có ý định điều động em vào phục vụ quân đội anh nghĩ sao?! Thoáng trầm ngâm rồi anh Hai Phủ trả lời "Thì chấp hành lệnh điều động phục vụ quân đội chứ sao!". Anh nói tiếp: Gia đình anh hầu hết đều là lính của Bộ đội Cụ Hồ, giờ thêm em thành viên mới của gia đình cũng là lính của Bộ đội Cụ Hồ thì sẽ rất vui!

Sau đó mấy tháng tôi tốt nghiệp Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và hầu như gần hết lớp học của chúng tôi đều nhận được lệnh gọi nhập ngũ.

Chấp hành lệnh động viên của Nhà nước, ngày 05 tháng 7 năm 1965 tôi vào học Trường sĩ quan Thông tin, sau một thời gian ngắn được huấn luyện về quân sự, tôi đã trở thành nữ chuẩn úy thuộc Binh chủng Thông tin của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Công trình thông tin dẫn đường của sân bay Nội Bài vừa xây dựng xong, máy bay MIG về sân bay và đã tham gia bảo vệ bầu trời Hà Nội, đó cũng là thời điểm anh Hai Phủ chuẩn bị đi công tác xa. Được sự chấp thuận của tổ chức, chúng tôi tổ chức lễ thành hôn và vì yêu cầu phục vụ công tác, tôi chỉ được nghỉ có 2 ngày phép để làm lễ cưới. Sau những giây phút ngắn ngủi được vui bên nhau, tôi tiễn anh Hai Phủ đi công tác xa và trở về sát cánh cùng đồng đội lao vào phục vụ chiến đấu.

Máy bay Mỹ tấn công phá hoại miền Bắc ngày càng quyết liệt. Chúng từ miền Nam Việt Nam, từ Thái Lan, từ hạm đội 7 ở biển Đông tiến đánh nhiều nơi trên khắp miền Bắc. Nhiều thành phố, làng mạc, đường sá, cầu cống bị phá hủy điêu tàn; nhiều đồng bào bị sát hại. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng của Bác Hồ, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam từ dân quân du kích, bộ đội địa phương đến bộ đội chủ lực đã bất chấp bom đạn, luôn ngẩng cao đầu sẵn sàng chiến đấu giáng trả sự đánh phá điên cuồng của máy bay và tàu chiến Mỹ.

Mặc dù làng mạc nhà cửa có bị tàn phá, đồng đội, đồng bào có bị đổ máu, hy sinh nhưng cán bộ và chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã cùng với nhân dân miền Bắc và đồng bào cả nước hết sức phấn khởi tự hào khi nhìn thấy hàng loạt máy bay hiện đại của Mỹ bị bắn hạ.

Giặc Mỹ điên cuồng đánh phá miền Bắc, chúng mơ tưởng nhân dân ta sẽ khuất phục đầu hàng trước sự tàn phá khủng khiếp của bom đạn, nhưng chúng đã lầm to. Nhân dân miền Nam đã có truyền thống bất khuất từ dòng máu ngàn đời của ông cha để lại: "Thà hy sinh tất cả! Chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!”

Nhu cầu phục vụ chiến đấu hết sức khẩn trương căng thẳng, chúng tôi làm việc bất kể ngày đêm, liên tục nghiên cứu cải tiến máy móc thiết bị cho phù hợp với thời tiết khí hậu và yêu cầu chiến đấu luôn thay đổi, nhanh chóng sửa chữa các khí tài bị hư hỏng trong chiến đấu, nhiều máy móc thông tin bị hư hỏng nặng phải sửa chữa cả trung đại tu. Nhiều đợt chúng tôi làm việc liên tục phải ăn ngủ tại chỗ, nhiều lần quá căng thẳng mệt mỏi chúng tôi gục đầu bên bàn đặt khí tài ngủ thiếp đi trong giây lát, sau đó tỉnh dậy dùng nước lạnh phả vào mặt để tỉnh táo tiếp tục làm việc. Binh chủng Thông tin không những có trách nhiệm đảm bảo khí tài đáp ứng yêu cầu thông tin liên lạc phục vụ chiến đấu cho các bộ tư lệnh các quân chủng Phòng không - Không quân, Đặc công, Thiết giáp,... các sư đoàn, các quân khu ở miền Bắc... mà còn phải bảo đảm khí tài thông tin phục vụ chiến đấu cho các đơn vị, bộ đội thông tin phải luôn luôn ở tư thế sẵn sàng đi trước, phải luôn luôn làm việc "Quá tải" để phục vụ chiến đấu. Chính qua những ngày tháng chiến đấu căng thẳng quyết liệt với giặc Mỹ đã bộc lộ phẩm chất cao đẹp ở người lính thông tin liên lạc của Bộ đội Cụ Hồ. Chúng tôi luôn luôn đoàn kết gắn bó sát cánh cùng nhau trong chiến đấu, quan tâm chăm sóc nhau, chia sẻ cho nhau từng miếng ăn thức uống, sẵn sàng làm thêm việc để cho đồng đội có được thì giờ nghỉ ngơi trong chốc lát. Ôi thiêng liêng và tươi đẹp xiết bao mối tình đồng chí gắn bó giữa cán bộ và chiến sĩ thông tin của Bộ đội Cụ Hồ.

Do máy bay Mỹ đánh phá miền Bắc ngày càng quyết liệt, để phục vụ chiến đấu được nhanh chóng kịp thời và hiệu quả hơn, theo chỉ đạo của Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc, một mặt chúng tôi vừa tổ chức nghiên cứu cải tiến khí tài, sản xuất lắp ráp các thiết bị thông tin mới, tiến hành trung đại tu các máy móc bị hư hỏng tại nhà máy nằm sâu trong vùng rừng núi; mặt khác chúng tôi tổ chức các đoàn công tác lưu động đem theo xe công trình có đầy đủ thiết bị đo lường và dụng cụ chuyên môn; cùng máy phát điện, ban đêm hành quân để máy bay Mỹ khó phát hiện được mục tiêu, tranh thủ đến sửa chữa các máy móc thông tin liên lạc tại khắp các trận địa chiến đấu trên chiến trường ở miền Bắc.

Một đêm mùa thu tháng 8 năm 1966, tôi đang cùng đồng đội sửa chữa máy móc thiết bị thông tin cho Sư đoàn 312 chuẩn bị lên đường vào miền Nam chiến đấu, biết anh Hai Phủ đi công tác xa vừa có dịp trở về Hà Nội, thủ trưởng đơn vị đồng chí Trần Tấn Nhứt đã cho xe đến nơi tôi đang làm việc với ý định tạo điều kiện giúp cho vợ chồng chúng tôi tranh thủ được gặp nhau sau một năm xa cách, nhưng số thiết bị máy móc phục vụ chiến đấu hư hỏng chưa được sửa chữa xong, mặc dù được tin chồng về trong lòng tôi rất xôn xao nhưng tôi không thể lên xe về Hà Nội. Sau 2 ngày đêm làm việc cật lực để sửa chữa xong số máy móc bị hư hỏng, đêm thứ ba đồng đội đã đưa tôi ra ga Thái Nguyên để về Hà Nội trong tiếng gầm rú bắn phá rền vang của máy bay Mỹ và tiếng máy bay MIG bảo vệ bầu trời của Không quân nhân dân Việt Nam. Sau mấy ngày ngắn ngủi vui vẻ bên nhau, tôi lại tiễn anh Hai Phủ lên đường và lần ấy sau 5 năm dài chúng tôi mới lại được gặp nhau.

Trong sự nghiệp kháng chiến cứu nước của mình, nhân dân Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ hết sức to lớn của các nước bạn, chỉ riêng lĩnh vực thông tin liên lạc đã được các nước trợ giúp cho rất nhiều máy móc thiết bị khác nhau. Những máy móc đó có chất lượng cao và bền vững nếu được sử dụng ở môi trường khí hậu ôn đới hoặc hàn đới, còn ở Việt Nam với môi trường khí hậu nhiệt đới có nhiệt độ và độ ẩm cao, các máy móc thiết bị đó thường dễ bị hư hỏng hàng loạt. Cần phải nghiên cứu nắm vững tính năng kỹ thuật của các loại máy móc để sử dụng chưa đủ, chúng tôi còn phải tiến hành nhiệt đới hóa toàn bộ các máy móc thiết bị thông tin liên lạc của nước bạn trợ giúp; chúng tôi cho tháo rời toàn bộ máy móc thiết bị ra từng bộ phận, thậm chí từng linh kiện một để sấy, tẩm phủ bảo quản rồi lắp ráp lại nhằm bảo đảm khả năng sử dụng của các khí tài đó phục vụ tốt cho chiến đấu trong các điều kiện khắc nghiệt về thời tiết của môi trường khí hậu nhiệt đới ở Việt Nam. Cán bộ và chiến sĩ thông tin của Bộ đội Cụ Hồ đã hoàn thành được nhiệm vụ hết sức khó khăn của mình.

Cuộc trường kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của đồng bào miền Nam và chiến đấu chống giặc Mỹ gây chiến tranh phá hoại ác liệt của nhân dân miền Bắc vẫn còn chưa đến ngày kết thúc. Sau nhiều năm sát cánh cùng đồng đội phục vụ chiến đấu trong bom đạn khói lửa, lãnh đạo của Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc đã tạo điều kiện cho tôi được hưởng niềm vui làm mẹ khi anh Hai Phủ trở về Hà Nội công tác. Ngày 16 tháng 10 năm 1972 khi tôi được đưa vào phòng sinh ở Bệnh viện Quân đội 108 tại Hà Nội thì tiếng còi báo động máy bay giặc Mỹ phá hoại rền vang, mọi người đều bắt buộc phải xuống hầm trú ẩn trừ tôi phải nằm im tại chỗ cùng với bác sĩ hộ sinh đứng bên cạnh. Sau khi tôi sinh cháu được 30 phút thì tiếng còi báo động máy bay Mỹ phá hoại lại vang lên, lần này được sự giúp đỡ, tôi và cháu bé buộc phải xuống hầm trú ẩn. Chính trong những giây phút đó, trong đầu tôi vang lên tiếng nói của Bác Hồ: "Không có gì quý hơn độc lập tự do!".

Giặc Mỹ đã tăng cường tấn công Hà Nội, Nhà ga Hàng Cỏ, Khâm Thiên, Nhà máy điện Yên Phụ và nhiều khu trung tâm khác của Hà Nội đã bị máy bay Mỹ điên cuồng tấn công, nhưng nhân dân thủ đô cùng đồng bào cả nước không khuất phục. Ngày 18 tháng 12 năm 1972, đã diễn ra trận Điện Biên Phủ trên không, trong 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội, tôi được phép đưa cháu Tuấn gần tròn hai tháng tuổi sơ tán đến nơi an toàn và được lệnh cấp tốc trở về cùng đồng đội khẩn trương nghiên cứu chế tạo thiết bị bảo đảm thông tin liên lạc chống được nhiễu do pháo đài bay B52 của Mỹ phát ra. Sau 12 ngày đêm chiến đấu quyết liệt, quân và dân ta đã hoàn toàn chiến thắng, đã bắn hạ hàng loạt máy bay Mỹ nhất là B52 giành thắng lợi giòn giã buộc đế quốc Mỹ phải ngồi vào bàn ký kết Hiệp định đình chiến Pa-ri, cam kết chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc và rút quân khỏi miền Nam.

Hòa bình đã trở về trên miền Bắc Việt Nam, nhưng cán bộ và chiến sĩ bộ đội thông tin vẫn chưa được nghỉ ngơi, vì sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước vẫn còn đang tiếp diễn.

Tôi cùng đồng đội tiếp tục ngày đêm tận tụy làm việc để chi viện cho chiến trường miền Nam, với niềm tin và lòng khát khao mong đợi ngày giải phóng miền Nam, ngày toàn thắng ắt sẽ đến.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày vui toàn thắng của dân tộc Việt Nam đã đến, Tổ quốc Việt Nam đã được thống nhất - độc lập - tự do hoàn toàn.

Trong niềm vui chiến thắng, tôi cùng đồng đội được giao nhiệm vụ vào miền Nam phục vụ yêu cầu khai thác sử dụng hệ thống viễn thông. Hệ thống viễn thông ở miền Nam do Mỹ trang bị, chúng tôi chỉ thông thạo sử dụng và quản lý các thiết bị thông tin liên lạc của các nước xã hội chủ nghĩa trợ giúp. Làm thế nào để nhanh chóng nắm bắt được tính năng kỹ thuật, bảo đảm có thể khai thác sử dụng hệ thống thiết bị viễn thông của Mỹ là một thách đố lớn đối với các sĩ quan thuộc Binh chủng Thông tin của Quân đội nhân dân Việt Nam. Chúng tôi không những đã nhanh chóng làm chủ được kỹ thuật, nắm vững được tính năng sử dụng và đã tổ chức điều hành hoạt động hệ thống viễn thông của Mỹ để phục vụ yêu cầu chỉ huy lãnh đạo của Nhà nước Việt Nam thống nhất. Bằng tấm gương tận tụy làm việc, nhanh nhạy nắm vững kỹ thuật chuyên môn, linh hoạt sáng tạo thực sự chinh phục được các sĩ quan trong bộ máy chính quyền cũ còn ở lại, làm cho họ "dần dần hiểu ta hơn" hợp tác cùng chúng ta tiếp tục làm việc, khôi phục hệ thống viễn thông ICS đảm bảo thông tin thông suốt, góp phần xây dựng Tổ quốc Việt Nam thân yêu sau những năm dài bị chiến tranh tàn phá. Có hòa bình, có độc lập - tự do, chúng ta nhất định sẽ xây dựng Tổ quốc Việt Nam đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như Bác Hồ kính yêu hằng mong muốn.

Nhân dân Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam đã đánh giá cao những thành tích đóng góp xuất sắc của Binh chủng Thông tin Quân đội nhân dân Việt Nam cho sự nghiệp kháng chiến cứu nước giành độc lập - tự do thống nhất của Tổ quốc Việt Nam, phong tặng Binh chủng Thông tin Đơn vị anh hùng của lực lượng vũ trang.

Trải qua những năm tháng sát cánh cùng đồng đội khắc phục mọi khó khăn, chịu đựng mọi gian khổ thử thách để phục vụ chiến đấu trong Binh chủng Thông tin Quân đội nhân dân Việt Nam; tôi có vinh dự lớn được Binh chủng Thông tin bầu là đại biểu đi dự Đại hội Đảng toàn quân. Tại Đại hội tôi đã thay mặt chị em phụ nữ trong quân đội nói lên lòng biết ơn sâu sắc đối với Bác Hồ kính yêu, đối với Đảng Cộng sản Việt Nam và Quân đội nhân dân Việt Nam đã tạo điều kiện cho chị em phụ nữ chúng tôi được tham gia chiến đấu, được rèn luyện thử thách và phục vụ Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Những năm tháng cùng đồng đội là những kỷ niệm đẹp nhất của đời tôi, tôi mãi mãi không bao giờ quên!

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”) 

"Chịu lính đường dây"

Phạm Huy Thưởng

Vào khoảng năm 1966-1967 gì đó, đài và báo đua nhau đăng những bài viết về tuồng cổ. Nguyễn Huy cùng một số anh em được Bộ tư lệnh Binh chủng Thông tin gọi về dự một số lớp tập huấn nghiệp vụ. Trong đó có một lớp học về tuồng cổ. Anh em trong lớp học cũng được xem một số trích đoạn tuồng. Những chương trình này đều rất hay. Mấy đêm xem tuồng khiến Huy nao nao nhớ những ngày còn nhỏ. Anh từng được xem khá nhiều tuồng cổ tại các rạp hát ở Hải Dương, Hà Nội và Hải Phòng. Những vở Phụng Nghi Đình, Nguyệt Cô hóa cáo, Bao Công xử án Bàng Quý Phi, Bao Công xử án Quách Hoè.... làm chú bé ăn không ngon ngủ không yên. Khi nhỏ thì mê tuồng, nay được học Huy mới bắt đầu hiểu tuồng.

Từ hôm đó về Huy như người say tuồng. Trong óc lúc nào cũng rộn lên tiếng kèn bầu và tiếng não bạt. Anh định bụng thế nào cũng phải làm một bài hát nào đó mượn giọng tuồng. Tiếp đó, Huy kiếm được một cuốn sách viết về tuồng. Đó là một cuốn sách của một anh nhạc sĩ ở phòng văn hóa thông tin huyện Thanh Trì. Huy tìm tới đoàn tuồng Liên khu 5 thăm nhạc sĩ Nguyễn Viết. Huy xem các em học sinh tập hát và tập múa tuồng. Anh lại mượn được của nhạc sĩ Nguyễn Viết một tập nhạc tuồng. Huy mò mẫm vào lĩnh vực rất rối ren này. Thật ra anh ta cũng không thể biết hết lối vào lối ra của âm nhạc và vũ đạo tuồng. Nhưng anh nghĩ gắng đọc cho cái chất tuồng nó ngấm vào người, sẽ có lúc anh ta làm được bài hát mong muốn.

Sau một chuyến công tác dài ngày ở Quảng Bình, trung đoàn về lại nơi đóng quân ở thị trấn Văn Điển. Ông Nguyễn Mạo Phó chính ủy Trung đoàn nhắc Huy: "Anh em mới đi công tác về có khá nhiều tư liệu. Tại sao cậu không họp mặt anh em sáng tác đi". Huy giật mình tự nghĩ, đi xa về mình nghĩ mãi chuyện đâu đâu, không lo chuyện sáng tác chuẩn bị cho chương trình mới của Đội tuyên truyền văn hóa xung kích. Huy cũng giật mình khi nghĩ ra, chỉ ít hôm nữa ổn định tổ chức xong anh em mình lại lên đường đi Khu Bốn rồi.

Cho đến một hôm, đó là một ngày họp mặt của anh em sáng tác của trung đoàn. Những cuộc họp mặt này không định kỳ và cũng không có được nhiều lắm. Anh em bận đi công tác và cũng không dễ gì có được nhiều tác phẩm để đem ra "khoe" với nhau thường xuyên.

Cuộc họp diễn ra vào buổi sáng chủ nhật.

Cuộc họp có mặt đủ số "Văn nghệ sĩ" trung đoàn. Đặng Trường Lưu, Thương Giang (Thân Trọng Việt), Vũ Ngọc Ngà, Phan Nhật Sáng, Nguyễn Văn Kha, Nguyễn Hữu Khiển... Theo lệ, ai có gì thì đem tới góp cho cuộc họp. Mấy ông già hay làm thơ vè ở trong xã đem tới mấy ấm trà Thái hoặc thuốc lào Tiên Lãng. Ông Mão cũng đem theo gói trà, gói thuốc và hộp đường. Trung đoàn phó Lê Văn Thành đem theo gói kẹo. Mấy anh nữa ở Ban chính trị không có việc gì làm cũng tới ngồi nghe.

Một cuộc họp mặt như thế thường là rất thoải mái. Ai có tác phẩm gì mới thì đọc cho nhau nghe. Trường Lưu đưa ra mấy bản phác thảo rồi nói tới ý đồ vẽ một bức bích họa cổ động cao hai mét dài tám mét. Một cụ ở thôn Cổ Điển A phát biểu khen anh em mình là lính tráng mà sinh hoạt rất văn hóa. Sau đó cụ đọc một bài thơ mừng Đảng. Một cụ khác đọc bài thơ ca ngợi xã Tứ Hiệp. Thân Trọng Việt đọc mấy bài thơ mới... Ai chưa có tác phẩm thì trình bày ý đồ sáng tác. Chỉ cần thấy một ý hay hay nào đó anh cũng có thể nêu ra để anh em khác được gợi ý sáng tác.

Phan Quang Ngân, trợ lý chính trị nói:

- Tôi mới đi công tác ở Đại đội 6 về. Tôi chép được một bài ca dao của bộ đội, xin góp cùng quý vị. Nói rồi anh đọc:

Cưỡi mây lên gõ cổng trời

Ngọc Hoàng sửng sốt "phô tơi" mời ngồi

Hỡi: "Sao lên tận thiên tào?”

Thưa: "Đi dựng cột tiện vào nghỉ ngơi”

Ngọc Hoàng nghe nói cả cười

"Lên tận cổng trời! Chịu lính đường dây"

Vũ Ngân còn nói thêm:

- Chúng ta đã có bài "Hoan hô anh nuôi" của Phạm Khắc Vinh, nay thêm được bài "Lên cổng trời" càng hay chú sao.

Nghe anh bạn trợ lý chính trị nói xong Huy mừng quá. Anh chàng chép lại bài ca dao và bắt đầu cuộc tìm kiếm giai điệu cho bài hát. Những ngày đầu Huy rất lúng túng, phổ nhạc cho một bài văn vần lục bát là rất khó. Song có lẽ do đã nghiền ngẫm khá nhiều cái chất tuồng, nay lại vớ được đề tài đang mong mỏi Huy nhập vào bài hát khá nhanh. Tuy vậy cũng phải mất khoảng hơn một tháng sau bài hát mới ra đời.

Bài này có tiết tấu sôi nổi với chất liệu quen thuộc của tuồng chèo Việt Nam. Lời ca dao Huy sửa chỗ "phô tơi mời ngồi" thành "nhưng thôi mời vào". Khác với các bài khác, bài này trong khi tìm kiếm giai điệu tiết tấu Huy nghĩ ngay tới cách biểu diễn. Sân khấu mở ra, những chàng trai quân hàm đỏ rực, tay ôm các cây đàn nguyệt, tam, tứ, tì bà, đáy, nhị, sáo, kèn bầu... từ trong cánh gà chạy ra theo hàng một. Họ ôm đàn như lính ôm súng xung phong. Quang Thụy đi đầu, cả tốp nam từ trong chạy ra sân khấu. Kết thúc hồi trống thì tất cả thành đội hình tốp ca. Trong khi anh em khác đàn lên cùng hòa tấu cung đô trưởng, Quang Thụy tay phải cầm dùi trống như roi ngựa, tay trái cầm trống như cầm đao, anh ta nhấc một chân lên vuông góc với chân kia rồi xoay xoay một vòng, hạ chân xuống, lắc mình một cái như kiểu tướng lên ngựa. Tất cả tốp ca cùng hòa vào câu: "Cưỡi mây a....!". Mọi thứ đàn cùng hòa theo tiếng não bạt và tiếng trống...

Sau này Huy nghiệm thấy khi giới thiệu tiết mục Chịu lính đường dây phải đọc một lượt lời ca dao trước, hiệu quả biểu diễn mới cao. Bài hát được khá nhiều giải thưởng của các hội diễn nghệ thuật. Đáng kể nhất là giải vàng Hội diễn nghệ thuật quần chúng toàn quân năm 1974.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”) 

Đội tuyên truyền văn hóa xung kích

Phạm Huy Thưởng

Bộ đội quá vất vả mệt mỏi, Đảng ủy Trung đoàn quyết định thành lập Đội tuyên truyền văn hoá xung kích ở chiến trường. Quyết định này rất đúng, rất hay, nhưng nó đặt ra biết bao nhiêu vấn đề cho người thực hiện. Phải gọi tập trung những ai? Việc chọn người hết sức quan trọng. Đây không phải là một đội văn công không chuyên. Những người trong đội trước hết phải có năng khiếu văn nghệ đã đành. Nhưng họ cũng phải là người giỏi chuyên môn, giỏi chịu đựng gian khổ. Bởi vì chính họ sẽ phải đến những nơi gian khổ khó khăn nhất của trung đoàn. Họ vừa phải diễn văn nghệ phục vụ bộ đội và cũng phải tiếp sức để đơn vị đó hoàn thành nhiệm vụ. Lập đội tuyên truyền văn hóa xung kích thì nhạc cụ đâu? Hoá trang? Phông màn? Trang phục? Và nhất là nội dung. Bài hát, vở kịch, bài thơ, bài tấu... ít nhất cũng phải có 12 đến 14 tiết mục cho 105 phút biểu diễn.

Trước hết một nhóm sáng tác được gọi về. Họ được yêu cầu trong một tháng phải có đủ tiết mục cho một chương trình biểu diễn. Có thể sử dụng những tiết mục cũ, nhưng phải có ít nhất 50% tiết mục mới. Hai tuần sau anh em cho ra đời một bài thơ và một bài tấu của Thân Trọng Việt, một hoạt cảnh chèo 30 phút của Vũ Ngọc Ngà, một ca khúc mới và một số tiết mục ảo thuật của Huy Thưởng. Huy Thưởng còn có nhiệm vụ ghi lại và phối bè theo trí nhớ một số tiết mục mà bộ đội ưa thích như: Hoan hô anh nuôi, Tôi là chiến sĩ đường dây của Phạm Khắc Vinh, Niềm vui anh quân bưu của Vũ Trọng Hối, Đường dây ai rải của Văn An. Nguyễn Hữu Khiển và Nguyễn Văn Kha thì sưu tầm chế tạo nhạc cụ. Có thể nói chính những lớp tập huấn ở Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc và những hoạt động có bài bản ở ngoài Bắc trước đây đã giúp họ hoàn thành nhiệm vụ Đảng ủy Trung đoàn giao.

Và đã nảy sinh rất nhiều sáng kiến. Cây nhị da trăn, cây đàn ghi ta hư ở một trạm giao liên, chiếc kèn ácmônica từ đáy ba lô của anh chàng nọ, những cây sáo nứa do lính tự tính toán đánh dấu và khoét lỗ để nốt nhạc rất chuẩn với kèn ácmônica. Cuối cùng họ còn tìm được cả một chiếc đàn mandolin.... Báo Quân đội nhân dân hồi đó đã có những bài viết phản ánh hoạt động của Đội tuyên truyền văn hóa xung kích 132 ở chiến trường.

Sau một tháng làm ngày làm đêm và tập luyện khẩn trương Đội tuyên truyền văn hóa xung kích đã có đủ tiết mục cho chương trình 120 phút. Đặc biệt hơn cả là trong chương trình này 70% là tiết mục về đường dây. Sau này Đội tuyên truyền văn hóa xung kích còn đi phục vụ các đơn vị bạn như Thanh niên xung phong, Bệnh viện 68, Đảng ủy miền Tây Thừa Thiên - Huế... Anh em văn nghệ 132 còn cử người tới những đơn vị bạn để thâm nhập, sáng tác thêm tiết mục phục vụ bạn những chương trình sâu sắc hơn. Anh em văn nghệ 132 thường nói vui đó là những "tiết mục bổ của lấy tiền ngay".

Bộ đội 132 bị sốt rét rất nhiều. Anh nào càng chậm bị sốt rét thì bệnh càng nặng, càng dễ bị ác tính mà chết. Mỗi cái chết đều để lại một ấn tượng đau thương đậm tình đồng chí. Những ống thuốc ký ninh cuối cùng của đồng chí phó chính ủy dành cho người bị sốt rét cuối cùng của trung đoàn. Bát cháo sâm bột của một trung úy cứu bạn thoát cơn sốt ác tính. Nhiều ca trốn viện khi còn đang bệnh, vì chỉ sợ chữa xong bệnh có thể bị lạc mất đơn vị.

Bộ đội 132 tiếp tục vào sâu hơn và họ bắt gặp trên núi cao nhiều con đường xuyên Trường Sơn khác. Thì ra không chỉ một con đường mòn họ đang đi lại mà còn nhiều những con đường mòn đã được thi công rất công phu. Những con đường san lấp bên vách núi, gắn cả bậc lên xuống bằng gỗ cây. Vào năm 1968, khi lính 132 vào tới nơi, những con đường ấy đã bị những cây mây song bò vắt ngang. Càng thắng lớn những con đường Trường Sơn từ núi cao chuyển dần xuống phía đông. Phát hiện này động viên lính 132 rất nhiều. So với những gì họ đã thấy, những gì dân tộc ta đã làm thì những gian khổ vất vả mà họ đang chịu đựng chưa thấm vào đâu.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”) 

Đường dây Quyết thắng trên đỉnh Trường Sơn (kỷ niệm Tết Mậu Thân 1968)

Phạm Huy Thưởng - nguyên cán bộ Trung đoàn 132

Có thể hỏi bất cứ vị tướng Việt Nam nào câu hỏi sau: "Các vị thích sử dụng loại phương tiện thông tin nào nhất trong các cuộc chiến tranh trước đây?". Hẳn là ta sẽ nhận được câu trả lời rằng: "Thông tin dây trần là loại phương tiện thông tin tốt nhất thời đó".

Tại sao lại như vậy? Có lẽ bởi vì: đường dây trần bảo đảm tốt nhất bốn yêu cầu: "Nhanh chóng - Chính xác - Bí mật - An toàn". Khó có cách nào truyền lệnh chính xác bằng truyền lệnh trực tiếp bằng miệng. Người nhận lệnh có thể cảm nhận cả những điều không văn bản nào ghi nổi. Ngoài những nội dung mệnh lệnh còn có cả tình cảm con người thể hiện qua âm sắc và nhịp điệu giọng nói con người. Và còn điều này nữa: dây trần là loại thông tin rẻ nhất và bền nhất. Nhân dân Việt Nam đánh giặc với tinh thần "Mỗi viên đạn là một quân thù" thì không thể không tính tới yếu tố giá thành đánh giặc!

Khi ta giải phóng được một nửa đất nước, tuyến thông tin thường ngày phải kéo dài tới 500km, đường dây trần phải kéo dài và bộ đội dây trần bắt đầu phải tính đến chất lượng đường dây cao hơn. Khi ta vượt Trường Sơn đánh Mỹ, và nhất là khi lượng kỹ thuật đòi hỏi rất cao. Bởi vì khi đó đường dây phải bảo đảm cho việc ứng dụng công nghệ thông tin mới "Đường dây mang sóng". Các đơn vị thông tin dây trần được tăng cường cả về số lượng và trình độ mọi mặt.

Từ năm 1965 - 1967 là bước chuẩn bị, chuyển hướng sôi động. Và đã đến lúc Trung đoàn 132, đơn vị duy nhất trong toàn quân làm nhiệm vụ xây dựng đường dây trần, bắt tay vào một công trình có một không hai trên thế giới: Kéo đường dây Quyết thắng vượt Trường Sơn phục vụ chỉ huy đánh Mỹ - Những trận đánh lịch sử của Tết Mậu Thân 1968.

Từ tháng 9 năm 1967, các đại đội của trung đoàn tập kết tại một vùng bán sơn địa thuộc Sơn Tây. Bộ đội tập đi bộ, mang vác nặng. Ngày 9 tháng 9, khi tất cả các hoạt động kỷ niệm ngày thành lập Binh chủng Thông tin vừa hoàn tất tại Hà Nội, cũng là lúc từ Sơn Tây lính 132 sẵn sàng lên đường. Họ phải tự lo việc ăn uống trong chuyến đi này, vì trung đoàn chưa làm kịp thủ tục chế độ để đi theo tuyến đường 559. Bởi vậy lính dây trần ra đi rất nặng nề. Họ phải đem theo mỗi người: gạo ăn 7 ngày, 1kg muối rang hoặc 1kg lạc "sống", bột ngọt... Họ còn phải đem theo những thứ mà bất cứ một đơn vị nào đi chiến trường thời đó đều không có. Đó là dây hãm đồng và dây hãm thép cỡ 1,2mm. Đó là thiếc hàn, axít, nhựa thông, kìm, cờlê mỏ lết mỏ hàn, dao tông, rìu... và tất nhiên súng đạn phải đủ cơ số như một đơn vị đi chiến đấu. Mỗi người còn phải thêm một cái mũ sắt nữa. "Con ruồi nặng đồng cân" mỗi chú lính 132 đi chiến trường è cổ mà vác nặng.

Đêm tháng 9 trời se se lạnh họ lên đường. Mỗi trung đội lên một xe tải ba cầu. Xe không có mui, ba lô kê làm chỗ ngồi, súng đạn ôm trong lòng. Xe lắc lư lầm lũi vượt những chặng đường đầy hố bom. Có đêm họ gặp trên đường những chiếc xe tải chở đầy trẻ em. Các cháu gọi với sang rối rít: "Các chú ơi mau thắng giặc Mỹ trở về!". Đó là các cháu từ Khu Bốn được đưa ra sơ tán sinh sống và học hành ở các tỉnh phía Bắc.

Sau mấy đêm ngồi ô tô, bộ đội xuống xe hành quân vào nghỉ ở một nông trường thuộc tỉnh Nghệ An. Bây giờ mới là lúc họ học mắc tăng, mắc võng trong một khu rừng su. Nhiều người lúc này mới tranh thủ viết thêm lá thư cho người yêu hoặc cho gia đình. Tối sau đó đơn vị vượt sông Lam, hành quân theo những đường mòn qua làng bám trục lộ 15. Đêm vượt sông Lam là một đêm có trăng, tuy không tỏ lắm. Những cô gái chở đò cất lên tiếng hò sông Lam thơ mộng. Tiếng hò như muốn níu giữ chân những người lính dây trần. Với đất nước, với quân đội thì tới năm đó đã có biết bao nhiêu người, bao nhiêu cuộc đi vào chiến trường. Còn với người lính dây trần thì đây là chuyến đầu tiên họ đi xa như thế, mang vác nặng nề như thế. Tránh sao được giây phút mềm lòng. Nhất là ở đây sông nước vằng vặc và giọng hò quyến rũ...

Chừng hơn một tuần lễ hành quân trong mưa gió, đi qua các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh bộ đội đường dây tập kết ở Làng Ho (A72). Sau một ngày lo chỗ ăn nghỉ, đào hầm, đào bếp cả đơn vị bắt đầu vận chuyển xà, sứ, dây đồng, dây thép... Những vật liệu nặng đều do ô tô chuyển vào tới binh trạm. Những vật liệu này khi chuyển từ binh trạm vào tuyến đường dây trên đỉnh núi thì phải mang vác bằng vai lính. Bàn tay khéo léo của lính đường dây đan những cái gùi. Anh em đeo nó trên lưng để chuyển sứ và chân sứ. Dây đồng và dây thép thì phải khiêng vai. Một cuộn dây nặng từ 50 đến 70kg, khiêng dây ở đồng bằng hai người một cuộn đã vất vả, nay khiêng qua dốc cao vực thẳm càng vất vả hơn. Nhìn những loại vật liệu này anh em biết ngay đây là làm đường dây hiện đại. Đó là xà tám (tức là xà có 8 lỗ chân sứ). Loại xà này bằng gỗ tứ thiếc, dài 2 mét 40. Mỗi thanh xà nặng hàng chục ký. Xà ấy, sứ ấy thì dây cũng phải cỡ 3 ly 6; 3 ly 8 trở lên. Ở ngoài Bắc phải là đường dây cột bê tông, hay tệ nhất cũng là cột sắt chữ H...

Tiếp đó các đại đội tập trung để nghiên cứu thống nhất kỹ thuật công trình. Đây là một loại đường dây trần đi theo kiểu chuột chũi, hay như hồi đó anh em quen gọi là theo kiểu đường ống. Xà được khoan lắp trên cây sống trong rừng. Chỉ phạt đi những cành lá có thể va chạm với đường dây. Như vậy là đường dây sẽ đi trong một cái ống rỗng xuyên qua vùng lá xanh của cây rừng. Một kiểu đường dây phá vỡ mọi quy phạm kỹ thuật đường dây trên thế giới. Chẳng hạn theo Quy chế đường dây trần, một văn bản chính thức của Nhà nước: "Phải chặt thông thiên tất cả những cây và cành lá nằm từ trục đường dây ra mỗi bên 4 mét". Ở đây thì đường dây lại đi trong sự che chở của rừng già nhiệt đới. Làm được đường dây đã gian nan vất vả, mà khai thác bảo vệ đường dây lại càng gian khổ hơn. Từ đấy suy ra lính 132 thương lính 134 là sự đương nhiên. Mấy ông tham mưu còn ở đại đội bàn luận sôi nổi. "Tìm ra cách đi cho một đường dây như thế quả thật là một ý nghĩ táo bạo!". "Cũng đúng thôi. Ta đánh Mỹ, một nước nhỏ đánh một nước to như thế đã có tiền lệ nào đâu".

Trung đoàn 132 ở chiến trường lúc này được lấy tên là Đoàn 2 thông tin Quân giải phóng. Bộ đội rất thông tư tưởng, hoàn toàn nắm vững yêu cầu kỹ thuật và quyết tâm rất cao.

Đường dây dài hơn 300km. Hơn 299 tấn vật liệu gồm xà, sứ, dây và vật liệu khác đã được chuẩn bị. Và rồi yêu cầu vận chuyển vật liệu từ binh trạm vào tuyến đường trở thành yêu cầu cực lớn. Cấp trên đã phải điều động thêm 2 tiểu đoàn bộ binh 916 và 917 tăng cường cho Trung đoàn 132 để làm nhiệm vụ vận chuyển. Mấy chú thầy cãi ở đại đội hay có lối nói chọc phá thì bình luận: "Kể ra cũng thương anh em này. Cũng vào chiến trường, cũng đi đánh Mỹ, cũng súng đạn như ai vậy mà suốt ngày này qua ngày khác còng lưng vác xà vác sứ". Còn anh em bộ binh sau này cũng nói thật vui "Chúng tôi cõng các ông trên lưng đưa các ông đi lãnh huân chương". Nói là nói vui thế thôi chứ các đơn vị này phối hợp thật giỏi với trung đoàn.

Hình ảnh anh lính vận chuyển 132 khi đó là thế này: trên vai anh ta là một nửa cuộn dây đồng hay dây sắt nặng cỡ 25 đến 35kg, hoặc một bó xà từ 3 đến 4 chiếc, hoặc một gùi sứ với chân sứ, đủ nặng để gập người về phía trước lấy thăng bằng khi leo dốc. Và cứ hai người nhùng nhằng với nhau một cuộn dây như thế mà đi. Bởi vì không bao giờ lính 132 tự tiện cắt một cuộn dây ra làm hai. Thêm một mối nối là chất lượng đường dây giảm đi một chút. Mà chất lượng đường dây có khi đưa đến sự sống chết của một đơn vị nào đó.

Sau khi đã vận chuyển tạm đủ vật liệu cho đợt ra quân đầu tiên, các đại đội bắt đầu mở chiến dịch "Kéo Đường dây Thống nhất trên đỉnh Trường Sơn". Có hàng ngàn sáng kiến của lính 132 đã phát minh để làm một đường dây không giống ai trên thế gian này!

- Gặp một cái cây mà thân nó quá lớn, đinh ốc lắp và không đủ độ dài.

- Mỗi đoạn đường dây vượt sông là ra đời vô số sáng kiến. Mà trong mấy chục lần vượt sông không có đoạn vượt sông nào giống đoạn nào.

- Chọn cây nào để lắp xà, đảm bảo đường thẳng, an toàn mà lại đúng cự ly 50m một cột...

- Rải dây và nâng dây lên cổ sứ trong điều kiện rừng đầy cây như vậy.

- Chặt cành, chặt cây sao cho đúng yêu cầu kỹ thuật nhưng không để lộ lá khô trên các ngọn cây. Kỷ luật Trường Sơn là như vậy không được để lộ bất cứ dấu hiệu của sự sống trên mái lá rừng già. Những máy bay, bom đạn trị giá hàng triệu đô la của Mỹ sẽ bắt anh phải trả giá bằng chính sự sống.

- Rải dây qua hai vách núi, hai bờ vực khi mưa lũ.

- Đo đạc trong rừng sâu mà hai bên không nhìn được nhau người lính đo đạc phải dùng tiếng hú để định hướng.

- Đường dây gặp phải độ núi quá dốc.

Những chiến sĩ của Trung đoàn 132 gặp lại nhau có thể kể hàng trăm, hàng ngàn câu chuyện về cách khắc phục những khó khăn để bảo đảm yêu cầu kỹ thuật và bảo đảm an toàn trong những quy luật ngặt nghèo của chiến tranh.

Càng gần ngày Tết, công việc càng khẩn trương hơn. Các đại đội đã phải áp dụng phương pháp làm đường dây dã chiến. Một cách làm mà từ trước đến khi đó bộ đội 132 chỉ thực tập trong huấn luyện. Đó là cách làm vừa hành quân vừa dựng đường dây. Bộ đội hành quân tới một điểm đã định. Hạ ba lô xuống quay ra làm đường dây. Tới một khoảng cách nào đó đơn vị cử một số người quay lại chuyển ba lô lên, đơn vị vẫn tiếp tục thi công. Tới khi trời tối, không làm đường dây được nữa mới quay ra mắc võng nghỉ tại chỗ. Cơm nước do anh nuôi nấu tại một địa điểm thích hợp rồi gánh thẳng ra chỗ bộ đội thi công. Anh em tranh thủ ăn xong là bắt tay vào làm luôn. Tránh sao lính 132 không có nhiều người bị đau dạ dày.

Càng gần ngày Tết, địch đánh cũng càng ác liệt hơn. Toàn thể Đại đội 3 thoát chết trong gang tấc tại một hang núi đá. Cả đại đội đã kịp thời di chuyển ngay từ chiều 29 tết. Đêm giao thừa máy bay địch ném bom, bắn tên lửa, thả mìn lá gan khắp rừng. Tại một mảng rừng non bên suối đầy sỏi, lính Đại đội 3 đã chia nhau những điếu thuốc lá Xuân Mới và Điện Biên của Bác Hồ gửi tặng.

Tết Mậu Thân! Liên hoan Tết có thịt hộp, rau muống phơi khô, kẹo và thuốc lá Bác Hồ. Kèm theo những gói rau muống khô là những lá thư của các em học sinh miền Bắc, các chú lính đường dây chuyền tay nhau những lá thư thân thương. Nhiều chú khóc thầm, con mắt đỏ lựng. Bát canh rau muống khô mới ngon làm sao vì có mùi vị rau quê nhà. Thật ra nó như mùi cám lợn, nhưng nó mới thú vị làm sao vì chính tay mẹ mình, em mình gửi vào đây cho mình nấu ra cái nồi đó.

Công trình hoàn thành, Tết Mậu Thân thắng lớn.

Đài tiếng nói Việt Nam phát nhạc nhiều tiếng đồng hồ liên tục. Lính tráng kháo nhau đó là một cách truyền lệnh của Trung ương tới các nơi trong cả đất nước này đấy.

Năm qua thắng lợi vẻ vang

Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to

Vì độc lập, vì tự do

Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.

Tiến lên chiến sĩ đồng bào.

Bắc Nam sum họp Xuân nào vui hơn!

Tết Mậu Thân! Tin thắng lớn làm nức lòng lính bao nhiêu thì sau Tết, địch nống ra khỏi căn cứ lấn chiếm đồi núi, lính 132 khổ cực thêm bấy nhiêu. Buổi tối còn yên ổn, buổi sáng ngủ dậy đã nghe tiếng nói láo nháo của địch trên đỉnh đồi. Thì ra trong đêm địch đã đổ quân, đặt lô cốt trên đỉnh đồi. Ta phải lẳng lặng chuyển quân ra xa. Lại có cả một kho hàng tấn gạo. Một nhóm cảnh giới, một nhóm ra sức vác gạo. Quân chỉ có một nhóm chưa hơn mười người, không đủ trang bị để đánh địch, lại còn nhiệm vụ làm đường dây nữa. Bộ tư lệnh đánh điện yêu cầu: "Trung đoàn phải di chuyển cách xa địch 30km theo đường chim bay". 30km là khoảng cách an toàn cho đường dây. Nhưng ở rừng, nhất là lại ở núi cao thì 30km là một khoảng cách có khi phải hai đến ba ngày đường di chuyển. Đỉnh 1001 mà lính ta thường gọi là dốc Ê ẩm, một ngày leo lên, một ngày tụt dốc vất vả mà đường chim bay có lẽ không quá 5km.

Tiếp đó là trận đói muối và gạo. Đói đến nỗi có anh chàng đã thốt lên: "Không thể hiểu được tại sao từng có lúc trong đời mình lại chê không ăn khoai sắn, đã có lúc mình đổ đi cả nửa gói muối vừng?". Chiến sĩ cũ của Trung đoàn 132 ngồi lại với nhau có thể kể nhiều ngày không hết những kỷ niệm tương tự.

Hơn một năm trời ở sâu trong rừng không thấy bóng một cô gái miền xuôi. Cho đến một lần họ gặp mấy cô thanh niên xung phong, mà lại đúng vào hôm chị em diện thường phục chứ không mặc quân phục! Thỉnh thoảng ghé qua một binh trạm, lính 132 mới được thấy thấp thoáng tà áo bà ba đen, tai nghe ríu rít tiếng nói cười phái nữ! Hoặc một lần mấy anh lính 132 nhà mình gặp cô gái Lào đi đổi hàng. Mỗi lần gặp gỡ như thế tuy không nói với nhau được một câu, không biết cả tên nhau nhưng là một kỷ niệm khó quên trong đời lính. Thật phúc lớn cho anh nào có được mối tình trong những năm đó. Có yêu đương nhau họ cũng tôn trọng nhau, giữ gìn cho nhau để còn làm nhiệm vụ lâu dài, một thứ tình yêu tuyệt vời trong sáng.

Thế rồi đơn vị được lệnh chuyển sang B dài.

Tất cả cán bộ chiến sĩ trong trung đoàn làm đơn tình nguyện đi B dài. Trong thời gian chờ chuyển đổi nhiệm vụ trung đoàn nghỉ ở một thung lũng rất đẹp. Đội tuyên truyền văn hóa xung kích tiếp tục sáng tác về đề tài đường dây vào chiến trường sâu. Các đơn vị thi nhau trang trí nhà hầm, lấy cây rừng về làm bàn ghế để có chỗ ngồi học và pha trà tán gẫu. Một anh chàng nào đó đã tìm ra loại dây leo pha trà rất ngon. Họ thi nhau sưu tầm rau rừng mới về cải thiện bữa ăn. Những hoạt động ấy làm cho lính quên buồn và họ càng thắt chặt tình đồng chí.

Nhưng một tin mới lại nhanh chóng lan truyền trong đơn vị. Trung đoàn được lệnh về Bắc. Vì họ đã sẵn sàng để vào sâu nên việc quay ra được tiến hành rất nhanh gọn. Ngày hành quân thắng lợi trở về thật vui khôn tả. Lính ta tha hồ mà nói dóc. Có anh đe về nhà sẽ mời toàn đơn vị về nhà mổ heo ăn. Anh ta sẽ cho thắp đèn từ trong nhà ra đến cầu ao rửa chân cho bõ những ngày thiếu ánh sáng trong Trường Sơn. Để dân làng khỏi cho rằng mấy thằng mình say sỉn nên phải thắp đèn từ trước khi ngồi vào chiếu rượu.

Đúng là" Lòng mở cờ tim gióng trống" trên đường về.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”)