10.11.25

"Nhạc sĩ" của Trung đoàn (7/8)

Phạm Huy Thưởng

Tiếp theo phần 6/8

Chúng tôi giữ chế độ luyện tập đúng như ở Hà Nội. Đội ở trong một cánh rừng già. Nơi ở của chúng tôi lại kế bên một con suối lớn rất đẹp. Hàng ngày chúng tôi trở dậy, chạy dài xong về làm vệ sinh cá nhân. Ăn sáng xong chúng tôi luyện thở sau đó luyện thanh. Sau hai lần tập này, anh em chúng tôi nói đùa là đã leo qua cái dốc "Ê ẩm cái dốc cao 1001 mét nổi tiếng trên cung đường Bắc Trường Sơn. Sau phút giải lao ngắn ngủi, chúng tôi tập trung toàn đội học hát. Tất cả cùng phải học vì các nhạc công của chúng tôi không phải ai cũng biết ký xướng âm. Cơm trưa xong ai vào việc nấy. Người thì may phông màn bằng vải dù pháo sáng. Người thì làm thêm, sửa chữa nhạc cụ. Chúng tôi củng cố nhà hầm, lán trại. Một số đi kiếm rau ăn. Có người đi bắt cá, mò hến, mò trai... Đúng 2 giờ chúng tôi vào giờ tập buổi chiều. Tốp ca tập riêng với tôi. Nhóm nhạc công tập với Kha và Khiển. Có hôm chúng tôi dành cả ngày cho anh em tập hát chèo. Một tháng sau chúng tôi duyệt chương trình trước các đồng chí chỉ huy và Ban Chính trị. Chúng tôi tới hầm tài vụ nhận mỗi đứa một bộ quân phục mới với đủ cả phụ tùng là dây lưng, thắt lưng to bản, mũ tai bèo...

Buổi diễn đầu tiên tại một trạm giao liên. Khán giả chính là anh em trong Trung đoàn, thêm một số bộ đội vãng lai, khách của trạm giao liên và bà con dân bản. Buổi diễn rất thành công. Anh em mình ở Trung đoàn nói với tôi:

- Làm sao mà vào trong này các ông cũng có đủ đồ nghề. Toàn lính văn nghệ mới mà hát không thua khi ở ngoài Bắc. Bà con và lính giải phóng rất thích chương trình của mình. Mấy cô giao liên ôm nhau cười lăn lóc bên gốc cây. Đại đội chúng tôi tự hào về các ông đấy.

Anh em trong đội rất mừng vì lời khen của lính mình. Bởi kinh nghiệm nhiều năm, bụt chùa nhà thường không mấy linh thiêng. Dễ gì ở Hà Nội mà được các ông ấy khen cho một câu thật lòng như thế. Sau đây tôi xin kể một kỷ niệm không quên trong những ngày đó.

Đó là những ngày sau Tết Mậu Thân 1968. Đảng ủy miền Tây Thừa Thiên Huế tổ chức ba cuộc hội nghị tổng kết về quân sự, về công tác thanh niên và công tác phụ nữ. Ông Ba Hành, Bí thư Đảng ủy Miền cho người mang lá thư tới gặp Ban chỉ huy Trung đoàn. Ông Ba đề nghị cho đội văn công của Trung đoàn tới phục vụ ba cuộc hội nghị nói trên. Ông Ba đã xem chúng tôi biểu diễn ở đâu đó. Ông thấy diễn được nên mời chúng tôi.

Nhận lệnh của thủ trưởng Trung đoàn, tôi cùng nhóm sáng tác chuẩn bị chu đáo cho chuyến đi diễn có tính ngoại giao này. Mấy đứa tôi đi trước để thâm nhập sáng tác thêm một số tiết mục mới ở đây. Có thêm tiết mục sáng tác tại chỗ chương trình biểu diễn sẽ phong phú và hiệu quả cao hơn. Ba đứa chúng tôi gồm: Thân Trọng Việt, Vũ Trọng Ngà và tôi.

Ba đứa chúng tôi lên đường vào một buổi sớm. Trời trong vắt điểm mấy đám mây rực rỡ. Nắng lên cả cánh rừng sống động, xôn xao hẳn lên. Chúng tôi đi qua những bản Pa Kô, Tà Ôi. Đây là những bản mới, vì bà con mới sơ tán ra ở từ những ngày bom Mỹ đánh mạnh lên tới vùng núi. Mùa xuân cây cối xanh tươi, sức sống thật kỳ diệu. Bom đạn Mỹ đánh hủy diệt như thế, con người vẫn hoạt động và mùa xuân đem màu xanh tới lấp kín những hố bom đủ loại, khắp rừng. Chỉ vài cơn mưa cây rừng lại tươi tốt như thách thức tàn bạo. Những cô gái nhí nhảnh hơn. Những chàng trai tươi tỉnh hơn và những người đàn ông cũng bớt lầm lỳ. Những bước leo dốc hình như nhẹ nhàng hơn và người ta xuống dốc thì như bay như lượn. Gặp bộ đội thì bà con chào hỏi ríu rít.

Chính mùa xuân làm nên không khí đó.

Tới cơ quan Đảng ủy Miền, mấy chị ở Hội phụ nữ ra đón. Một chị tỏ vẻ ngạc nhiên hỏi:

- Sao đội mình chỉ có ít người thế này?

Khi biết chúng tôi là những người đi trước để sáng tác thêm tiết mục cho đêm diễn, các chị hết sức vui mừng. Chúng tôi nghe ông Ba Hành và các đồng chí lãnh đạo Đảng ủy Miền giới thiệu về phong trào của quân và dân miền Tây Thừa Thiên Huế. Chúng tôi nghe rất nhiều chuyện kể về những tấm gương chiến đấu của quân giải phóng, của thanh niên và phụ nữ. Chúng tôi được đãi cơm "tiểu táo". Những miếng thịt tuy có mùi ôi ôi mà ngon miệng lạ thường. Dù sao thì đó cũng không phải là thịt hộp.

Qua hai ngày tôi bắt đầu lo lo. Chủ nhà đón tiếp nồng hậu như vậy, thủ trưởng Trung đoàn tin tưởng như vậy, đã tới đây trước mà không ra được tác phẩm nào cũng ê mặt. Ban ngày chúng tôi lân la hỏi chuyện mọi người. Ban đêm chui xuống nhà hầm, dưới ánh sáng của cây đèn dầu làm bằng vỏ quả bom bi, chúng tôi hý húi viết lách. Sáng sau tỉnh dậy tôi nhìn Việt như có ý hỏi, Việt đỏ mặt lắc đầu. Tôi hỏi Ngà, anh chàng cho biết đang viết một tổ khúc chèo và sẽ cố gắng làm mấy câu vọng cổ nữa. Con người tài hoa này đã nhiều lần góp cho đội những tác phẩm bất ngờ. Riêng tôi thì không lo lắm vì tôi đã hoàn thành bài hát "Đường dây về bản mới" và bài "Chiếc mũ nan". Đúng ra, thời chống Mỹ bộ đội mình có mũ cối, song riêng Trung đoàn 132 thì do hành quân bộ từ Bắc vào nên được trang bị mũ sắt. Vào trong này đội mũ sắt vừa nặng vừa nóng, lại thêm nỗi lo không cẩn thận bà con tưởng nhầm mình là lính Mỹ - ngụy, đòm cho một phát K44 thì tiêu mạng. Tôi cũng đang cố làm thêm một cái tấu hài kể chuyện anh bộ đội giải phóng miền Tây.

Hơn một năm qua, kể từ ngày thành lập Đội TTVHXK ở trong này, chúng tôi chỉ được diễn ban ngày. Không có gì ngại và khó cho bằng diễn văn nghệ ban ngày, mà lại là diễn không có sân khấu. Dưới ánh sáng trời, khuôn mặt mình có vẻ trơ ra trong lớp hóa trang. Không có sân khấu, người xem nhìn vào tận cuống họng mình mỗi khi ngửa cổ lên hát. Sau nhiều lần diễn và được người nghe động viên hết mức chúng tôi mới quen và diễn ban ngày cũng bốc lắm.

Hơn mười ngày ấy ghi đậm dấu ấn trong hoạt động của Đội. Bây giờ nghĩ lại mới thấy sức làm việc khi đó thật mạnh mẽ. Chỉ có hơn mười ngày trời, chúng tôi đã có tiết mục mới cho gần một nửa thời lượng chương trình và hoàn thành xuất sắc ba đêm diễn, mỗi chương trình dài đúng hai tiếng. Cũng thời gian ấy đã kịp để nảy nở mối tình thơ mộng giữa anh ca sĩ giọng tenor của đội và cô văn thư của cơ quan Đảng ủy miền Tây Thừa Thiên Huế.

Sau chuyến đi ấy, chúng tôi còn đi diễn ở nhiều nơi khác. Mấy buổi diễn ở Bệnh viện 68 cũng để lại ấn tượng tốt. Ngoài những buổi diễn tập trung ở từng khoa, chúng tôi chia thành hai nhóm nhỏ đến các phòng bệnh nặng diễn những tiết mục lẻ. Anh em chúng tôi hát, diễn tấu, ngâm thơ và làm ảo thuật cho bệnh binh nặng xem. Ban Giám đốc bệnh viện 68 nhiệt liệt hoan nghênh chương trình của lính thông tin.

Ở Trường Sơn khi đó có hai đoàn diễn thường xuyên là: Đội TTVHXK 132 và Đoàn văn công 559. Tại một cơ quan chỉ huy của một đơn vị giao liên chúng tôi gặp Linh Nhâm và nhóm văn công 559. Một anh bạn người Tà Ôi cùng xem tiết mục "Niềm vui anh quân bưu" của Linh Nhâm nói với tôi:

- Bộ đội này hát không hay bằng bộ đội đường dây của bạn tôi. Ý anh ta nói là đội của Trung đoàn 132. Vì tôi với anh ta mới kết bạn với nhau nên anh nói vậy.

Đúng ra thì Linh Nhâm hát rất hay. Nhưng văn công 559 thiếu một tốp ca nam mạnh. Vì vậy mà anh bạn người dân tộc thiểu số của tôi có lời nhận xét như vậy. Hơn nữa Linh Nhâm hát hay thật, nhưng đóng vai lính quân bưu, quậy trên sân khấu thì làm sao chị ấy bằng anh em chúng tôi.

Lại nói về anh bạn người Tà Ôi của tôi. Ngày đó ở Trung đoàn 132 có lệ là, đóng quân ở đâu là anh em đội mình thường kết nghĩa với dân bản. Chúng tôi cũng chỉ kết nghĩa với đàn ông con trai thôi. Kết nghĩa nam nữ thường lắm rắc rối trong mối quan hệ quân dân. Hơn tuổi nhau là anh em trai, bằng tuổi nhau là bạn trai với nhau. Đã là bạn với nhau thì phải giúp nhau, đến chơi với nhau, tặng nhau quà. Khi thì bạn đem cho mình mấy cây măng, miếng thịt lợn rừng vừa bắn được. Mình thì tặng bạn gói magi cô đặc, gói muối hoặc mấy cái ngòi nổ... hoặc thậm chí điếu thuốc và ca nước đường... Sang hơn nữa thì cái áo Tô Châu mới. Hình thức là tặng nhau, nhưng bản chất cũng như là một cuộc trao đổi bên đường rừng hồi đó. Có điều đã là bạn bè thì giá cả trao đổi bao giờ cũng rẻ hơn giá thị trường.

Cuối năm 1968 chúng tôi hành quân về Bắc.

Trên đường ra đến Quảng Bình Trung đoàn mới nhận được quà tặng, thuốc, nhu yếu phẩm và các trang bị văn hóa từ Bắc gửi vào. Những cái radio, những sợi dây đàn và các nhạc cụ nhận được lúc đó tuy hơi chậm một chút nhưng nó mới quý làm sao.

Chúng tôi về tập kết tại Thanh Hóa mấy ngày thì các đồng chí ở Bộ tư lệnh và Phòng Chính trị vào thăm. Cùng đi có một anh ở báo Quân đội nhân dân. Anh Khoan cầm tay tôi nói với anh kia:

- Đây là Huy Thưởng. Lá thư mà tôi chuyển cho anh chính là của anh bạn này.

Anh phóng viên bắt tay tôi nói:

- Sau khi nhận được lá thư ấy, mình đã viết bài báo "Lá thư từ chiến trường". Bài đăng trên báo Quân đội nhân dân, Huy Thưởng có đọc được không. Đọc bài báo đó ai cũng khen các cậu làm văn nghệ ở chiến trường giỏi lắm.

Tiếp đó là một đoàn văn nghệ do Phạm Khắc Vinh đưa vào chào mừng Trung đoàn. Buổi diễn ở sân kho sáng hôm đó, lính của toàn Trung đoàn lần đầu tiên có cuộc họp mặt đông đủ. Xem một chương trình mạnh gồm những tiết mục chọn lọc nâng cao của các đơn vị mới thấy sức mạnh của cả Binh chủng. Một hợp ca nam nữ hơn hai chục người, với phần đệm của cả chục cây đàn đã tạo ra một hiệu quả rất cao. Nghe đoạn cao trào bài "Thông tin lên đường" của chính mình, tôi tưởng gục xuống sân vì nghẹt thở. Khi đó tôi đang bị sốt rét, lại thêm hơn một tuần lễ không ăn mất ngủ vì mấy viên sỏi thận hành hạ.

Tôi ngất ngây hạnh phúc khi anh Vinh đưa cho tôi lá thư của Minh Tâm. Mấy năm trời nhớ nhung để hôm nay đọc dòng chữ: "Bây giờ anh đã an toàn về đến nhà rồi, cầu mong anh chóng lấy lại sức khỏe và rồi gặp nhau hai đứa mình sẽ cùng hát bài hát em gửi kèm đây". Đó là bản nhạc "Trai anh hùng gái đảm đang" của Nguyễn Đức Toàn. Bài hát vốn đã hay, nàng lại tẩm đẫm nước hoa vào đấy làm cho anh chàng tôi nhiều lần ngạt thở. Tôi ngạt thở vì cái hạnh phúc dâng ngập con tim và ngạt thở vì hít nhiều nước hoa quá.

Những khi cơn sốt rét tạm lui, tôi bắt tay ngay vào tập hợp các tài liệu ở chiến trường và bắt đầu chuẩn bị cho chương trình biểu diễn mới dành cho lễ mừng công của Trung đoàn. Tôi viết bài "Anh lái xe đường dây". Một lần anh em đội xe kêu tôi sang đội xe uống trà Thái Nguyên. Đưa tôi ly trà thơm ngát, Lê Thọ, Đội trưởng đội xe Trung đoàn nói:

- Anh em lái xe ở Trung đoàn mình, lái chiếc xe chở những cột, xà, sứ... đến công trình. Cả đường xe và đường dây đều tiến ra tiền phương. Hình ảnh đẹp thế mà ông không viết cho chúng tôi một bài hát thì ông tệ quá.

Đi xe của anh em mình, uống ly trà ngon anh em mời mà không viết được bài hát với hình ảnh tuyệt đẹp ấy thì tệ thật. Tôi nghiền ngẫm hai ngày đêm, đêm thứ ba thức gần trắng thì viết xong bài hát. Hoàng Thanh Phụng là một lính mới người Hà Nội có giọng tenor rất đẹp đã học bài này chỉ trong 15 phút. Sau đó tôi ôm cây mandolin cùng với Phụng sang đội xe hát tặng. Hơn nửa tiếng sau cả đội xe hát um lên bài này.

"Trên đường xa, theo nhịp xe, là tôi hát bài vui ca. Trên đường xa, theo đường dây, đường tiến ra tiền phương đượm hương lúa mới".

Anh em lái xe 132 chấp nhận bài hát này của tôi một cách rất vô tư.

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Những chặng đường tín hiệu". NXB QĐND 2005) 

7.11.25

"Nhạc sĩ" của Trung đoàn (6/8)

Phạm Huy Thưởng

Tiếp theo phần 5/8

Chúng tôi vào đến khu vực tập kết thì được nghỉ một ngày để đào hầm, củng cố chỗ ăn nghỉ. Hôm sau nữa chúng tôi bắt tay ngay vào việc vận chuyển vật liệu. Chúng tôi chặt tre, chẻ nan đan những cái sọt. Chúng tôi xếp xà và sứ vào những cái sọt rồi gùi trên lưng như kiểu đồng bào đi nương.

Một hôm chúng tôi vừa làm xong chuyến chuyển xà sứ về đến khu rừng đóng quân thì nghe nói anh chị em TTVHXK Trung đoàn 134 vừa vào đến nơi. Lính 134 và lính 132 vốn thân nhau từ xưa. Bởi hai chúng tôi chung nhau những đường dây quân sự. 132 làm đường dây xong giao cho 134 khai thác bảo vệ. Lính văn nghệ của hai trung đoàn thân nhau còn hơn nữa. Nghe tin anh chị 134 tới tôi mừng lắm.

Tôi vừa đặt lưng lên võng định nằm nghỉ chờ cơm thì anh Ba Quyền tới. Anh Ba ồn ào nói nói cười cười:

- Huy Thưởng đâu rồi ra đón khách.

- Thủ trưởng mình vớ bở rồi.

Không biết tên nào trong trung đội tôi nói to lên câu đó. Và kia, một đám đông bộ đội trai gái từ khúc đường vòng dưới tán rừng già ập tới. Nhanh chân nhất là Tuyết Lan, rồi thì Lệ Phái, Hữu Cay, cặp hát chèo Lộc và Nhẫn, anh đồng nghiệp mê chèo Phạm Bá Hiến... Anh Ba Quyền lật chiếc mũ mềm trên đầu tôi lên. Tất cả chủ khách cùng cười ầm lên vì cái đầu trọc lốc của tôi.

- Sao anh lại để đầu tóc như vậy? - Tuyết Lan tỏ vẻ áy náy hỏi tôi.

- Vào đây có phải lên sân khấu nữa đâu mà để tóc. Cạo trọc cho mát. - Tôi trả lời Tuyết Lan cho qua chuyện. Tuyết Lan hỏi tiếp.

- Anh có buồn lắm không? Ở chỗ hội diễn, khi chúng em biết tin thì anh đã đi rồi. Anh em mình chẳng kịp nói lời chia tay nữa. - Sự quan tâm của Tuyết Lan làm tôi mát từng khúc ruột.

Chiều hôm sau chúng tôi nghỉ sớm để về xem chương trình biểu diễn của các bạn 134. Theo thói quen thường khi, tôi lăng xăng bên cánh gà giúp các bạn 134 trong cả buổi diễn. Xong buổi diễn chúng tôi chia tay thật bịn rịn. Tuyết Lan nói nhỏ với tôi: "Gắng giữ gìn, xong nhiệm vụ trong này về gặp nhau tại Hà Nội anh Thưởng nhé".

Không bịn rịn sao được vì ngày mai họ lại lên xe về Hà Nội. Còn chúng tôi thì cứ mỗi ngày vào sâu hơn.

Tôi sẽ không kể nhiều về đường dây trên Trường Sơn này. Bởi đó là một câu chuyện rất dài. Phải một cuốn sách mới kể được hết. Tôi chỉ xin trích kể ra đây một chuyện: đó là việc chúng tôi đã lập Đội TTVHXK ở chiến trường như thế nào.

Sau Tết Mậu Thân 1968, địch bắt đầu phản công. Chúng đổ quân và thả ống cống xi măng lập trận địa khống chế ta từ trên những ngọn đồi. Lại cho máy bay Mỹ đánh phá ác liệt hạn chế vùng Khu Bốn, trong này thì địch nống ra chặn giữ ác liệt vùng Thừa Thiên Huế, chúng tôi ở giữa bị mắc kẹt cả hai đầu. Thế là lần đầu tiên vào chiến trường chúng tôi bị đói gạo, đói muối. "Không thể tưởng tượng được có lúc mình chê khoai lang. Lại có lúc mình bỏ đi cả một gói muối vừng ăn xôi sáng không hết". Cái lúc cơn đói nổi lên dữ dằn chúng tôi tự hỏi như thế. Chúng tôi nhận được lệnh từ Hà Nội là "Phải chuyển quân ra cách xa những nơi Mỹ đổ quân từ 20 đến 30 kilômét". Ở trong này chúng tôi không thể thực hiện được việc di chuyển với những khoảng cách như thế. Bởi vì ở trong rừng có khi cả ngày mới vượt được một cái dốc dài có 10 kilômét tính trên bản đồ.

Phần do địch nống ra đánh phá, phần do đói chúng tôi lâm vào hoàn cảnh thật khó khăn ác liệt. Và thật là kỳ lạ, vào chính lúc ác liệt như thế Phó Chính ủy Nguyễn Mạo kêu tôi làm kế hoạch thành lập Đội TTVHXK. Phó Chính ủy lúc này cũng đã bị sốt rét, nhưng ông vẫn đi theo chiến sĩ hàng ngày, ông vẫn có mặt ở những điểm xa nhất, ác liệt nhất trong đội hình Trung đoàn.

Tôi từ đại đội lên khu rừng Trung đoàn bộ. Tại hầm Chính ủy, ông đặt bát nước đường lên cái bàn ghép bằng cành cây rồi nói:

- Phải thành lập Đội TTVHXK ở đây thôi. Anh em mình vất vả quá mà không được giải trí. Huy Thưởng thấy sao? - Ông nói với tôi, giọng trìu mến.

- Thủ trưởng có ý kiến như thế là rất hay. Nhưng tôi nghĩ khó quá, vì nhạc cụ không có, tiết mục cũng khó khăn, còn con người không biết có được những ai ở trong này?

- Cậu cứ tính toán đi. Lúc này mà lập được đội văn nghệ, biểu diễn được cho anh em và bà con xem mới là quý, mới là giỏi.

Tôi xin ông cho tôi một tuần chuẩn bị rồi sẽ báo cáo lại. Ông hỏi thêm:

- Có thể làm được không?

- Chắc chắn làm được. Tôi sẽ tìm cách, xin thủ trưởng cứ yên tâm.

Từ hầm chỉ huy về, tôi tìm gặp Kha và Khiển. Tôi nói với họ về ý đồ của lãnh đạo Trung đoàn. Kha nói:

- Về con người thì anh khỏi lo, tôi với Khiển đã nhắm được một số anh em. Cũng tạm đủ Đáng lo là nhạc cụ. Cây ghi ta tôi bỏ lại tại một trạm giao liên gần đây. Nó bị bong một bên thùng đàn nhưng tôi sẽ dán lại được. Chỉ lo dây đàn đứt hết, liệu có thứ gì thay được.

- Tôi còn giữ mấy bộ dây inox trong ba lô. - Tôi nói.

- Thế thì tuyệt.

- Ở trên binh trạm tôi thấy có một cây đàn manđôlin cũ, họ gài trên vách lá. Chắc là mình xin họ cho thôi.

Khiển phát hiện. - Cũng chỉ lo dây đàn.

- Tớ cũng còn mấy bộ dây manđôlin nữa.

Tôi nhớ lại hôm chuẩn bị ba lô ở Hà Nội, thấy mấy bộ dây đàn tôi đã định bỏ lại. Song linh tính mách cho tôi biết là cứ đem đi chiến trường, thế nào cũng có lúc cần đến.

Chúng tôi mừng là hai thứ đàn khó nhất đã có cách giải quyết.

Khiển nhận lời sẽ làm một cây nhị theo tiêu chuẩn xuất khẩu vì ở đây chẳng thiếu gì gỗ quý, chẳng thiếu gì trăn với rắn để lấy da làm mặt đàn. Kha hứa sẽ làm một cây đàn tam. Riêng tôi còn nhớ công thức khoét sáo trúc. Chúng tôi bắt tay vào làm nhạc cụ. Và tôi cũng lập một danh sách triệu tập anh em về Đội TTVHXK. Tôi còn nhớ một số người trong danh sách TTVHXK ở chiến trường. Đó là Nguyễn Hồng Liên, Thân Trọng Việt, Lý Ngọc Đới, Nguyễn Văn Nghi, Nguyễn Đức Thông, Nguyễn Văn Thụy, Nguyễn Anh Phong, Vũ Trọng Ngà.

Mấy hôm sau, trong một chuyến đi công tác, đang đi trên một đoạn đường mòn kề gần một dòng suối, chúng tôi chợt thấy có tiếng lao xao dưới bến nước. Kha nói:

- Để tôi xuống xem có gì mà bà con xúm đông ở dưới đó.

Giây lát, Kha vừa reo vừa chạy lên:

- Ổn rồi. Có đàn rồi. - Miệng nói, anh chàng giơ cao một khúc thịt tròn tròn và một mớ da nữa. - Trăn đấy. Da trăn đấy. Có da trăn là có tất cả, nhị, líu, đàn tam, trống đế. Thắng rồi. - Tôi nghĩ bụng, chưa chi đã vội nói thắng. Còn bài vở, còn con người nữa chứ. Nhưng thôi có được thế này cũng là chắc ăn rồi.

Sau khi đã tính toán chu đáo tôi báo cáo đồng chí Phó Chính ủy một kế hoạch chi tiết. Tôi, Nguyễn Văn Kha, Vũ Trọng Ngà và Thân Trọng Việt được lệnh tập trung về Ban chính trị. Chúng tôi chuẩn bị nội dung tiết mục. Tôi ôm lấy cái đài, nghe chọn những bài hát hay và ký âm lại. Tôi phải mất khá nhiều lần nghe mới ghi xong bài "Niềm vui anh chiến sĩ quân bưu" của Vũ Trọng Hối. Kha thì chế tạo các nhạc cụ. Ngà viết một hoạt cảnh chèo về bộ đội đường dây ở chiến trường. Việt làm một cái tấu hài và một bài thơ. Tôi viết được bài hát "Đường dây qua bản Lào". Rất nhanh chóng, chúng tôi có đủ nhạc cụ cho một dàn nhạc nhỏ. Những đội viên cũ ở các ở đại đội phát hiện thêm cho chúng tôi những hạt nhân mới. Một tuần sau chúng tôi tìm đủ mười một người cho một Đội TTVHXK. Gần một nửa là những đội viên đã từng hoạt động, số còn lại là những người mới toanh.

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005) 

5.11.25

"Nhạc sĩ" của Trung đoàn (5/8)

Phạm Huy Thưởng

Tiếp theo phần 4/8

Thật là một ngày vất vả cho công tác chuẩn bị. Chúng tôi không được đi theo tuyến của Đoàn 559 nên phải mang vác mọi thứ vũ khí, đồ ăn, lương khô, vật liệu và dụng cụ làm đường dây. Mỗi người phải đem một bọc hoặc là một ký muối rang, hoặc là một ký lạc nhân sống. Mỗi người một ruột tượng 5 ký gạo; mỗi người một khẩu súng và một cơ số đạn theo điều lệnh chiến đấu. Mỗi người giữ trong ba lô 1kg đến 2kg hoặc dây 1,6mm, hoặc thiếc hàn, nhựa thông. Mỗi người đem theo một số dụng cụ như kìm, mỏ lết, mụp, ma soa, mỏ hàn, búa... Tính ra, trong chuyến đi này, ngoài trang bị cá nhân như lính bộ binh mỗi đứa chúng tôi phải mang thêm trên 10 kilôgam đồ ăn dự trữ và vật liệu, dụng cụ đường dây. Chuyến đi này chúng tôi mới thực sự hiểu được câu nói dân gian: "Con ruồi nặng đồng cân". Thậm chí tôi đã bắt tay viết một bài hát vui về ý tưởng đó.

Đúng 5 giờ chiều, toàn đại đội tập hợp lên đường. Từ đây vào Khu Bốn chúng tôi được đi xe ban đêm. Mỗi trung đội đi một xe Zin 3 cầu. Xe không có mui. Anh em ngồi lên ba lô. Trời mưa gió suốt mấy đêm liền. Anh em chúng tôi khoác áo mưa ngồi đó. Mặc cho xe nghiêng ngả, xoay ngang chạy dọc vì hố bom, vì vũng lầy. Ba ngày sau chúng tôi tới địa điểm tập kết, kết thúc phần đường đi bằng xe. Đó là một thôn nhỏ gần bờ sông Lam. Đêm đó chúng tôi ngủ trong nhà dân. Một ngôi nhà nhỏ mái lá vách đất như bao ngôi nhà khác của bà con Khu Bốn. Ngày hôm sau gọi là được nghỉ nhưng chúng tôi lại ra rừng cây bên những đồi cà phê tập mắc võng. Tôi tháo võng ra mắc võng vào bốn năm lượt cho thành thục rồi ghé lên võng nằm ngắm trời đất. Tôi định chợp mắt một chút rồi viết lá thư báo cho mọi người biết về chuyến đi này. Việc bộ đội đi chiến trường vào năm đó không còn phải giữ bí mật như những năm về trước.

Hôm đó trời nắng. Bầu trời trong vắt. Tôi cảm nhận một điều là hình như bầu trời ở Khu Bốn trong hơn, cao hơn bầu trời ở những vùng khác. Đang nằm thiu thiu, tôi chợt giật mình vì có tiếng sột soạt ngay bên cạnh võng. Tôi mở mắt nhìn ra thì bắt gặp ngay một cặp mắt long lanh đang chằm chằm nhìn tôi. Đó là một cô công nhân lâm trường. Cô gái lê dưới từng gốc cây nhặt những hạt cà phê rụng. Những hạt cà phê khô, bong vỏ, bày ra màu hạt trắng no tròn rụng dưới gốc cây. Đó chính là thứ cà phê nhất hạng. Cô gái mặc một bộ đồ bảo hộ lao động bạc phếch nơi lưng và vai, chỉ còn một chút màu đậm mồ hôi dưới hai nách. Bộ đồ bảo hộ lao động rộng thùng thình, che giấu đi tất cả những nét đẹp của người con gái. Cô gái bịt kín mặt bằng một cái khăn đã bạc gần hết màu xanh công nhân, chỉ còn lộ ra đôi mắt to kỳ lạ. Đôi mắt ấy chợt thoáng một nét long lanh trong giây lát nhìn tôi rồi lập tức đượm vẻ ưu phiền. Không hiểu sao tôi cứ cảm thấy đôi mắt ấy đã gửi cho tôi sự trách móc hờn giận. "Chúng mày đã kéo nhau đi hết. Chỉ để lại ở nhà những ông già, bọn nhóc con và một vài kẻ chẳng ra gì". Đôi mắt ấy nói như vậy chăng? Trước khi xa khuất tầm mắt, cô gái còn quay nhìn lại tôi với thoáng một cái lắc đầu. Đôi mắt ấy ám ảnh tôi nhiều năm sau, khi tôi vào hẳn chiến trường.

Tôi ngồi dậy, tranh thủ lấy giấy viết hai lá thư. Tôi làm hai bài thơ. Một đề gửi về Hải Phòng, một gửi tới Văn Điển. Một lá gửi tới cha mẹ tôi và một cho cô bạn gái có giọng hát trong vắt và nụ cười giòn tan.

Hết giờ tập mắc võng, chúng tôi về lại nhà dân chuẩn bị cho đợt hành quân bộ bắt đầu vào lúc trời chạng vạng. Tôi gọi tên cô gái con bà chủ nhà:

- Hồng Liên ơi anh nhờ em chút việc.

Cô gái giật mình kêu lên.

- Làm sao anh biết tên em? - Khuôn mặt trắng trẻo xinh xắn bông lựng lên màu đỏ. Tôi nói vui:

- Trách nhiệm của bọn anh là phải biết tên em khi đã ở nhà em, em không phải hỏi nhiều.

Tôi cười, cô bé cũng cười. Cô bé đâu biết là chính chú nhỏ nhà bên cạnh đã khai báo tất cả với tôi từ đầu tối hôm trước. Tôi đưa hai lá thư và một ít tiền lẻ cho cô ta và nói:

- Em biết là bọn anh đi chiến trường rồi. Anh quá bận nên hôm nay mới viết được thư để gửi về nhà. Anh nhờ Hồng Liên đem ra bưu điện mua tem gửi giùm anh.

Tôi cười nhẹ nói tiếp . Liệu anh có thể tin tưởng là những lá thư này chắc chắn sẽ về đúng địa chỉ không đây?

Cô gái mười bẩy tuổi ấy lại đỏ mặt lên, nói lý nhí:

- Anh cứ yên tâm đi. Anh giữ lại số tiền lẻ này. Anh hành quân bộ như thế này cũng cần tiền lắm đấy. Em có tiền riêng mà. Hai con tem có hai hào bốn xu đáng là bao. Được giúp các anh là em mừng lắm rồi. Em cũng có hai anh trai đi bộ đội, nhiều năm nay rồi mà chẳng có lá thư nào về nhà cả. Em biết gia đình anh cũng mong anh lắm chứ.

Tôi thấy nhói ruột vì câu nói đùa vô tâm của mình.

- Anh xin lỗi em. Anh rất mừng là ở đây lại có một cô em ngoan ngoãn xinh đẹp như thế này. Giúp anh lần này đi. Anh trở ra sẽ về đây tìm em.

- Anh cứ nói vậy. Em sợ rồi anh quên mất đường về đây. Vậy chứ ai là Minh Tâm ở Văn Điển đấy?

- Vậy chứ đứa nào tên là Văn ở xóm ngoài?

Cô hứ một tiếng cười bẽn lẽn rồi bỏ chạy vào buồng. Thì cũng chính chú nhỏ đó cho tôi biết cô này và người ấy đã phải lòng nhau như thế nào? Nói ra sợ cô gái đau lòng, anh chàng của cô cũng đi chiến trường hơn một năm rồi chẳng thư từ gì cả.

Sáu giờ chiều hôm đó chúng tôi bắt đầu chặng đường hành quân bộ.

Khoác lên vai chiếc ba lô cóc tôi lập tức nhận ra ngay rằng, gian nan đã thử sức chúng tôi bắt đầu từ đôi vai. Mới chỉ đeo ba lô đứng nghe mệnh lệnh hành quân tôi đã muốn gục ngay sau câu nói cuối cùng của Đại đội trưởng. Nhưng rồi đôi vai của tôi cứ lỳ đi, hay đúng hơn là con người mình cứ lỳ đi. Chẳng còn cách nào khác, không thể đùn gánh nặng này cho ai. Cũng không thể bỏ đây mà trốn vào đâu được. Và bởi vì tất cả mọi đứa chúng tôi đều như vậy. Thế là chúng tôi cứ thế lặc lè, nhịp nhịp đi tới.

Trong đội hình đại đội, trung đội tôi là đơn vị cuối cùng và tôi là Trung đội phó nên tôi phải đi cuối cùng. Vậy nên tôi là người bị chạy gằn nhiều nhất. Không có gì mệt cho bằng hành quân mà cứ chốc lại phải chạy dăm mười bước để đuổi kịp người đi trước. Có lẽ vì vậy mà tôi nhanh chóng làm quen với cuộc hành quân mang nặng lần đầu tiên trong đời này. Khoảng hơn tiếng đồng hồ sau, chúng tôi được lệnh dừng lại chờ vượt sông Lam.

Tôi ở trong tốp qua sông cuối cùng nên tôi phải chịu một thử thách cũng không kém phần ác liệt. Ngồi chờ thuyền qua sông tôi là người được nghe nhiều nhất tiếng hò của các cô gái sông Lam. Đúng hơn thì phải nói tôi là người phải chịu đựng nhiều nhất những tiếng hò ấy. Không phải vì các cô gái hò dở mà là vì các cô hò quá hay. Ngồi bên dòng sông mênh mang trời nước, trong một đêm sáng trăng như vậy, nghe giọng hò ấy bạn là cứ ríu ríu hai chân lại. Và bạn phải nhanh chân bước đi ngay. Bởi nếu chần chừ chậm lại tôi e bạn không bước đi được. Giọng hò ấy quá nuột nà, quá nặng, trái tim ta chịu không nổi đâu. Ấy vậy mà tôi phải chịu đựng gần một tiếng đồng hồ như vậy để chờ chuyến qua sông cuối cùng. Bước chân từ đò lên bờ đê, lúc đó tôi mới thật sự hiểu rằng thế nào là trái tim rớm máu. Nghĩ lại lần tôi bị bồ đá hồi mới nhập ngũ, tôi cho việc xảy ra khi đó chỉ là trò trẻ con.

Tôi không nhớ là chúng tôi hành quân bao nhiêu ngày thì tới A70. Tôi thấy nhiều ngày lắm. Cứ lầm lũi trong mưa, cả đoàn quân dài dài ấy đi và đi.

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005)

2.11.25

"Nhạc sĩ" của Trung đoàn (4/8)

Phạm Huy Thưởng

Tiếp theo phần 3/8

Sẽ là rất thiếu sót nếu tôi không kế tới hoạt động của chiến sĩ văn nghệ 132 trong chiến trường. Tháng 9 năm 1967 chúng tôi đã rất thành công trong hội diễn Binh chủng Thông tin. Tốp ca nam "áo trắng" của Trung đoàn 132 đã trình bày rất thành công các tiết mục "Hoan hô anh nuôi", "Bước chân trên dải Trường Sơn". Vở kịch "Ông già giao liên" gây ấn tượng tốt cho người xem. Chương trình của 132 đã được đánh giá cao. Chúng tôi được nhận lá cờ đỏ, tức là phần thưởng dành cho chương trình tốt nhất. Lúc này chúng tôi đã chấm dứt các vai nữ giả. Đơn vị đã tuyển được mấy cô gái ở Bắc Giang.

Chúng tôi đưa lên sân khấu những vai ông già và trẻ con. Tôi là người chuyên đóng vai ông già. Trong vở kịch "Ông già giao liên", chúng tôi xây dựng những vai kịch ba thế hệ. Tôi trong vai ông ngoại, Ngô Minh Chiến vai người mẹ và Thanh Phương vai cháu nội. Tôi phải đóng cả vai ông già trong một hoạt cảnh chèo của Trọng Ngà. Từ bé đến lớn tôi không hề hát chèo, nay phải đóng vai ông già với điệu hát Lão say. Điệu hát này tôi tập vô cùng vất vả. Suy cho cùng nó cũng chẳng khác gì anh em chơi nhạc cụ dân tộc nay phải tập đệm cho tốp ca nam hoặc hòa tấu nhạc ngoại. Mỗi người đều phải vượt ngay chính mình. Ngày đêm tôi tập hát điệu Lão say. Vũ Trọng Ngà cũng thật tốn công dạy tôi hát điệu này. Vở chèo ấy khi lên sân khấu không được người xem đánh giá cao lắm, nhưng vai Lão say được anh em hoan nghênh như một nỗ lực vượt bậc của cá nhân tôi. Tuy nhiên xét cho cùng vai ông già của tôi trong chèo cũng không hơn gì vai phi công Mỹ hát chèo trên sân khấu. Có khác chăng là một bên vai phi công Mỹ người ta cười ở nội dung vở diễn, còn vai ông già tôi đóng thì được cười ở cách hát với lối cộng minh cứng quèo.

Hội diễn vừa kết thúc tôi và Nguyễn Hữu Khiển, Nguyễn Văn Kha được lệnh về ngay Đại đội 4 để đi công tác gấp. Thì ra tôi tuy về Ban Chính trị Trung đoàn công tác đã mấy năm trời song biên chế của tôi vẫn là Trung đội phó ở Đại đội 4. Minh Chiến nói với riêng tôi:

- Nghe nói các anh đi chiến trường đấy. Có gì cần liên lạc với gia đình anh lo gấp đi. - Thậm chí cô bé này còn mách nước là tôi nên tranh thủ về nhà thăm gia đình rồi hãy tới Trung đoàn bộ lúc này đang ở Thượng Cát, Từ Liêm, Hà Nội. Chiến còn nói:

- Ít nhất thì anh cũng nên tranh thủ sang Văn Điển thăm chị Minh Tâm rồi hãy về đại đội.

Minh Tâm là cô bạn gái gần gũi nhất của tôi ngày đó. Nghe tôi nói không cần thiết phải tranh thủ về thăm gia đình bởi tôi không nghĩ là đơn vị sắp cử tôi đi chiến trường. Tôi cho rằng đi chiến trường là một công tác hệ trọng, cấp trên phải làm công tác tư tưởng chu đáo. Minh Chiến nói:

- Anh thật quá vô tư, không nghĩ gì về mình cả. Em nghe nói Đại đội 4 của anh cùng Đại đội 6 đã tập vác gạch đi bộ cả tháng nay ở trên Hà Tây rồi.

Nghe Chiến nói vậy trong lòng tôi có chút băn khoăn suy nghĩ, song rồi công việc tổng kết hội diễn đang gấp rút nên tôi cũng quên đi. Đúng ngày triệu tập, ba đứa chúng tôi giao lại Đội TTVHXK cho người khác phụ trách trở về Trung đoàn bộ. Tại đây thượng úy Nguyễn Thượng Quyền, thay mặt lãnh đạo ban giải thích cho chúng tôi rõ là phải về ngay Đại đội 4 để tập trung huấn luyện đi chiến trường. Thấy vẻ mặt buồn buồn của ba đứa chúng tôi, anh Ba Quyền nói câu an ủi:

- Rồi tất cả mọi người chúng ta sẽ cùng đi chiến trường đấy mà.

Tôi bực mình cắt lời anh:

- Nhưng mọi người đều biết trước việc này. Mọi người đều tranh thủ thăm gia đình trước khi đi. Các anh tệ lắm. Vì sao các anh giấu chúng tôi tin này? Phải chăng các anh sợ chúng tôi biết chuyện đi chiến trường sẽ làm không tốt nhiệm vụ tham gia hội diễn Binh chủng? Đến nay hội diễn đã thành công mỹ mãn các anh mới gọi chúng tôi về rồi tống chúng tôi đi luôn. Hóa ra chúng tôi là những người không được các anh tin tưởng nhiều lắm. Chuyến đi vào chiến trường này chẳng may xảy ra chuyện gì, có ai ân hận cho chúng tôi không.

Thật ra lúc đó tôi không nói được rành rẽ như thế này. Những lúc quá giận tôi thường lúng túng, nói không ra câu không rõ ý. Nhưng bây giờ việc đã xảy ra rồi cũng chẳng làm gì hơn được nữa. Tôi "nói lẫy" một câu rồi lo chuẩn bị. Nói là chuẩn bị chứ trong túi tôi không còn một đồng, quân trang chưa lĩnh nên chẳng mua sắm được gì cho chuyến công tác dài ngày đi xa của mình. Thậm chí ống kem đánh răng đã hết, phải vào đến Quảng Bình tôi mới mua được ống mới. Nếu như ở bên Văn Điển có lẽ tôi sẽ chuẩn bị được tốt hơn cho chuyến đi chiến trường vì cô bạn gái của tôi bán hàng bách hóa bên đó.

Ngày hôm sau ba đứa chúng tôi đeo ba lô, vác theo cây đàn ghi ta cùng lội bộ về Đại đội ở trên Phùng. Chúng tôi về tới nơi thấy mọi người đang chuẩn bị rất náo nhiệt. Những tưởng còn được nghỉ ngơi chuẩn bị thêm thì tôi được Đại đội trưởng Cận thông báo:

- Đồng chí về ngay trung đội làm công tác chuẩn bị với đồng chí Trung đội trưởng Trần Mậu Bảo. Đêm mai đơn vị bắt đầu hành quân rồi.

Tôi chỉ buồn trong giây lát rồi gặp lại anh em trong trung đội cũ của tôi là tôi quên hết.

Đêm đó mới thực sự là một đêm dằn vặt với tôi. Tôi sắp sửa bước vào một chuyến đi mà không biết kết cục sống chết sẽ ra sao. Thời gian này vào Khu Bốn cũng đã có thể chết người như bỡn. Nhưng Khu Bốn đâu phải là chiến trường. Vậy mà tôi không được chia tay với gia đình, bạn trai, bạn gái. Tôi còn bực vì nỗi chuyến đi này sống chết ra sao thật khó lường mà tôi không có được đến một cái hôn của cô bạn gái. Thêm một điều nữa, tôi đã gần hết năm thứ sáu là đối tượng kết nạp Đảng. Tuy chưa được kết nạp Đảng song cũng không có một đảng viên nào nói với tôi rằng tôi đã có những khuyết điểm gì. Chung quy vẫn chỉ một lời nhắc nhở là tôi phải phấn đấu tích cực hơn. Tôi trằn trọc tới gần sáng mới ngủ được.

Còn  nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005)

30.10.25

"Nhạc sĩ" của Trung đoàn (3/8)

Phạm Huy Thưởng

Tiếp theo phần 2/8

Bây giờ tôi xin kể đến hoạt động nghệ thuật quần chúng ở cấp trung đoàn. Bởi nếu phong trào ở cấp này không mạnh thì đừng nói gì tới cái mạnh ở cấp Binh chủng. Và xét đến cùng, sự chỉ đạo của Bộ mạnh như thế nào cuối cùng thì hiệu quả cũng thể hiện ở cấp trung đoàn.

Phải nói rằng khi ra quyết định thành lập Đội TTVHXK ở 132 thì cả thủ trưởng Trung đoàn và anh em chúng tôi đều tràn đầy bầu "máu liều" trong tim. Khi đó Trung đoàn chỉ có ba người có khả năng sáng tác được ít nhiều. Đó là Phạm Khắc Vinh, Vũ Trọng Ngà và tôi. Ngày anh em từ các đại đội về đến Văn Điển, chúng tôi mới chỉ có trong tay bài "Thông tin lên đường", ca khúc của tôi ở lớp học sáng tác của Bộ. Vũ Trọng Ngà nhận viết một tổ khúc chèo về lính đường dây. Tiếp đó, do mối quen biết từ xưa với Trung đoàn phó Lê Văn Thành, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý viết bài "Hành khúc dây trần" mà sau này anh em trong đơn vị vẫn quen gọi là bài "Từ Việt Bắc năm nào ta ra đi". Ngày ngày anh em chúng tôi luyện thở, luyện thanh, luyện hòa âm và dựng bài hát của tôi và bài của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý. Chúng tôi lại sưu tầm được bài "Đoàn quân 303", một bài hát truyền thống của đơn vị có từ thời chống Pháp. Bài này do ông Nguyễn Vũ Việt, một cán bộ của Đại đội 303 ngày trước sáng tác. Sau này chúng tôi gặp lại ông ở Bộ Cơ khí Luyện kim. Chúng tôi cũng dựng được một số bài moden chống Mỹ thời đó như "Hoan hô các cụ Thanh Hóa bắn rơi máy bay Mỹ", "Quảng Bình quê ta ơi"... Ít ngày sau Vinh làm thêm được bài hát "Tôi là chiến sĩ đường dây". Kế đó Trọng Ngà xin duyệt tổ khúc chèo "Hát về đường dây". Và phải đến gần hết thời gian tập luyện, Phạm Khắc Vinh mới viết xong vở kịch "Lý Tự Trọng, người chiến sĩ liên lạc của Đảng".

Trong dàn dựng tập luyện chúng tôi gặp rất khó khăn. Cái khó nhất là trong vở kịch Lý Tự Trọng có một vai nữ. Đó là vai một bà bán hàng rong ở cảng Sài Gòn. Sau nhiều lần bàn bạc chưa tìm được người đóng thế chúng tôi phải mượn một cô gái trong xã vào vai này. Thật ra đây chỉ là cách tạm thời để kịp diễn báo cáo cho đúng thời gian quy định. Về lâu dài đi diễn ở các đại đội thì phải có người trong đơn vị. Có một biện pháp rất cổ nhưng tạm sử dụng trong lúc đó là chúng tôi đã chọn người đóng giả nữ. Anh chàng Cao Xuân Thảo, người Hà Nội được chọn đóng vai bà hàng rong. Thảo có giọng nói rất con gái, còn động tác thì hoàn toàn là một anh con trai vụng về. Chúng tôi phải rất công phu trong việc hóa trang cho Cao Xuân Thảo vào vai này. Bản thân Thảo cũng dày công luyện tập để vai kịch có thể được bộ đội chấp nhận.

Cái khó nữa là thiếu nhạc cụ và thiếu người chơi. Nhạc cụ khó sắm vì không đủ tiền, tuy nhiên cuối cùng chúng tôi vẫn kiếm được cách để có những cây đàn. Riêng người chơi đàn thì phải luyện tập mới đủ người chơi. Chúng tôi đã giải quyết khó khăn này bằng hai cách. Một là khi phối âm cho dàn nhạc đệm chúng tôi chọn chủ yếu là nhạc cụ dân gian: sáo, nhị, đàn tam, đàn tứ, thập lục, đàn bầu với ba loại trống là trống chầu, trống đế và trống cái. Anh em chơi nhạc cụ này phải học nhạc lý để biết cách sử dụng phần phối khí. Thậm chí các nhạc công của dàn bát âm này còn phải chơi được một số bản nhạc nước ngoài thịnh hành khi đó như La Paloma (Cánh buồm xa xưa), Bengawan Solo (Dòng sông Solo), Hoa đẹp Chămpa và Cachiusa... Còn cây đàn mandolin, ghi ta, accordion và cả kèn harmonica nữa thì chúng tôi phân công nhau mỗi người tập một thứ để chỉ đệm cho một bài, thậm chí tập để hơi thành thục một đoạn nhạc, để khi biểu diễn anh có thể trình bày đoạn độc diễn đó thật hay. Thanh Phương với cây acccordion 36 phím ngày đêm tập đi tập lại một đoạn nhạc mở đầu của bài "Tiến bước dưới quân kỳ". Huy Thưởng ôm cây mandolin sáng trưa tối chỉ tập một đoạn nhạc dạo của bài "Tiếng đàn ta lư", đoạn nhạc có một chùm tám nốt móc kép. Nguyễn Văn Kha tập đệm với cây đàn ghi ta. Kha nguyên là tay chơi nhị và đàn tam khá tốt, nay tập ghi ta có những cái khó riêng.

Tập để chơi thành thạo một nhạc cụ nào đó người ta phải mất nhiều năm. Nhưng chỉ tập cho thành thục một vài câu nhạc hoặc một hai bài hát với một cây đàn nào đó thì có thể thấy trong thời gian ngắn là làm được. Kết quả là trên sân khấu người xem thấy anh em chúng tôi ai cũng biết chơi đàn. Buông cây nhị ở tiết mục trước, tiết mục sau bà con thấy anh chàng Kha ôm cây ghi ta, mà lại chơi khá chuẩn đoạn nhạc solo dành riêng cho anh ta. Nào ai biết để chơi cho nổi đình đám, anh ta đã mất cả mấy tháng trời tập đi tập lại chỉ một đoạn nhạc chưa đầy 20 nhịp.

Sau hai tháng vừa tập luyện vừa sáng tác dàn dựng chúng tôi đã có một chương trình biểu diễn 105 phút, trong đó phần tự biên chiếm hơn 60 phút. Một thành công ngoài sức tưởng tượng của cả chúng tôi và các thủ trưởng Trung đoàn.

Sau đêm diễn báo cáo Đảng ủy và thủ trưởng Trung đoàn, chúng tôi diễn đêm đầu tiên tại sân kho thôn Cổ Điển B, xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì, nơi Trung đoàn sơ tán đóng quân từ tháng 8 năm 1964. Đêm diễn đầu tiên này có một giọng ca khá nổi ở địa phương là Minh Tâm tham gia. Tiết mục đơn nữ hai bài "Tây Nguyên ơn Bác" và "Cô dân quân miền núi" do Minh Tâm trình bày là tiết mục đệm trong khoảng thời gian hóa trang cho vở kịch.

Tiếp đó chúng tôi đi biểu diễn ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Tây, Thanh Hóa, tại những nơi có các đại đội đang làm các công trình đường dây ở đó. Đợt đi diễn này  kéo dài khoảng ba bốn tháng. Đi biểu diễn hết vòng các đại đội, chúng tôi về Trung đoàn bộ. Chúng tôi tổng kết, rút kinh nghiệm xong là giải tán cho anh em về đại đội.

Tại Trung đoàn bộ, chúng tôi lại bắt tay chuẩn bị cho đợt hoạt động tiếp theo. Chúng tôi trình lên thủ trưởng Trung đoàn danh sách mới của Đội TTVHXK đợt tới. Những chiến sĩ có năng khiếu ở đại đội mà chúng tôi tìm được trong suốt đợt biểu diễn vừa qua. Chúng tôi gom lại các tiết mục mới. Những sáng tác của chúng tôi và của anh em trong các đại đội mà chúng tôi sưu tầm được trong chuyến đi khắp miền đất nước. Chúng tôi sáng tác thêm, và tiếp tục tìm kiếm những tiết mục đang nổi trong và ngoài quân đội. Trên dưới hai tháng làm việc như vậy chúng tôi chuẩn bị chu đáo cho đợt tập trung mới của Đội TTVHXK. Đợt hai này Phạm Khắc Vinh có bài "Hoan hô anh nuôi". Bài hát có một đoạn gây ấn tượng mạnh cho người xem là "Giôn xơn Giôn xiếc, Tay lơ Tay liếc, Ma ra Ma riếc tất cả đều thua... Thua cái chôn nồi... nồi anh nuôi". Đợt này tôi viết được bài “Chuyện cái sứ". Mấy tháng sau lại một chương trình mới với một đợt diễn mới. Rút kinh nghiệm từ đợt trước, đợt này chúng tôi tập luyện và dàn dựng một cách có bài bản, nhanh gọn và chất lượng cao hơn.

Có một lần đội chúng tôi lên biểu diễn ở Nhà hát lớn Hà Nội. Tốp ca nam hát bài đầu tiên chút nữa thì bị hỏng. Lý do là vì ở nhà quen tập trong phòng nhỏ. Ra sân khấu lớn tiếng hát như bị hút đi đâu mất. Sau lần đó chúng tôi không tập hát trong nhà nữa. Chúng tôi tập hát ở ngoài sân, thậm chí tập cả dưới trời mưa phùn. Bởi vì quanh năm suốt tháng chúng tôi đến các đại đội đều diễn ở ngoài trời. Thấy anh em sức khỏe yếu, hát không đủ hơi, chúng tôi tập chạy dài mỗi tuần ba lần, thay vì cho một lần như điều lệnh quân đội quy định.

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005)

 

28.10.25

"Nhạc sĩ" của Trung đoàn (2/8)

Phạm Huy Thưởng

Tiếp theo phần 1/8

Sau khóa học tôi trở về Trung đoàn công tác với một tinh thần mới. Tôi càng hiểu đầy đủ hơn về một con người được trang bị những kiến thức văn hóa cao hơn. Đại đội tôi nổi tiếng là đơn vị hát tập thể hay. Trung đội tôi ngay khi đi dã ngoại vẫn duy trì đầy đủ những đêm sinh hoạt văn nghệ thứ năm hàng tuần như ở trong doanh trại. Anh em chúng tôi hát nhiều tới mức đòi hỏi phải có cách hát gì mới hơn là vừa hát vừa vỗ tay. Thế là mặc dù là hát tập thể, cả trung đội chúng tôi vẫn tập dựng những lối hát cao hơn. Mở đầu là bài hát "Du kích ca" với lối hát canon. Một tiểu đội được phân công hát bè đuổi ở lần hát thứ hai. Chúng tôi chỉ tập một buổi tối anh em đã vào bè, vào nhịp rất chuẩn. Tiếp đó tôi soạn một bè đơn giản cho bài "Tiến bước dưới quân kỳ", bởi vì bè hai bài này của nhạc sĩ Doãn Nho có mấy chỗ rất khó hát cho tập thể. Một tiểu đội được tôi dành riêng học hát bè hai. Sau mấy tối học hát riêng, cả trung đội tập hát ghép hai bè. Bài "Tiến bước dưới quân kỳ" được cả trung đội của tôi hát khá chuẩn cả hai bè. Những lúc hát tập trung toàn đại đội thì anh em bè hai hát càng lớn. Học hát tập thể như vậy anh em rất thích. Những hiểu biết về hòa âm tuy rất nhỏ ấy đã làm anh em tự hào hơn về đơn vị của mình. Và trung đội tôi là một trung đội luôn luôn được làm những nhiệm vụ độc lập.

Chúng tôi thường đi công tác dã ngoại, đóng quân ở nhà dân nên mỗi lần sinh hoạt đại đội là một lần gây ngạc nhiên hứng thú cho bà con. Bà con nhận xét "Có một số chú trong đơn vị hát sai điệu, nhưng nghe kỹ lại thấy hay". Tiếp đó tôi soạn bè hai cho anh em học tiếp "Bài ca trên đường dây" (Nguyễn Đức Toàn), "Cùng nhau đi hùng binh", "Giải phóng miền Nam"... Bài "Vì nhân dân quên mình" cũng được tôi soạn bè cho anh em hát. Với bài "Vì nhân dân quên mình", ở đoạn cuối cùng chúng tôi còn đưa lên một giọng với cao một bát độ. Vì chúng tôi có Trần Bảy, còn gọi là Bảy lùn, một chàng trai có giọng tenor khá chuẩn. Coi như chúng tôi đã hát tập thể bài này với ba bè.

Cách hát như thế làm cho anh em trong đơn vị rất vui và càng tự hào về đơn vị mình. Có một lần các nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn, Huy Du, Văn An và các nhà thơ Chính Hữu, Xuân Miễn đi thâm nhập ở Trung đoàn 132. Trong tối sinh hoạt tại Trung đội 3 của tôi, sau khi nghe anh em chúng tôi hát bốn năm bài tập thể, anh Văn An hỏi Phạm Khắc Vinh:

- Đây là đội tuyển của các cậu phải không?

Vinh nói:

- Đây là trung đội của Huy Thưởng, một trong mấy chục học trò của anh ở lớp sáng tác ca khúc Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc đó. Anh em hát mãi một giọng sinh chán nên Huy Thưởng soạn bè cho trung đội nó hát chơi mà. Anh nghe có lọt lỗ tai không?

- Nếu hát tập thể mà được như thế này thì quá giỏi còn gì. - Anh Văn An khen.

Cả trung đội của tôi sướng mê lên vì lời nhận xét của ông nhạc sĩ gạo cội của quân đội ta.

...

Sau một chuyến đi công tác ba tháng ở vùng lửa Nghệ Tĩnh về đến Trung đoàn, tôi nhận được lệnh về Phòng Chính trị để đi học một khóa học văn nghệ. Về tới cơ quan Phòng Chính trị tôi được biết là đi học lớp chỉ huy đồng ca. Lớp học có gần bốn mươi người, tất cả đều là hạt nhân văn nghệ của các đơn vị trực thuộc Bộ. Lớp học tuy chỉ có hơn hai tháng nhưng chúng tôi được học khá kỹ cả về kỹ thuật cộng minh, ký sướng âm nâng cao và chỉ huy đồng ca nhiều bè. Trong tình hình chiến tranh đã trở nên rất ác liệt trên cả hai miền. Bom Mỹ đã phá nát những đoạn quốc lộ giáp Hà Nội. Máy bay phản lực Mỹ đã nhiều lần bay qua bầu trời Hà Nội. Một lớp học như vậy được mở ra trong tình hình như vậy, phải nói đó là một tư tưởng chỉ đạo rất căn cơ. Rất hiểu điều đó nên chúng tôi học tập hết sức chăm chỉ và đạt kết quả rất cao.

Tôi còn nhớ một lần trong giờ nghe nhạc và ghi âm, thầy đang cho ghi những âm trong gam Đô trưởng và La thứ, bỗng thầy bấm đàn đưa một nốt nhạc rất lạ tai. Mỗi người trong lớp gọi tên nốt nhạc ấy một cách rất khác nhau. Riêng tôi nhẩm lại cả dãy âm và phát hiện đó là nốt Fa#. Chi tiết này cho thấy, tuy chỉ là một lớp quản ca nhưng cả thầy giáo và học trò chúng tôi đều dạy và học rất chí thú. Cũng lạ, giữa buổi học có báo động phòng không, anh chị em phân tán ra hầm. Hết báo động chúng tôi lại phân bè tập những hòa âm rất căn bản và chuẩn xác.

Mệt nhất là giờ luyện thở, luyện thanh mỗi buổi sáng. Sau giờ tập này chúng tôi cảm thấy như toàn bộ năng lượng trong người đã bị dốc ra hết. Suất ăn sáng biến đi đâu mất cả chỉ còn cái bụng rỗng cứ sôi lên ùng ục. Có một buổi tập thở, trong khi tất cả chúng tôi đang lim rim mắt định thần vào việc nén hơi thì bỗng nhiên có tiếng ồn ào nổi lên. Thì ra Đinh Tuyết Lan, một cây văn nghệ của Trung đoàn 134 bị đuối hơi ngã ngất xuống sàn lớp. Ít phút sau tỉnh lại Tuyết Lan kể:

- Em cố tập trung tư tưởng ghìm nén hơi thở nên quên đi không nhả hơi theo khẩu lệnh của thầy. Rồi em cảm thấy mình không còn chút sức nào nữa. Em nghĩ mình chết rồi.

- Thế khi tỉnh lại thì Tuyết Lan thấy thế nào?

- Đầu tiên em cảm thấy mình thoát chết rồi. Lúc tỉnh hẳn thì em thấy chị Thu Hiền đang ngồi trên bụng em.

Cả lớp cười ầm lên về cảm nhớ của Tuyết Lan khi hồi tỉnh.

Trong lớp học này có Sĩ Hùng, một giọng baryton rất khỏe. Lê Ngọ với tôi là giọng bass trụ cột của bè trầm. Lê Ngọ nói với tôi:

- Tôi rất hứng thú khi hai đứa mình đứng bên nhau trong bè trầm. Sự cộng hưởng của giọng hai đứa làm rung cả lồng ngực mình lên. Giọng hát của mình thấy tăng sức mạnh lên rất nhiều.

Tôi và Lê Ngọ có thể hát theo xuống đến dây trầm nhất của đàn ghi ta, tức là nốt mì3.

Giảng viên chia lớp học chúng tôi thành hai bè dựng bài "Tiến bước dưới quân kỳ" và bài "Giải phóng miền Nam". Tại hội nghị toàn quốc sơ kết việc thực hiện chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác văn hóa văn nghệ thời chiến, lớp học chúng tôi đã trình bày rất thành công hai bản hợp ca này.

Lần đầu tiên trong đời chúng tôi được biểu diễn tại sân khấu Nhà hát lớn Hà Nội nên tôi nhớ rất rõ buổi biểu diễn ấy. Chúng tôi có một tốp ca nam trình bày bài "Anh vẫn hành quân". Phạm Khắc Vinh đệm đàn accordion cho chúng tôi hát bài này. Giữa hai đoạn của bài hát có một đoạn nhạc đệm. Khi chạy những chùm ba nốt móc kép với hợp âm bốn ngón tay phải, Phạm Khắc Vinh bị lỗi vấp một nốt nhạc. Lỗi này làm nhóm hát bè cao vào chệch khoảng một phần tư nhịp. Nguy cơ đổ vỡ tiết mục này trong không đầy một phút tiếp theo là điều có thể thấy rõ. Để cứu tiết mục này, khi vào đoạn hát đuổi của bè hai, tôi nắm chặt tay Lê Ngọ, tôi với Ngọ giữ vững nhịp hát cho cả bè trầm. Với giọng hát áp đảo của hai đứa chúng tôi trong bè trầm, tốp ca trở lại nhịp chuẩn cho đến hết bài. Tôi với Lê Ngọ trở nên thân nhau từ sau lớp học ấy. Sau này ra quân Lê Ngọ hát trong tốp nam đoàn Văn công Hà Nội.

Rất nhiều học viên của lớp này đã trở thành những hạt nhân nòng cốt trong phong trào văn nghệ Binh chủng Thông tin. Nhiều lần sau đó tôi gặp lại Thanh Trà, Việt Hồng, Lê Ngọ (Trung đoàn 205); Tuyết Lan, Thu Hiền (Trung đoàn 134)... Cũng từ khóa học này, tôi được củng cố và mở rộng thêm kiến thức âm nhạc. Tôi hiểu đầy đủ hơn về rất nhiều điều mà tôi đã học và đã đọc trước đây. Đặc biệt là về thanh nhạc, đây là một kiến thức hoàn toàn mới đối với tôi khi đó. Sau này tôi đã ứng dụng rất thành công những hiểu biết này vào việc luyện thanh và luyện hát bè cho Đội Tuyên truyền Văn hóa xung kích (TTVHXK) Trung đoàn 132.

Tôi rút ra một bài học cho hoạt động văn hóa nghệ thuật cũng như các công tác khác là làm việc gì cũng phải có những ý tưởng táo bạo. Đồng thời cũng phải tìm mọi cách để thực hiện bằng được những ý tưởng táo bạo đó. Tôi càng hiểu rằng không có việc gì là không thể làm được. Là một trợ lý, tôi hiểu rằng chỉ có làm bằng được một phần công việc mới nào đó, rồi sau đó mới đặt ra những điều kiện cho việc thực hiện cả ý tưởng. Chính những kết quả ban đầu làm ra từ hai bàn tay trắng sẽ chứng minh khả năng thực hiện của ý tưởng. Ví dụ như trong hoạt động của Đội TTVHXK thì khó nhất là việc tìm người. Mỗi người về đội phải là người có năng khiếu và phải là người rất tích cực tự giác hoạt động. Những người như thế lại chỉ có thể tìm thấy ở các đại đội, chứ không được tuyển bên ngoài vào. Mỗi đại đội thiếu một hai quân nhân cũng chẳng ảnh hưởng gì mấy đến công việc chung. Nhưng khéo chọn lọc, huấn luyện và sử dụng những quân nhân đó khi tập trung về cơ quan, hóa ra anh em có thể làm được những công việc mà trước đó chính họ cũng không dám tưởng tượng tới.

Khi mà những trái bom Mỹ đã đổ xuống vùng đất ngoại vi Hà Nội là lúc chúng tôi thành lập Đội TTVHXK ở Trung đoàn. Tất cả các đơn vị trực thuộc Bộ đều thành lập đội TTVHXK. Tôi không rõ theo chỉ thị nào nhưng tôi nhớ rõ quy định rất khắt khe của việc thành lập đội. Mỗi đội chỉ được không quá mười lăm người. Một đợt tập trung về Trung đoàn bộ hoạt động chỉ được giữ lại không quá một phần ba số người của đợt trước. Trong chương trình biểu diễn phải có nhiều tiết mục tự biên về đơn vị mình. Những yêu cầu "không quá" trên đây buộc chúng tôi phải có một kế hoạch thường xuyên phát hiện chiến sĩ có năng khiếu ở đại đội, phải có một kế hoạch học tập rất công phu cho những anh em về tập trung và nhất là phải tập hợp được một nhóm sáng tác mạnh. Phải chăng chính vì cách làm như thế mà ta đã có phong trào văn nghệ rất mạnh trong Binh chủng Thông tin. Phải chăng chính từ phong trào ấy mà một trung đoàn "ăn no vác nặng" như Trung đoàn 132 lại sinh ra hàng chục “sĩ cấp quốc gia" các loại. Trung đoàn có đủ cả nhạc sĩ, họa sĩ và văn sĩ... còn hàng sĩ được anh em trong đơn vị vinh phong cho thì nhiều lắm.

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005) 

26.10.25

“Nhạc sĩ" của Trung đoàn (1/8)

Phạm Huy Thưởng

Tháng 5 năm 2003, tại cuộc gặp mặt kỷ niệm 50 năm thành lập Trung đoàn 132, tôi đã gặp được gần hai trăm anh em cán bộ chiến sĩ cũ của Trung đoàn. Chúng tôi mừng mừng tủi tủi, tình cảm sâu đậm không biết kể sao cho hết. Có một điều tôi hết sức cảm động là tất cả anh em đều gọi tôi là "nhạc sĩ". Một cách gọi thân quen từ gần ba mươi năm trước. Cũng có một số anh em quên tên tôi, nhưng khi anh em khác nhắc lại: "Huy Thưởng, tác giả cưỡi mây lên gõ cổng trời đó mà", thì không một ai là không nhớ đến tôi.

'Đêm đó tại nhà Đặng Trường Lưu, tôi nằm thao thức không ngủ được. Kỷ niệm cũ một thời làm tôi muốn ngợp thở. Tôi trằn trọc một điều: "Con đường để tôi trở thành nhạc sĩ đã diễn ra như thế nào?".

* * *

Tôi yêu nhạc từ thuở nhỏ. Có điều là nhà tôi nghèo, tôi không được học đàn. Với cây đàn mandolin mượn được từ người anh họ, tôi đã nhanh chóng nắm được cấu tạo của cây đàn bốn dây. Tiếp đó, tôi mượn được của người chú cây ghi ta, một thời gian sau tôi hiểu thêm được cây đàn ghi ta nữa. Tuy nhiên phải đến khi đi làm cán bộ vật giá thương nghiệp tôi mới được học một khóa nhạc lý ở câu lạc bộ Lao động Hải Phòng. Khóa học gần ba năm này cho tôi những kiến thức cơ bản đầu tiên về hòa âm, khúc thức và kỹ năng nghe và ghi nhạc. Toàn bộ kiến thức đó mới chỉ giúp cho tôi viết bài thiếu nhi đầu tiên. Sau khi gửi báo Thiếu niên Tiền phong, anh Phong Nhã trả lời: "Bài hát của em nội dung rất tốt, tuy nhiên bài hát thiếu cái gọi là rhythm nên không sử dụng được". Tiếp đó, nhân dịp tháng 8 sinh nhật cô bạn gái, tôi viết bài hát lấy tên là "Tháng tám hoa sen nở" để tặng cô ta. Bài hát thay cho một số tiền mua quà tặng sinh nhật mà tôi không có. Bài hát này đã được hoan nghênh nhiệt liệt tại buổi lễ sinh nhật. Ông già của cô bạn gái tuyên bố: "Một món quà của cháu Thưởng rất có ý nghĩa vì người ta dù có nhiều tiền cũng khó mà có được cái đó". Được lời đó tôi nở từng khúc ruột. Trong đám bạn của cô gái đó có rất nhiều anh chàng con nhà giàu với những món quà nước ngoài rất đắt giá. Bằng bài hát của mình tôi đã thắng tất cả, tuy nhiên tôi chỉ không thắng được cô bạn gái.

Ngày 12 tháng 4 năm 1962, gần tròn hai mươi tuổi, tôi nhập ngũ. Tôi được điều về Trung đoàn 205. Sau thời gian huấn luyện tân binh tôi nhận quyết định về Trung đoàn 132. Vốn hiểu biết về nhạc của tôi nhanh chóng tạo ấn tượng với đơn vị. Đơn vị giữ vững những đêm sinh hoạt văn nghệ thứ năm hàng tuần. Và những đêm đó tôi đem những bài hát in trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội ra dạy cho anh em trong đại đội hát. Trung bình mỗi tháng anh em trong đại đội thuộc và hát tập thể trơn tru thêm một bài hát mới. Chúng tôi có thể hát cả tiếng đồng hồ mà không hết những bài hát tập thể của đại đội.

Tiếp đó tại Đại hội Liên chi đoàn thanh niên Lao động của đại đội, tôi trúng cử Phó bí thư Liên chi đoàn. Một đồng chí trợ lý thanh niên ở Cục Thông tin liên lạc về dự đại hội này đã để ý đến tôi. Đồng chí này nói là bản báo cáo của Liên chi đoàn mang tính chiến đấu rất cao, tất nhiên kể cả trình độ hát tập thể của đại đội. Sau đó, tôi được Phòng Chính trị, Cục Thông tin liên lạc gọi đi học lớp tập huấn về múa hát do Tổng cục Chính trị mở. Cả một tháng trời ở thị xã Bắc Ninh, chúng tôi học các điệu múa đôi, múa vòng. Đây là những điệu múa và bài hát tập thể được quy định thống nhất trong toàn quân. Cuối khóa, cả lớp chúng tôi dựng thêm bản hợp ca không nhạc đệm của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý. Đó là bài "Ngày miền Nam", một bài hát đối đáp - bốn bè, giai điệu Nam Trung Bộ rất hay.

Hàng ngày tại Nhà hát nhân dân thị xã Bắc Ninh, gần ba trăm học viên nam nữ toàn quân về học. Tất cả chia thành ba vòng người, chúng tôi tập bài múa vòng, lúc chạy ngược, lúc chạy xuôi rất nhịp nhàng. Mỗi vòng người có đủ loại sắc phục. Anh bộ binh áo xanh lá cây nhạt. Anh lính biên phòng áo màu lá cây sẫm. Anh lính thủy phất phơ tấm yếm kẻ sọc và hai dải dây mũ. Anh lính không quân màu áo xanh da trời. Mấy anh chị công nhân quốc phòng áo xanh lục. Lại có mấy cô đến ngày cữ mặc thường phục áo trắng, áo nâu... Dưới ánh nắng chiều, ba cái vòng màu sắc ấy vẽ nên những vòng tròn tuyệt đẹp trên nền cỏ xanh của sân Nhà hát nhân dân thị xã. Một tháng học ở vùng đất quan họ ấy cho tôi thêm kỹ năng dàn dựng bài hát. Khóa học ấy bổ sung cho tôi nhiều cảm xúc và tư duy về âm nhạc rất quý báu.

Tôi cứ nghĩ, nếu đất nước không có những biến chuyển dữ dội thì có lẽ tôi cũng chỉ biết làm tốt công việc của một anh quản ca tập thể. Đó là sự kiện Vịnh Bắc Bộ 5 tháng 8 năm 1964, bom đạn giặc Mỹ dội thẳng lên miền Bắc. Chúng đánh phá bằng không quân vô cùng ác liệt. Ác liệt tới mức chính những người lính như chúng tôi sau này có lúc tự hỏi: Làm sao mà một con người nhỏ bé, lúc nặng cân nhất cũng chỉ tới 49kg. Làm sao mà một chàng trai con một ở đất thành thị yếu ớt như tôi có thể leo Trường Sơn suốt nhiều mùa mưa nắng. Chúng tôi lại còn vác dây, gùi sứ, leo dốc cao, vượt thác lũ? Hành quân bộ giữa cơn sốt 39 - 40 độ. Vất vả là thế, đời sống gian khổ là thế mà đêm đêm chúng tôi vẫn thức để viết những tấu hài, làm thơ, viết ca khúc hết bài này đến bài khác? Thậm chí mấy anh chính ủy trẻ ngày nay đã hỏi tôi: "Làm sao hồi đó các bác làm công tác chính trị giỏi như thế?".

Sau 5 tháng 8 năm 1964 có một chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng, chỉ thị số bao nhiêu tôi không nhớ rõ nhưng anh em quen gọi là chỉ thị "ngắn, gọn, nhỏ, lẻ". Các anh ở Phòng Chính trị Bộ tư lệnh Thông tin đã tập huấn cho chúng tôi nhiều lần nên ghi nhớ được nội dung chỉ thị này. Chỉ thị của Đảng nói: chuyển sang thời chiến, ta phải tạm ngưng lại những vở diễn vài ba tiếng đồng hồ, các tiết mục văn nghệ chuyển sang làm ngắn gọn, nhỏ, lẻ. Thậm chí chúng tôi đã dựng một vở kịch ngắn 6 phút rưỡi để thử nghiệm tư tưởng chỉ đạo mới.

Những ngày đầu, Hà Nội chưa bị đánh bom, nhưng báo động máy bay Mỹ đã diễn ra ngày ngày càng nhiều hơn. Cuộc sống thời chiến cực kỳ nóng bỏng. Trận địa phòng không đã xuất hiện dày đặc trong và ven đô bày ra ở khắp vùng nông thôn, đặt ngay cả trên các mái nhà cao tầng. Bốn chục năm nay tôi vẫn không quên cái cảm giác khi tiếng còi báo động phòng không vang lên. Tiếng còi cảnh báo thôi thúc ấy làm cho ta đau thắt, tim gan cộn lên khi ta đang ngồi trong rạp, cùng cô bạn gái xem một bộ phim hay. Giữa lúc như thế, từ khu Bốn khói lửa, tôi được lệnh về Hà Nội dự lớp sáng tác ca khúc. Gần hai chục anh em ở các đơn vị đã về dự lớp này. Ngày ngày, chúng tôi nghe các nhạc sĩ Huy Du, Nguyễn Đức Toàn, Vũ Trọng Hối, Văn An giảng về kết cấu câu, đoạn nhạc và bản nhạc. Chúng tôi vỡ ra những hiểu biết về thể ca khúc AB, ABA', ABB', ABC... Mỗi chủ nhật tôi và Phạm Khắc Vinh tới ngôi nhà của anh Huy Du ở phố Cửa Bắc dưới dốc đê Yên Phụ. Tại đây chúng tôi được nghe những bản nhạc cổ điển. Chị Nguyễn Thị Nhung, vợ anh Huy Du là người giảng giải, giới thiệu, phân tích cho chúng tôi hiểu những tác phẩm của Haydn, Moza, Beethoven, Tchaikovsky, Shostakovich...

Lớp học sáng tác ca khúc được mở ngay tại cơ quan Phòng Chính trị. Anh Nguyễn Văn Khoan là người phụ trách lớp.

Lần đầu tiên ở trong hoàn cảnh như vậy, chúng tôi có đủ điều kiện để sáng tác một bài hát nhưng chúng tôi chưa tìm được cách của riêng mình để làm. Khi đó tôi chưa biết đầy đủ thế nào là cảm xúc âm nhạc. Tôi hoàn toàn bị động bởi quy định "Phải có một bài hát". Lớp học dự định mở trong thời gian sáu tuần lễ. Mỗi tuần chúng tôi được nghe từ hai đến ba ngày giảng bài. Những ngày còn lại trong tuần dành cho sáng tác. Đến gần hết tuần thứ ba tôi vẫn chưa ghi được một nốt nhạc nào trên giấy. Tôi chưa tìm ra quy trình của sự sáng tác nhạc. Khi trong ý tưởng của mình, những câu nhạc xuất hiện trước thì đó lại là những giai điệu quen thuộc, nghèo nàn. Còn khi những ý tưởng văn học xuất hiện trước thì đó là những câu hát mà lời thì có ý tứ, nhưng giai điệu thì lại rất "sến sẩm".

Và rồi ý tứ của bài hát cũng hình thành dần dần trong tôi. Tôi nghĩ đến hình tượng đội quân thông tin lên đường. Dấu chân của họ in trên mọi vùng đất của Tổ quốc. Họ lên đường vào miền Nam giải phóng đất nước. Đội quân ấy khi ra đi là quyết lập chiến công. Câu nhạc đầu tiên xuất hiện: "Chúng ta đi dấu chân in ngàn sông núi". Câu nhạc với điệu thức Mi thứ làm tôi thấy phấn chấn. Khi đó cả đất nước cùng ca vang bài hát "Giải phóng miền Nam" của Huỳnh Minh Siêng. Với bài ca chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miềm Nam, có phải đây là lần đầu tiên một bài hát hành khúc mang điệu Mi thứ xuất hiện trong ca khúc Việt Nam hay không tôi không dám khẳng định. Tuy nhiên bài hát này hấp dẫn tôi rất nhiều. Bài hát "Khi chúng ta lên đường" đã theo kịp mô đen thời đó.

Hai tuần sau tôi hoàn thành bài hát. Tôi nộp bài đúng hạn và được nhạc sĩ Huy Du khen ngợi trong buổi tổng kết lớp. Các đồng chí lãnh đạo Phòng Chính trị cũng khen thưởng tôi xứng đáng về kết quả học tập này. Tôi mừng là đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tôi càng mừng hơn vì lần đầu tiên viết được một bài hát trong giới hạn về thời gian và theo một định hướng nội dung. Sau đó bài hát này được in trên trang bìa ba Tạp chí Văn nghệ quân đội tháng 9 năm 1967.

Còn nữa

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu”. NXB QĐND 2005) 

23.10.25

Ngôi mộ chỉ đường

Lê Văn Vọng

Em gái quân bưu đưa công văn về

Buổi ấy khúc cua đường giặc kích

Mìn clây-mo thổi giập nát chân

Túi công văn máu loang mặt đất...

 

Công văn bay đi em nằm lại ven rừng

Khách qua đây đều biết

Ai về sau ai lên phía trước

Nơi này giao điểm gặp nhau.

 

Đường mòn em đưa công văn hồi nào

Thành đường lớn mấy mùa chiến dịch

Mặt đất dấu giày chen dấu dép

Lưng trời đường dây gọi đường dây.

 

Ô tô cuốn tung bụi đỏ

Xích xe tăng gặm nham nhở mặt đường

Bụi choàng vào ngôi mộ vô danh

 

Đầu mộ: chiến trường

Ngược về: trung tuyến

Cung ngắn dài đoàn xe vận chuyển

Trạm xa trạm gần đơn vị hành quân

Dặn nhau khe khẽ lính thông tin.

 

- Bên này mộ chừng hơn cây số

Chân dốc đá có nguồn suối nhỏ

Lưng dốc trong hang có một tổng đài

Và những cô gái trẻ...

 

Với những người mới qua đây còn lạ

Con đường em quen

Chuyện kể về em đi nhanh vào trí nhớ

Và mộ em thành tấm biển chỉ đường.

Bình Long, tháng 4-1973

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Những dòng sông âm thanh". NXB QĐND 2000)

Nhật ký tổng đài

Lê Hùng

25-11

Ngày đi rừng trắng hoa lau

Đã xa nhau lại nhớ nhau tìm về

Có gì nhắn với bạn bè

Mà mắt em ướt hàng mi đen ngời

Cầm tay nghẹn nói nên lời

Nghe con chim hót giữa trời rộng thênh.

 

27-11

Ngồi đây bè bạn bên mình

Trăm câu hỏi, một niềm tin cuộc đời

Đường dây mơ mộng song đôi

Nên tình thương giữa lòng tôi tràn đầy

Có chi thế tổng đài ơi

Chuông reo mãi những trận cười nghiêng

 

22-12

Ngọt ngào thưa gửi - tiếng em

Ngỡ đang nắng lại mưa lên mái đầu

Dễ gì mà nhận ra nhau

Thoắt áo xanh đã bạc màu thời gian.

Năm 1972

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những dòng sông âm thanh”. NXB QĐND 2000) 

21.10.25

Một trong những chiến sĩ giao thông đầu tiên của Đảng

Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan – Hội viên Chi hội Phòng KHQS

Nguyễn Công Thu, sinh năm 1894 tại xã Vũ Trung, huyện Vũ Tiên, (nay là huyện Vũ Thư) tỉnh Thái Bình trong một gia đình yêu nước.

Giữa năm 1926, theo kế hoạch của Lê Hữu Lập, Nguyễn Công Thu chuẩn bị "xuất dương". Bỏ ống tiền của người anh ruột được 32 đồng, cộng với số tiền riêng đã góp nhặt được, ba chú cháu Nguyễn Công Thu, Nguyễn Danh Thọ, Nguyễn Danh Tề ra đi. Lê Hữu Lập dẫn đường qua cầu Bắc Luân sang Đông Hưng, tìm đến bến Nà Sáo Tù, nơi đặt trạm giao thông do ông Đỗ Phát Quang phụ trách. Ngay chiều hôm ấy, Lê Quảng Đạt từ Đông Hưng đến đón Thu và Thọ vào khách sạn Đông Hưng Lâu, nhập với đoàn đồng chí Trần Phú đi Quảng Châu, đến cơ quan của Tổng bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội.

Cùng với các đồng chí khác, Thu được dự lớp huấn luyện tại Quảng Châu. Học xong, đồng chí Vương (Bác Hồ) giữ Thu ở lại mấy ngày nghiên cứu đường sá, địa hình hai tỉnh Quảng Tây, Lạng Sơn "để tìm cho được con đường liên lạc chuyển sách báo về nước và đưa người đi học".

Thu trở về nước cùng với Lê Danh Thọ và hai bạn khác nữa. Nhớ những điều đồng chí Nguyễn Ái Quốc dặn, Thu tìm đến anh Vương Văn Mùi ở ngõ Tân Hưng (nay là ngõ Tức Mạc) gần ga Hàng Cỏ để "đứng chân". Sau một tuần lễ chuẩn bị, sang tuần thứ hai, Thu đã gặp gỡ, chuyện trò với một số anh em tại nhà số 37 ngõ Tân Hưng. Tuần thứ ba, Thu lên đường đi Cống Chạp gặp Hồ Tùng Mậu để báo cáo tình hình.

Báo cáo công việc xong, Nguyễn Công Thu nhận một vali chặt đầy công văn, tài liệu sách báo, trở về.

Mùa thu năm 1926, đưa được một số thanh niên sang Quảng Châu, Thu tiếp tục tuyên truyền cách mạng, lựa chọn người để lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Hà Nội.

Cuối năm, Nguyễn Công Thu đã thành lập được một chi hội tại làng Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, gồm 11 đồng chí, do Thu làm bí thư. Đây là hạt nhân đầu tiên cho tổ chức Đảng của Hà Nội.

Bước sang năm 1927, Nguyễn Công Thu đưa thêm được nhiều thanh niên qua biên giới nữa như Nguyễn Sơn, Tú Chinh... Có lần nhỡ liên lạc, Thu một mình đi Long Châu tìm Lê Quảng Đạt bàn giao học viên xong mới trở về Hà Nội mang theo nhiều tài liệu, trong đó có cuốn: “Đường Kách mệnh".

Tháng 3 năm ấy, chiến sĩ giao thông Nguyễn Công Thu tham gia Kỳ bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội Bắc Kỳ, do Nguyễn Danh Đới làm bí thư. Tuy là ủy viên kỳ bộ, nhưng Thu vẫn làm giao thông, tiếp tục đưa nhiều anh em ở Trung Kỳ theo đường dây của mình sang Quảng Châu. Theo chỉ thị của Tổng bộ, năm ấy Thu đã trực tiếp đưa Nguyễn Đức Cảnh, Lý Hồng Nhật đến Quảng Châu an toàn và bí mật.

Công việc ngày càng nhiều, một mình làm không hết, Thu đã vận động tổ chức thêm được nhiều đồng chí làm giao thông, thuyết phục được cả lính dõng, tuần đinh giúp việc đưa đường, có khi còn bảo vệ cho cả đoàn học sinh vượt biên giới.

Cuối năm 1927, do Tưởng Giới Thạch trở mặt, Tổng bộ không còn ở Quảng Châu nữa, việc đưa thanh niên ra nước ngoài tạm thời dừng, Nguyễn Công Thu về hoạt động ở Hải Dương.

Năm 1928, do bị lộ trong khi phân phát truyền đơn, Nguyễn Công Thu bị bắt giam 9 tháng, sau đó lại bị giam tiếp 27 tháng vì can tội "dụ dỗ người đi xuất dương". Ra tù, cho đến năm 1945, Thu công tác tại huyện Kiến Xương, Thái Bình.

Đồng chí Nguyễn Công Thu là một trong những chiến sĩ giao thông đầu tiên của tổ chức Đảng, người đóng góp tích cực vào sự hình thành cơ sở Đảng đầu tiên của Hà Nội. Đồng chí đã đưa đón nhiều thanh niên đi học ở Quảng Châu không một lần nào bị lộ, không một ai bị bắt. Nhiều người trong số thanh niên này về sau đã trở thành những cán bộ ưu tú của Đảng ta. Nguyễn Công Thu còn có công chuyển nhiều tài liệu sách, báo truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam1.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Giao thông-Thông tin-Liên lạc”. NXB Lao động 1997)

--------------------------------------------

1 Tháng 5 năm 1995, hài cốt đồng chí Nguyễn Công Thu đã đưa từ Bất Bạt (Sơn Tây) về an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch (Hà Nội).