30.8.25

Xoan tím

Đại tá Nguyễn Trọng Khoát – nguyên Hiệu trưởng Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin

Cán bộ kỹ thuật là một thành phần không thể thiếu của Bộ đội Thông tin. Ngay từ nhũng ngày đầu được giao làm Trưởng phòng Thông tin của Bộ Tổng Tham mưu, cụ Hoàng Đạo Thúy đã tập họp ngay các anh Lê Dung, Nguyễn Diệp, những người có tay nghề V.T.Đ vào hoạt động. Đến năm 1950 đã mở lớp cơ công V.T.Đ khóa chiến thắng (01/5/1950 - 30/8/1950) với 35 học viên. Những năm 1960 là các lớp trung cấp kỹ thuật trong và ngoài nước.

Theo sự phát triển của Quân đội ta, ngày 24/3/1967 Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký quyết định thành lập Trường Kỹ thuật Thông Tin (QĐNDVN).

Trường do sát nhập từ Tiểu đoàn 3 (Trường Sỹ quan Thông tin) và một đại đội của Trường Sỹ quan Kỹ thuật mà thành.

Việc thành lập Trường đánh dấu bước trưởng thành của Binh chủng và riêng ngành kỹ thuật, khiến mọi người rất vui sướng như mùa xuân thấy “hoa xoan phơi phới bay”.

Trường Kỹ thuật Thông tin khi đó chỉ có 4 đại đội, các giáo viên kiêm khung.

Tôi từ Cơ quan Bảo đảm vật chất huấn luyện Trường Sỹ quan Thông tin được điều về Đại đội 9 của Trường Kỹ thuật làm Đại đội trưởng. Chính trị viên là Công Tường, Đại đội phó là Phạm Sáu.

Tôi đồng thời là Tổ trưởng giáo viên, lại đang theo học năm cuối Đại học Bách khoa Hà nội, vợ ở Sơn Tây về quê chồng chưa được đăng ký hộ khẩu. Anh Tường quê Nghệ Tĩnh, vợ mới hy sinh khi máy bay Mỹ ném bom vào nơi chị làm việc, để lại 3 cháu còn thơ dại, anh Sáu mới tốt nghiệp Đại học Bách Khoa Hà Nội, chuyên môn giỏi, nhiệt tình, tháo vát. Ba chúng tôi làm việc với nhau rất tốt bàn bạc tập thể, triển khai rõ ràng.

Từ một cán bộ cơ quan nay xuống phụ trách đơn vị, tôi rất lo, nhất là khâu bảo đảm an toàn. Tôi rất yên tâm tin tưởng ở cấp ủy và tập thể anh em. Nhưng với trách nhiệm cá nhân phải rất cố gắng. Tôi tự đề ra phương châm 6S (xông xáo, sâu sát à đạt tới sắc sảo). Tôi đã nhanh chóng quản lý được công việc.

Tôi nói chuyện anh em đều tán đồng, có người vận dụng làm theo như anh Nguyễn Viết Phụng là Chủ nhiệm lớp BI sau này đã trở thành Chủ nhiệm Cục Hậu cần của Binh chủng.

Đại đội 9 đóng ở làng Đông, huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang, bà con rất tốt giúp cho bộ đội nơi ăn chốn ở, chỗ học, giúp vật liệu làm nhà cho chỉ huy và nhà ăn kiêm hội trường. Một đêm đã báo cho bộ đội giữ một người lạ nằm ngoài hàng rào nhà chỉ huy. Bộ đội đã giao cho công an địa phương để xem xét.

Học viên là những người mới, rời ghế các trường phổ thông ở địa phương, chịu khó học và rèn luyện, những ngày mưa rét vẫn luyện hành quân kể cả đi xa như đi đến Mai Sơn. Học được 6 tháng thì khám sức khỏe, phát hiện học viên Bách, đã mổ dạ dày. Hỏi tại sao còn đi bộ đội? Đáp: Thanh niên bây giờ mà không đi chiến trường thì xoàng quá, nên trốn để được đi. Khi biết đây là đơn vị huấn luyện đi B, đồng chí đó đã 2 lần gặp chỉ huy xin đừng loại.

Giữa năm 1968, Trường lấy Đại đội 9 là đơn vị điểm, rút kinh nghiệm về cách tổ chức “giáo viên kiêm khung”.

Cuối năm đó tôi lên cơ quan làm Chủ nhiệm Khoa giáo viên đầu tiên của trường, nhưng hình ảnh của Đại đội 9 sống mãi trong tim.

Cuối năm 1968, lần đầu tiên, Trường tổ chức hội nghị huấn luyện, kiểm điểm, đánh giá kết quả huấn luyện. Hội nghị đã tập hợp tất cả giáo viên, cán bộ, rất vui, kết quả rất tốt đẹp.

Năm 1970, Cục Nhà trường tổ chức rút kinh nghiệm giảng dạy ở các trường trung cấp kỹ thuật, tổ chức tại Trường Thông tin với hơn 100 đại biểu từ toàn quân về.

Năm 1971, Bộ Giáo dục công nhận 3 trường trung cấp quân đội đạt cấp quốc gia: Trường Kỹ thuật Thông tin, Trường Trung cấp Quân y, Trường Trung cấp Quân giới.

Năm 1972, trường được Bộ Giáo dục mời dự hội nghị các trường. Tổ chức tại Trường Đại học Thương nghiệp, Phó Thủ tướng Võ Nguyên Giáp đã đến nói chuyện.

Hè năm 1974, Trường lại được mời dự Hội nghị, Phó Thủ tướng Võ Nguyên Giáp đến huấn thị, buổi họp nào cũng đông nghịt người, chăm chú nghe vừa bổ ích có tác dụng rất tốt với công tác chỉ đạo ở các trường.

Hè 1974

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Chú Bếp Cương” NXB Hội Nhà văn 2016) 

29.8.25

Mát tay

Đại tá Nguyễn Trọng Khoát – nguyên Hiệu trưởng Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin

Năm 1952 sau khi đã phục vụ Chiến dịch Hòa Bình, tôi trở lại Xưởng Thông tin. Khi đó Ban quản đốc và Công đoàn đã cho phép các gia đình và công nhân ở tập thể được nuôi gà, ngan và trồng rau để cải thiện.

Cụ công nhân mộc Phi Công Thực đã làm một chuồng gà, nuôi nhốt đẻ tránh bị cầy cáo về vồ mất. Một sáng chủ nhật cụ định bắt một con thịt, nhưng chuồng quá sâu cụ với mãi không bắt được và “khục”! một tiếng ở vai, cụ đau buốt, tay không cử động được nữa. Đến viện quân y xác định cụ bị gãy khớp bả vai.

Cụ đã đi chữa gần 3 tháng, tiến bộ chẳng được bao nhiêu do đã già, xương phát triển kém.

Ít lâu sau đó, một hôm họp chấp hành công đoàn có cả Quản đốc xưởng Dư, đồng chí Chủ tịch Công đoàn nói:

- Cụ Thực muốn xin về gia đình để chữa tay, mà từ đây về nhà cụ phải đi mất mấy ngày đối với người khỏe. Cụ lại già, yếu thì đi thế nào?

Thảo luận một hồi, quyết định!

- Do cụ đã quá tuổi lao động nên để cụ nghỉ luôn, thành lập một tổ đưa cụ về nhà, giao cho đồng chí Khoát lo việc này.

Tôi lập tổ công tác gồm 5 người: 4 người thay nhau khiêng cụ, một người dự bị ốm đau dọc đường, lo ăn nghỉ.

Sau khi lưu luyến anh em cụ leo lên võng, chúng tôi khiêng cụ đi. Lãnh đạo nhắc đi nhắc lại: chú ý an toàn. Được cái người cụ cũng nhẹ nên việc khiêng đi cũng chấp nhận được. Cứ đi chừng 1km lại đổi người khiêng, chuyện trò vui vẻ nên cũng không thấy vất vả lắm.

Cụ quê ở Thạch Thất, Phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông, tản cư lên Yên Bái, hiện gia đình đều ở đó cả. Chúng tôi đi 3 ngày 2 đêm thì về đến gia đình. Rất mừng tất cả đều an toàn, cụ rơm rớm nước mắt trong vòng tay của cụ bà và 2 con.

Thục, con gái lớn của cụ mang ra lưng thúng quýt. Cả nhà và chúng tôi ăn, chuyện trò vui vẻ.

Cơm tối xong, ngồi quanh ấm nước, cụ vỗ vai tôi, nói:

- Tôi ở với anh đã mấy năm nhưng hôm nay mới thật biết anh: anh là người rất tốt, gia đình và tôi rất cảm ơn các anh.

- Cụ ơi, thầy cháu cũng là công nhân, ta giúp nhau thôi cụ ạ.

- Tôi đã già, chẳng biết sống chết thế nào, còn 2 việc nhờ các anh và Xưởng giúp đỡ. Một là cháu Thục đây, năm nay 18 tuổi, các anh đây hay ở Xưởng có anh nào ưng ý, tôi xin ủng hộ, hai là cháu Thụ năm nay 15 tuổi, nếu Xưởng có việc gì phù họp thì cho cháu đi theo. Mấy năm công tác với anh em Xưởng tôi thấy anh em rất tốt.

Thục nghe bố nói vậy thì quay mặt đi.

- Vâng cháu xin chuyển lời của cụ về Công đoàn và Quản đốc xưởng.

Tôi quay lại vỗ lưng anh em ra sân hội ý.

- “Đánh nhanh, thắng nhanh” ý kiến cụ Thực, bọn mình ai có ý kiến gì không? Tôi thì vô tư!

- “Tụi tôi cũng vậy”, mấy anh ở Phú Thọ đáp. Thấy vậy tôi tiếp luôn.

- Anh Nhì năm nay 26 rồi, “xung phong” đi!

- Biết người ta thế nào, liệu có nên cơm cháo gì không?

- Cứ “xung phong” đi!

Tôi quay vào nói với hai cụ:

- Được ý của cụ, cháu báo cáo xin phép hai cụ cho anh Nhì được trao đổi với em Thục đôi điều.

Cụ Thực vỗ tay:

- Đồng ý! Anh Nhì cùng phân xưởng với tôi, anh ấy hiền lành lắm.

Anh Nhì và Thục đi ra phía bờ sông. Chúng tôi lên giường ngủ một giấc say sưa sau mấy ngày vất vả trên đường.

Sáng hôm sau, thấy anh Nhì tươi tỉnh cùng Thục đi chợ. Và hôm sau khi chúng tôi ra về, thì anh Nhì xin ở lại một ngày nữa. Tháng mười năm đó đám cưới Nhì - Thục được tổ chức, tôi bận không về dự được. Sau khi miền Bắc được hòa bình, từ Thạch Thất anh chị đã về nhà tôi chơi mấy lần, con trai gái đầy đủ cả.

Em Phi Công Thụ về Xưởng năm 1957 được đi đào tạo kỹ sư V.T.Đ ở Liên Xô.

20.11.1960

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Chú Bếp Cương” NXB Hội Nhà văn 2016) 

26.8.25

Ở rừng

Đại tá Nguyễn Trọng Khoát – nguyên Hiệu trưởng Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin

Mùa xuân năm 1953 tôi đang làm cơ công V.T.Đ thực tập tại phân xưởng V.T.Đ của Xưởng Thông tin ở Quán Vuông huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên thì được lệnh lên tập trung ở Cục Thông tin để đi công tác. Sau này mới biết là đi chiến dịch đánh giặc Pháp ở Thượng Lào.

Cứ 17 giờ thì tập trung mặc niệm đồng chí Stalin, vì khi đó đồng chí ấy mới mất. Sau đó hành quân bộ đến chừng 2 giờ đêm thì nghỉ.

Vì không có cái gì để che mưa nên khi đi qua Phú Thọ, Ban chỉ huy phát động phong trào làm áo tơi như bà con ta vẫn dùng. Lá cọ và giây móc, nhân dân ủng hộ. Chúng tôi tước lá ngồi khâu. Kết quả, sau ba lô của bộ đội có tấm áo tơi lá xanh, khi mưa thì che, tối thì trải nằm thay chiếu ấm lủng.

Cứ đêm đi ngày nghỉ liền như vậy, chẳng mấy buổi đã đến Mộc Châu. Bài thơ “Lên Tây Tiến” lại vang trong đầu.

Chứng tôi đặt chân lên quốc lộ 41, nơi đã ghi bao dấu tích của lịch sử. Nhưng con đường xưa rải đá rộng 2 mét, nay cỏ mọc gần hết mặt đường chỉ có dấu chân mờ mờ trên cỏ, rộng chừng 20cm.

Rừng cây um tùm đầy vẻ hoang sơ. Mỗi khi có người đi tới, từng đàn khỉ gọi nhau làm rung động cả khu rừng. Những con chim đuôi dài, lông mầu sặc sỡ, bay lượn trông rất đẹp mắt. Nghe nói vùng này rất nhiều hổ, có lần bộ đội hành quân đã gặp hổ ngồi ven đường. Nhưng bộ đội thì bảo nhau! Hổ sợ lửa, sợ tiếng tinh nứa cọ vào nhau, hổ đánh hơi người rất xa nên cũng không phải lúc nào cũng giết người được. Những điều đó chẳng biết đúng sai nhưng với lính trẻ chúng tôi cũng thêm yên tâm vào rừng.

Đi qua Mộc Châu một đêm tôi được giao nhiệm vụ mới: Tìm địa điểm đặt kho thông tin tiền phương để tiếp nhận hàng từ hậu phương đưa ra bổ sung cho tiền tuyến và đón nhận chiến lợi phẩm ta thu về.

Đi với tôi có Trương Ngọc Vĩnh, dân Hà Nội gốc. Vĩnh học cùng lớp cơ công với tôi, kém tôi hai tuổi nhưng nhanh nhẹn, rất được các cấp trên quý, tuy chưa phải là đảng viên.

Chúng tôi đi cũng chẳng có trang bị gì thêm ngoài một con dao chặt củi, một bao gạo 5kg và một lọ măng kem.

Dạo này Pháp đã đánh hơi thấy hướng đi của quân ta nên máy bay của chúng suốt ngày lùng sục dọc đường 41, có dấu hiệu nghi vấn, chúng bắn ngay.

Tôi và Vĩnh cứ mầy mò cả ngày lẫn đêm để tìm địa điểm trong 5 hôm liền. Có đêm đang đi Vĩnh kêu: “Đói quá mày ạ!” Tôi liền bảo! Thế thì nghỉ nấu cơm!” Đến bờ con suối, chúng tôi lấy củi đốt sáng bừng cả khu rừng. Nấu nước uống, xong nấu cơm. Ăn xong. Vĩnh lại bảo “Tao buồn ngủ quá”! Tôi bảo “Thế mày ngủ đi tao gác cho”. Vĩnh lấy hai cái áo tơi là trải xuống làm chiếu, ngủ ngay. Tôi ngồi một mình, vun đống lửa to để phòng hổ dưới suối. Có tiếng vật gì lội lõm bõm, tôi lấy mảnh đất ném tiếng lõm bõm chạy xa. Tôi đoán có lẽ là con lợn rừng hoặc con hươu thấy lửa lại gần. Vĩnh đã tỉnh, đến lượt tôi. Nhớ có đêm đang trên đường 41, chúng tôi căng màn ôm nhau ngủ, mặc dân công, bộ đội hành quân qua.

Sau mấy ngày đi chưa tìm được địa điểm vừa ý, người thấm mệt thì một sáng tôi gặp đại đội điện thoại cũng đang trên đường ra mặt trận. Đại đội đó do anh Lê (Lê Cao) làm chính trị viên. Chúng tôi xin “ăn trực” bữa cơm. Ăn xong Vĩnh lăn ra ngủ như chết. Tôi là đảng viên rất lo về nhiệm vụ. Tôi cầm gậy ra đi. Gặp con suối cạn, tôi ngược suối đó độ 100 mét thì gặp một núi đá, có nhiều hang to nhỏ, lại có hồ nước gần đó. Như vậy là rất tuyệt. Tôi trèo lên một hòn đá to như đống rơm, ngồi nghêu ngao hát.

Bỗng dưng tôi thấy tiếng bước chân người quay lại, thấy hai nam giới, mặc quần áo gụ, mũ bẹp vành, thắt lưng lại có súng ngắn và lựu đạn, trông có dáng lính dù ngụy? Nhưng có ai thông báo ở đây có giặc? Chẳng biết ta? Hay giặc? Nhưng cứ bình tĩnh đã, tôi nghĩ vậy, tôi lại ngồi.

Bất ngờ, tôi quay người lại, quát to!

- Đứng lại! giơ tay lên.

Tôi thấy chúng cũng đứng lại. Tôi cầm gậy chạy xuống hỏi: Đi đâu? Giấy tờ? Chúng đáp:

- Chúng em bị bộ đội bắt ở Nà Sản, cho về quê. Mấy ngày nay đi rừng mất hết cả giấy tờ.

- Cơm nước gì chưa?

- Chưa!

- Tôi sẽ đi kiếm cơm cho các anh ăn và xin giấy cho đi, nếu không có người ta bắt đấy!

Nói rồi tôi đi trước, chúng theo sau. Được vài bước, chúng nói với nhau bằng tiếng dân tộc, tôi không hiểu, cứ nghĩ nó sẽ giết mình. Tôi bẻ hai cánh lá, đưa cho chúng:

- Che lên đầu kẻo máy bay trông thấy sẽ bắn chết.

Chúng “ngoan ngoãn” làm theo. Mục đích của tôi là đưa chúng ra quốc lộ thì mình mới an toàn.

Ra tới quốc lộ, nơi lúc tôi đến tôi đã trông thấy một anh bộ đội gánh nước ở đó.

- Xuống rửa mặt cho tỉnh táo đi!

Mục đích của tôi là kéo dài thời gian chờ đợi. Sau khi xong, chúng lên bờ nằm, tôi xuống rửa. Rất may anh bộ đội gánh nước lại ra tôi té nước, chỉ tay về hai tên lạ mặt. Một phút sau một nửa tiểu đội quân ta bắt nó mang về nơi tạm trú. Tại đây mới thấy hết trang bị trên người chúng. Mỗi tên 1 khẩu súng ngắn, hai quả lựu đạn, một dao găm, một cái bánh mì to, một cân muối, một ít tiền Đông Dương của Pháp và mấy đồng bạc trắng. Theo lời chúng khai: Chúng còn để súng tiểu liên, mấy bộ đàm và dù ở hang ngoài rừng. 17 giờ ngày hôm qua chúng lên máy bay ở Bạch Mai, rồi nhảy dù xuống khu vực này để tìm hướng đi của quân ta. Bọn chúng có 6 tên chia làm 3 nhóm.

Tôi rất phấn khởi chỉ xin đơn vị đó một quả lựu đạn để phòng thân. Tôi về báo cáo với đồng chí Lê, đồng chí ấy nói:

- Sao dại thế? Bắt được địch là có công, phải báo cáo trên để lĩnh thưởng chứ! Sang bảo họ trả hai tên đó mang về đây và tất cả trang bị của nó!

Tôi sang báo cáo với đơn vị bạn. Họ trả ngay, về đơn vị thông tin cũng không trói, không tra hỏi gì khác, mỗi đứa một cái lán, cách nhau vài mét một anh bộ đội cầm súng gác.

17 giờ, bộ đội đổi gác để tiếp tục hành quân. Lợi dụng thời cơ đó, trời lại sắp tối. Chúng chạy mất, bộ đội bắn mấy phát súng chỉ tiêng, tiếp tục lên đường.

Một vài hôm sau, tôi nhận được kế hoạch mới. Đón nhận xe hàng từ hậu phương ra, lập kho ở một địa phương khác gần bãi đỗ xe chung.

Vĩnh đã về đơn vị cũ, trên bổ sung cho tôi hai đồng chí đảng viên: đồng chí Giáp và đồng chí Sửu. Đồng chí Giáp đã trên 30 tuổi, tóc lốm đốm bạc, có vợ và một con trai, đồng chí Sửu chừng 25 tuổi, rất nông dân, khỏe, rất nhiệt tình, có vợ và một con gái.

Hàng tôi nhận gồm hơn chục cây số dây điện thoại, mấy chiếc máy điện thoại và mấy chục hòn pin để cho máy.

Chúng tôi làm lán để khí tài, có giá cách mặt đất 1 mét.

Một lán để ở, sàn cao trên 1 mét, xung quanh phên che kín vì sợ hổ mò đến ban đêm, một lán nhỏ sát mép suối, suốt ngày có củi sưởi để tiếp khách.

Chiến dịch bắt đầu, 2 đồng chí cán bộ tham mưu đi qua gửi lại 2 xe đạp khi nào về sẽ vào lấy. Một vài đơn vị đến lấy pin và dây điện thoại. Anh Đông (học viên cùng lớp cơ công với tôi) nay là cán bộ của Ban Thông tin Đại đoàn 308, mang đến gửi về Cục Thông tin 5 máy BC-1000 và 1 máy GRC-9. Vì kho ở gần bãi đỗ xe, sợ bị máy bay địch đánh bom, tôi mang số máy thông tin vào trong bản gửi, cách kho chừng hơn 1km.

Dân trong bản nhiều người không biết tiếng kinh, tôi thấy một cô gái nói sõi, nhờ đến nhà trưởng bản. Trưởng bản chừng ngoài 60 tuổi, rất vui vẻ giúp chúng tôi và cho biết cô gái đó tên là Mai. Tôi mang gói thuốc lào ra mời ông hút. Thật không ngờ lại có tác dụng mạnh thế. Ông đứng ra sân nói to vài tiếng, thế là bà con đến luôn, hút thuốc nói chuyện rất vui.

Mai dẫn tôi về một căn gác nhỏ để cất máy. Mai là một cô gái chừng 17, 18 tuổi Khá xinh, da trắng hồng, môi đỏ, tóc đen, nói năng lưu loát.

Sau này nhiều lần dẫn bà con ra lán chúng tôi đổi hàng. Bà con mang ra đủ thứ, ngô xay để ăn thay gạo, rau cải và cả thuốc phiện (tất nhiên cái này chúng tôi không nhận). Chúng tôi đổi lại cho bà con: thuốc lào, đá lửa, kim chỉ. Những thứ này chúng tôi mua lại của lái xe.

Mưa rào! Mai dẫn Giáp, Sửu đi bắt rùa con và cua đá ở trong núi.

Chiến dịch kết thúc, Chính ủy Hoàng Bửu Đôn khi trở về đã nghỉ ở lán chúng tôi một ngày. Chúng tôi mời Chính ủy một bữa canh cua đá nấu rau cải. Chính ủy khen: “Các cậu ăn sướng hơn cả cao cấp”.

Chúng tôi lặng lẽ chuyển khí tài lên ô tô về hậu phương, trong lòng nhớ mãi bản xa và Mai.

07/3/2001

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Chú Bếp Cương” NXB Hội Nhà văn 2016) 

23.8.25

Lên đường

Đại tá Nguyễn Trọng Khoát – nguyên Hiệu trưởng Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin

Ngày 5/1950 - 5/1951; tròn một năm tuổi quân không một giờ học quân sự, mặc dù ngôi sao vàng trên mũ đã có vành trắng.

Tôi được lệnh lên phòng khí tài nhận nhiệm vụ một cán bộ phổ biến cho tôi.

Lên Phổng - Mẹt, địa điểm Bắc Giang gần Lạng Sơn, nhận một số máy thông tin chiến lợi phẩm ta thu được mang về ATK. Đi cùng có 2 đồng chí chiến sĩ. Mang theo giấy giới thiệu với các địa phương xin dân công vận tải giúp, kinh phí: một triệu đồng Tài chính (tiền mặt).

Ngày 10/5/1951, chúng tôi lên đường. Hai chiến sĩ đi cùng đều là người Thanh Hóa. Một người trên 30 tuổi, có 2 con, một người 26 tuổi có 1 con. Hai người đều thật thà và chịu khó. Được đi ra ngoài, tôi rất phấn khởi. Phong cảnh thanh bình càng thêm yêu quý Tổ quốc. Đời sống bà con tuy có khó khăn một chút vì lo máy bay giặc ném bom nhưng vui vì tự do làm ăn. Đi dọc đường có lúc vào nhà dân xin hớp nước liền được mời một bát cháo đỗ đen cho thìa đường.

Chúng tôi đi 3 ngày thì đến nơi hẹn. Phải 2 lần giới thiệu mới được gặp đồng chí kho. Chúng tôi nghỉ tạm gia đình một nông dân trẻ. Anh chồng rất giỏi săn bắn, ngày nào cũng có cái ăn: chim, chuột, cầy, rắn... Bữa nào không có gì ăn tôi lại theo chị chủ nhà đi chọc tổ kiến lấy trứng về rang với lá lốt, ăn rất ngon, nhưng ăn nhiều hay bị lở.

Tôi theo vào núi để lấy máy, mới thấy nông dân ở đây làm ăn rất khá: Ven ruộng nhà nào cũng có 1 chum to đựng mật.

Tôi đến gặp UBND xã đưa giấy nhờ giải quyết cho 10 người (7 nam và 3 nữ) kèm theo quang gánh để mang máy đi.

Sáng 18/5, bắt đầu đi. Dân công đều trẻ, khỏe, vui. Nói chung không có gì khó khăn.

Chiều 19/5 về đến bến đò. Dự kiến đêm nay đi đò dọc, sáng 24 về đến Thái Nguyên.

Nhưng thật không may, hôm đó bến đò nghỉ mừng sinh nhật Hồ Chủ Tịch. Trời lại mưa to, đành phải chia nhau gác và ngủ lại tại bến đò.

Sáng hôm sau, chúng tôi vào một thôn nhỏ cách bến đò chừng 500 mét. Các nhà đều có tre xung quanh. Tôi cho để máy xuống các rãnh chống rễ tre trong vườn, phòng bị bom đạn.

15 giờ, tôi hội ý với các nhóm trưởng bàn về bữa ăn chiều và đi đêm nay.

Bỗng có 2 máy bay giặc lượn trên bầu trời. Tôi bảo: Ra hầm mau! Tam, cậu trẻ nhất nói: “Máy bay ở đây là chuyện thường ngày. Tránh nó thì còn làm gì nữa?

Trong khi tôi và 5 anh chị em khác xuống hầm thì Tam vẫn ngồi võng.

Bất ngờ! đoàng! đoàng! Bom nổ trúng nhà, bấy giờ Tam mới chạy ra hầm. Tôi đang ngồi phía cửa hầm, cậu ta đã đẩy tôi vào trong. Tôi không đồng ý, nhưng cậu ta cứ đẩy tôi vào và nói: “Em trẻ hơn anh, em chạy nhanh được!”.

Rầm, đoàng... đợt bom thứ hai lấp kín hầm, Tam gục vào vai tôi, không nói năng gì! Tôi lay tóc gọi, cũng im lặng. Hầm tối om, sẽ chết ngạt hết. Tôi bảo đồng chí ngồi cạnh “Ông gọi cậu ta hộ tôi, tôi xem hầm, nếu không tìm được lỗ thông hơi thì chết” 2 cô nữ dân công khóc to và cứ gào lên “Mẹ ơi! Con chết mất!” Tôi cứ lặng thinh, bò đi khắp hầm, lấy tay thục vào nóc hầm. Trong lòng rất lo lắng... Rất may lúc mò đến cuối hầm tay tôi đã đụng vào một khối cát, lộ ra khoảng trời màu sáng. Tôi mừng quá, thoát chết rồi! Máy bay vẫn đang gào rú!

... Một lát sau, im lặng. Tiếng người gọi nhau í ới..., tôi đẩy cành cây lấp miệng hầm, mọi người bật dậy, chạy tứ tán. Tôi đặt Tam hy sinh nằm ngay ngắn, lấy khăn phủ mặt cho Tam.

Tôi quay lại thì chẳng còn ai. Mấy anh chị dân công ù té chạy trở về quê. Hai đồng chí bộ đội cũng mất hút, gặp một bác nông dân tôi hỏi thăm, bác ta chỉ: “Kia kìa: đang chạy vào núi! Tôi gắng sức đuổi theo và bắt kịp, hai đồng chí đó cứ nói:

- Anh thương cho chúng tôi. Tôi còn 2 cháu bé ở nhà. Quay lại thì chết mất.

- Không chết được! Máy bay xa rồi. Hai đồng chí đó không quay lại. Tôi nói:

- Nếu các anh không quay lại, tôi sẽ truy tố ra tòa án binh về tội bỏ nhiệm vụ chiến đấu!

Bấy giờ họ mới quay lại.

Tôi phân công: Một anh xem khí tài, một anh tìm lại cho tôi túi tiền bị mất lúc xuống hầm.

- Tôi chạy sang thôn bên cạnh nhờ hỗ trợ. Gặp cái ao ngâm tre lại tưởng ruộng, bước xuống, nước ngập đến cổ, mấy con đỉa bấu vào. Tôi bấu chúng vứt đi, cắm đầu chạy.

Sang đến nơi, tôi hỏi thăm nhà ông xã đội. Một bác nông dân nói:

- Kẻng kia kìa, gõ mấy tiếng họ ra ngay bây giờ đấy!

Keng, keng, keng... Một lát sau họ ra. Tôi đề nghị giúp cho 30 dân quân mang theo quang gánh xẻng cuốc.

10 phút sau họ sang. Tôi đề nghị họ chuyển giúp số khí tài sang đồi bên cạnh, mai táng anh dân công, thu xếp giúp mấy gia đình gặp mặt.

Một anh bộ đội đi mua một áo quan giá bảy vạn đồng để mai táng anh dân công.

19 giờ chúng tôi xuống thuyền sau khi đã cảm ơn sự giúp đỡ của địa phương và chia sẻ về nỗi mất mát của các gia đình trong xóm.

Lúc bấy giờ mới thấy đói. Thuyền đi một lát mới gọi cơm ăn. Sau gần 2 đêm ngược sông chúng tôi về đến Thái Nguyên. Tôi liên hệ nhờ vào gia đình một bác nông dân. Bác rất tốt, bố trí cho chúng tôi nghỉ. Cô con gái tên Thảo lo giúp chúng tôi ăn cơm và liên hệ dân công chở máy về Quán Vuông (Định Hóa - Thái Nguyên).

Sau khi bàn bạc giao khí tài, tôi đến báo cáo với đồng chí Trưởng phòng. Ông ấy mặt lạnh tanh, không thăm hỏi gì về tình hình đi đường...

- Anh vén tay áo xô đốt nhà tầng giấy. Ở chiến trường bao nhiêu chiến sỹ hy sinh, làm gì có áo quan. Tôi sẽ kỷ luật anh!

- Đồng chí kỷ luật tôi, tôi sẽ khiếu nại lên Bộ Quốc phòng. Không thể ví chiến sĩ với người dân công được. Hai môi trường cũng khác nhau.

Tôi đứng dậy chào, ra về.

Anh em cơ quan đều nói mua áo quan cho anh dân công là đúng.

Tôi về xí nghiệp suốt đời nhớ Tam, người dân công trẻ đã hy sinh.

01/5/1964

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Chú Bếp Cương” NXB Hội Nhà văn 2016) 

22.8.25

Chú Bếp Cương

Đại tá Nguyễn Trọng Khoát – nguyên Hiệu trưởng Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin

Tôi gốc xã Cổ Nhuế, nhưng tuổi thơ lại ở quê mẹ: thôn Hậu, xã Dịch Vọng, phủ Hoài Đức, Hà Đông, năm 1943 mẹ tôi mất, anh em tôi mới về quê nội.

Tác phẩm "Chú Bếp Cương" của đ/c Nguyễn Trọng Khoát.

Tôi vào đoàn Hướng đạo từ 1943 sinh hoạt ở đội Sóc Con. Đoàn xã Cổ Nhuế thuộc Tổng đoàn Hướng đạo sinh (HĐS) Đông Dương do Huynh trưởng Hoàng Đạo Thúy đứng đầu.

Tôi chưa được gặp Huynh trưởng nhưng rất mến mộ và kính phục. Tôi gắng làm được nhiều việc thiện giúp đỡ mọi người như đoàn HĐS luôn nhắc nhở, xứng đáng với trang phục sơ mi nâu, quần soóc xanh, mũ dạ mềm mà tôi thường mặc.

Năm 1946 tôi đang học đệ tam Trường Phan Chu Trinh (Hà Nội) thì giặc Pháp gây hấn, tôi bỏ học tham gia làm liên lạc cho tự vệ xã và tham dự lớp tập huấn do Thành đội Hà Nội tổ chức.

Vì tôi biết chút ít về liên lạc bằng tín hiệu nên anh Phong Nhã và anh Hồng Quân đã lấy tôi vào “Ban liên lạc đặc biệt Bộ Quốc phòng”. Ban có 7 đội viên tôi chỉ còn nhớ tên 4 người: Đông (sau này ở Bộ Thông tin), Hoán quê ở Mai Dịch, nhạc sĩ Doãn Nho và tôi.

Ban do anh Phong (Trưởng ban) anh Hồng Quân làm Phó ban.Trụ sở mượn của một nhà dân ở Dịch Vọng Hậu. Chúng tôi ăn ở tập trung tại đó, học các môn: tìm phương hướng, vẽ bản đồ, tập đưa thư, bơi lội, đi bộ Chúng tôi rất thích thú, giữa tháng 12/1946 Ban chuyển đi Sơn Tây gia đình không cho đi. Tôi rất tiếc.

Tôi về gia đình tham gia vào đội liên lạc cho tự vệ xã. Tháng 6/1948 tôi vào làm văn cho Tạp chí Độc Lập (cơ quan của Đảng Dân chủ Việt Nam) do anh Nguyễn Thành Lê làm Chủ nhiệm.

Anh Lê theo cách làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặt tên cho thanh thiếu niên theo nhiệm vụ cách mạng “Cương Quyết Kháng Chiến Trường Kỳ Thắng Lợi Kiến Quốc Thành Công”. Tôi đứng đầu tên Cương, chú em tôi tên Quyết... Tên Cương tôi dùng mãi đến 7/1956 mới trở lại tên Khoát.

Đầu năm 1951, Chính phủ đề ra “chuẩn bị tổng phản công” mấy anh ít tuổi chúng tôi bảo nhau “sắp về Hà Nội rồi, mà mình lại ngồi văn phòng thế này thì buồn quá. Ta lên xin Chủ nhiệm đi bộ đội”.

Ý kiến đó được Chủ nhiệm rất hoan nghênh và ngay tháng sau thực hiện: thành tích đi học Lục quân khóa 6, Lê Hiền Việt vào xưởng quân giới, tôi theo anh Lê sang báo Cứu Quốc.

Một ngày đầu tháng 5/1950 anh Lê đi họp về, đưa cho tôi một mảnh giấy nhỏ có chữ viết của cụ Hoàng Đạo Thúy (Cục Trưởng Cục Thông tin liên lạc - Bộ Quốc phòng) gửi đồng chí Lê Dung, Chủ nhiệm lớp cơ công V.T.Đ-CR1, giới thiệu tôi là con em cán bộ vào lớp học đó.

Sáng 20/5/1950 tôi sang lớp, thầy Nguyễn Diệp hỏi tôi học lớp mấy? tôi đáp, đang học trung học. Thầy viết vào tờ giấy đặt trước mặt (a+b)2 =?. Tôi ghi ngay: (a+b)2 = a2 + 2ab + b2. Thầy Diệp gật đầu cho tôi vào lớp học.

Lớp học ở đây thật đẹp. Năm gian nhà lợp nứa ngay trên một bờ suối thật thơ mộng, ba gian giữa là lớp học, học viên ở hai đầu.

Sau khi tìm hiểu mới biết, lớp đã bắt đầu học từ 1/5/1950, tôi đến muộn gần một tháng.

Các thầy giáo dạy điện và V.T.Đ như thầy Dung, Diệp, Khánh, Lộc, dạy cơ khí thầy Liên, máy nổ thầy Hồng... đều rất nhiệt tình, dễ gần.

Học viên có 35 người: một số các anh từ đơn vị cử về: Phúc, Đặng Kỳ Lộc, Động, Trình, Quốc Khánh, anh Đức bên TƯ Đảng gửi sang, một số thiếu niên ở trại Tam Đảo, còn lại là con em cán bộ có 2 nữ học viên là chị Nga và chị Lê.

Ăn uống ban đầu cũng thấy khó khăn hơn bên nhà báo, nhất là thiếu muối. Có lúc tôi chạy về xin muối vào cái lọ pênixilin rồi trộn với ớt rừng để ăn, nhưng tôi vẫn thích cái không khí trẻ trung đó, mặc dầu có bạn đã gọi tôi là “ông cụ non”.

Để nâng cao đời sống, chủ nhật nào cũng đi lấy măng và rủ nhau vào bản cùng bên xí nghiệp mua bò, mua dê. Đặng Kỳ Lộc hay đi mua các thứ đó nên gọi là Lộc bò.

Lớp học cũng rất quan tâm đến thực hành như làm cơ khí, vận hành máy nổ, lắp ráp máy thu... nhưng thời gian quá ngắn, vật liệu lại thiếu, nên kết quả cũng còn hạn chế, nhưng từ chỗ không biết tí gì về điện đến nay đã biết đọc sơ đồ máy cầm cái mỏ hàn nối mạch điện, mở đầu cho chúng tôi đi sâu vào kỹ thuật V.T.Đ phục vụ thông tin liên lạc của Binh chủng.

Cuối 8/1950, lớp bế giảng hai chị nữ (Nga, Lê) và bốn chúng tôi (Khoát, Truyền, Vĩnh, Minh) ở lại xưởng. Ra trường chúng tôi được phong hàm hạ sĩ.

Tôi về bên nhà báo chơi. Anh Lê rất vui, thấy mũ của tôi sao vàng viền trắng, anh đùa: “mới đi học mà đã sao vàng viền trắng!”

- Vàng trắng là thế nào ?

- Là hạ sĩ ạ!

- Hạ sĩ là cái gì?

Tôi cũng chẳng biết trả lời thế nào, đành nói cho qua chuyện:

- Ngày xưa các cụ đi lính về làng cứ gọi là ông Cai, chú Bếp. Bây giờ hạ sĩ chắc cũng như chú Bếp!

- “À thế gọi là chú Bếp Cương” anh em cười xòa vui vẻ. Và từ đó về sau mỗi khi tôi về, anh Lê lại gọi vui “Chú Bếp đã về”!

Anh Xuân Thủy viết giấy cho tôi chuyển sinh hoạt Đảng sang quân đội, giấy viết, không có dấu. Một đồng chí chi ủy viên chi bộ Phòng Thông tin bảo:

- Nhiều thư đồng chí lắm biết thế nào cho sinh hoạt.

Tôi cầm giấy về báo cáo với anh Xuân Thủy.

Anh rút trong cặp ra cái dấu “Đảng Đoàn Mặt trận Dân tộc Thống nhất”, đóng vào góc giấy giới thiệu. Từ đó tôi mới được sinh hoạt chi bộ, nhưng thời gian thử thách kéo dài mất 9 tháng.

Gần cuối năm cán bộ rút đi nhiều lắm, chỉ còn độ chục người, trong đó có bốn đảng viên: tôi và đồng chí Uông (người ở Thạch Thất) là 2 đồng chí dự bị và 2 đồng chí chăn ngựa là chính thức. Đến lúc sinh hoạt, hai đồng chí chính thức dứt khoát không làm tổ trưởng, cuối cùng tôi nhận để công việc tạm ổn.

Trên yêu cầu quyên góp áo rét và giày dép ủng hộ chiến sĩ tiền tuyến. Chúng tôi vận động bác Huyên (thợ cuốn dây) 2 áo len, chị Nga 2 áo len, Uông 1 áo len, tôi một áo bu dông dạ, 1 đôi dép... nói chung kết quả tốt. Đêm đó trời khá rét, đang ngủ tôi nghe thấy tiếng khóc ở phía giường phụ nữ gần cuối nhà, tôi gọi:

- Uông ơi, nghe như có ai khóc đấy?

Uông lắng nghe, rồi cất dọng chọ chẹ tiếng Thạch Thất.

- Nga ơi sao mà khóc thế ?

Tiếng khóc im lặng. Sáng hôm sau chị Nga kêu rét quá không ngủ được! Ai cũng chỉ còn một manh áo mỏng chẳng giúp gì được. Tôi chợt nhớ trong kho còn có một áo trấn thủ chuột cắn bọc cái bóng đèn to, có thể tạm dùng. Tôi bàn với tổ Đảng: giặt cái áo trấn thủ đưa cho chị Nga dùng tạm đỡ rét, đi lấy củi sưởi ấm cả nhà. Điều đó tạm giải quyết trước mắt.

Ngày 02/9/1952 Cục Thông tin tổ chức phong hạ sỹ quan cho Tiểu đoàn Quân bưu 303. Xưởng đảm bảo máy tăng âm và ánh sáng điện. Lễ tổ chức ở Bản Cái. Chúng tôi đi để phục vụ với bộ quân phục mới có sao vàng vành trắng, chúng tôi rất phấn khởi vì được thấy kỹ thuật trong cuộc sống.

Tháng 11 tôi được chuyển lên Phòng Kỹ thuật của Binh chủng ở Khuổi Tác (Bắc Kạn), do anh Ngô Thọ kỹ sư V.T.Đ làm Trưởng phòng, anh Nguyễn Văn Quý (người miền Nam, tay nghề cao, rất tận tình giúp lính trẻ) làm Phó phòng. Quân số chừng trên ba chục người, tôi được mọi người bầu làm quản lí bếp ăn, chủ yếu là đi chợ mua rau và nấu nồi cơm ở bếp. Phiên chợ thì mua hộ anh em hoa quả như hồng, quýt, kẹo bột, thuốc lào. Không có báo, không có đài, nhưng hàng tháng vẫn tổ chức vui văn nghệ: anh Đạt chơi ghi ta rất hay, anh Vũ chơi băng giô rất sôi nổi, anh Đô diễn hài kịch rất hóm, còn anh Nho, anh Vĩnh và tôi thỉnh thoảng lại đóng kịch cương... không khí rất vui.

Một ngày cuối năm tôi được anh Thọ gọi đến nói: miền cực Nam Trung Bộ liên lạc ra ngoài này rất khó khăn. Nay Cục cử một đoàn cán bộ vào đó nắm tình hình. Đi theo đoàn cần có một máy liên lạc. Dự định Phòng sẽ lắp một máy phát báo một đèn để đoàn mang theo, việc đó anh Quý sẽ bàn với đồng chí, còn đây là anh Trần Văn Vừng đến để cùng chúng ta bàn về máy của chuyến đi.

Tôi chuẩn bị lắp máy, tôi chọn đèn 6L6G là loại công suất lớn, vẽ mạch điện, lên báo cáo với anh Quý, anh rất nhất trí, điều chỉnh vài trị số.

Tôi vào kho kiếm được mảnh tôn 1 ly, mang ra làm cơ khí, xong thử máy, mời anh Vừng cùng tham gia. Anh rất ưng ý. Sau này, khi lấy vợ tôi mới biết thêm anh Vừng là chú vợ tôi quê ở Thuần Nghệ - Thị xã Sơn Tây.

Anh Vừng nhận máy xong lên đường. Đầu năm 1951, anh Quý đi họp về ôm chầm lấy tôi, miệng kêu lên “tốt rồi! tốt rồi!”. Hỏi ra mới biết: Đoàn cán bộ của Binh chủng đã vào đến cực Nam Trung Bộ, máy phát làm việc tốt.

09/9/2012

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Chú Bếp Cương” NXB Hội Nhà văn 2016) 

21.8.25

Vươn

Nguyễn Hoàng Cường

Anten vút sóng lên trời

Cáp quang tỏa khắp muôn nơi xa gần

Tổng đài "duyên" kết toàn quân

Truyền hình nối mạng cho gần nhau thêm

Trực máy để nối ngày đêm

Mồ hôi lặng đổ máy bền, tuyến thông

Hào hùng tiếp bước cha ông

Rạng danh Binh chủng, báo công lên Người

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu” NXB QĐND 2005)

Bài ca người chiến sĩ dây trần

Nguyễn Đức Chi

Bàn chân vượt mấy suối

Từ ấy tới hôm nay

Thuộc thêm bao tên núi

Và đạp mấy đèo mây

Trên Trường Sơn thảm lá đan dày

Vui náo nức những ngày đánh Mỹ.

 

"Ôi Tổ quốc giang sơn hùng vĩ"

Đẹp biết bao chiến sĩ dây trần

Heo hút rừng sâu vọng tiếng hổ gầm

Vượn hót quanh năm, suối cao tiếng hát

Đây xứ sở của ruồi vàng muỗi vắt

Mây nhởn nhơ lả lướt dưới chân người

 

Văng vẳng gần xa tiếng nói tiếng cười

Cô gái nào yêu đời thế nhỉ

Đêm mênh mông sao em không nghỉ

Và đi đâu như thể lên đèo

 

Có phải em cô gái ban chiều

Thoăn thoắt xới rau, thẳng rìu chặt gỗ

Không được lên ngàn mắt em hoe đỏ

Giận dỗi ai mà bỏ cả bữa cơm

 

Hiểu lắm ngày qua biết mấy khó khăn

Tay trắng dựng lên từng căn nhà ấm

Từng cỗ máy vượt núi cao dốc đứng

Luyện hôm nay chân cứng đá mềm

 

Em lên hang soi sáng ngọn đèn

Bàn tay nhỏ nối liền mạch máu

Đỉnh non cao pháo đài chiến đấu

Trái tim em nung nấu căm thù

 

Rẽ lá rừng xua áng mây mù

Theo hút đường dây từng giờ ra tiền tuyến

Chiến sĩ thông tin xiết bao trìu mến

Xa nhau rồi lưu luyến lắm anh ơi

 

Nhớ buổi cùng nhau lên đèo Anh Trỗi

Mỗi đỉnh cao của tổ 7 tổ 5

Ai xếp đá cho đường dây đi mãi

Ai đuổi voi dưới ánh trăng rằm

 

Ai bảo nơi đây cuộc sống âm thầm

Xa xóm xa thôn muôn phần hưu quạnh

Dù nắng cháy lưng hay đêm đông giá lạnh

Đời vẫn xanh tươi khi mưa tạnh mây tan

 

Tôi về đèo Thế lên Nậm Nang

Sim chín tiễn đưa về thăm eo Lập Cập

Đá cục, đá hòn quây trò cây cột

Đá tạo nên eo mới thật ly kỳ.

 

Nghe quanh năm gió thổi rầm rì

Tiếng sóng biển vỗ về từng đợt

Sông Thanh Lạng nước đỏ ngàu tung bọt

Ai kéo dây ai vượt lũ trào.

 

Ai loang đỏ máu đào

Vẫn lao vào dựng cột

Coi đường dây như ruột

Tim còn đập còn đi.

 

Sóng gió với gian nguy

Ta sợ chi giặc Mỹ

Máy vô vàn yêu quý

Ai lấy thân đậy nắp chiến hào.

 

Thông tin như mạch máu đào

Dây không thông suốt ta nào yên tâm

Quản chi ghềnh thác đạn bom

Còn hơi thở, giữ dây thông chiến trường.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Những chặng đường tín hiệu” NXB QĐND 2005) 

20.8.25

Công lao của đồng chí Trường Chinh với ngành Giao thông liên lạc

Đại tá TS Nguyễn Văn Khoan – Hội viên Chi hội Phòng KHQS

Tài liệu, sách báo từ trước đến nay ít cung cấp tư liệu - có lẽ do đồng chí Trường Chinh không muốn - về trách nhiệm Trưởng ban giao thông của đồng chí, mà chỉ nói nhiều đến trách nhiệm Tổng Bí thư, Trưởng Ban tuyên truyền lý luận, Ban công vận... của đồng chí Trường Chinh thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám.

Tuy không có điều kiện dự lớp huấn luyện do Bác Hồ tổ chức ở Quảng Châu, nhưng vào năm 1927, đồng chí Trường Chinh đã được đọc "Đường Kách mệnh". Qua những lời dạy ngắn gọn, súc tích trong "Đường Kách mệnh”, với một sự nhạy cảm tinh tế, qua thực tiễn hoạt động của Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, của lần tổ chức truy điệu Phan Chu Trinh tại quê nhà, đồng chí Trường Chinh đã thấy rõ ràng, sâu sắc rằng nếu không có một hệ thống giao thông liên lạc vững chắc thì tổ chức Đảng, cán bộ của Đảng, cơ sở của Đảng không thể hoạt động được.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Trường Chinh tại Đại hội lần thứ II của Đảng, tháng 2-1951. Ảnh tư liệu.

Chưa được gặp đồng chí Nguyễn Ái Quốc - người cộng sản đầu tiên tổ chức ra hệ thống giao thông để truyền bá những tư tưởng cách mạng tháng Mười và chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, nhưng quan niệm của đồng chí Trường Chinh đã thống nhất với Nguyễn Ái Quốc trong câu nói của Người: "Việc liên lạc là một việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mệnh, vì chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó bảo đảm thắng lợi”.

Chính nhờ vậy mà trong những năm 1930-1940, đồng chí Trường Chinh đã đề xuất nhiều ý kiến với Thường vụ Trung ương về công tác giao thông liên lạc, biến thành những nghị quyết cơ bản, quan trọng còn lưu lại cho chúng ta đến ngày nay.

Tháng 3 năm 1939, trong biên bản Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng ở mục "Phát triển và củng cố Đảng" có nêu rõ: "Đảng bộ cần có hai, ba mối giao thông khác nhau". Năm 1936, trong thư công khai của Trung ương Đảng gửi cho các đồng chí toàn Đảng, có đoạn nói: "Đảng vừa khai mạc xong thì bị đế quốc bắt hàng loạt chiến sĩ, mất một số đảng bộ và một bộ phận giao thông. Ban Trung ương đã vững tâm... đào tạo cán bộ mới, tổ chức lại các mối giao thông bị đứt, khôi phục lại các đảng bộ bị phá...". Hai mươi sáu năm sau, năm 1962, viết trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, ký tên T.C trong bài "Nhìn lại các cơ sở bí mật của cơ quan lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương từ năm 1930 đến năm 1935” tác giả T.C cho rằng “cơ sở giao thông chính là cơ sở của Đảng, và sở dĩ trong những lúc khó khăn mà Đảng vẫn giữ được phong trào chính là nhờ có một hệ thống giao thông vững chắc, bí mật...”

Bước sang những năm 1940, đồng chí Trường Chinh đã đích thân lựa chọn những chiến sĩ giao thông, những cơ sở, trạm liên lạc và đã tổ chức được hai vùng ATK (an toàn khu) - thực chất là một hệ thống giao thông - gồm các trạm giao thông bí mật, vững chắc - những cơ sở của Đảng tại các vùng Đông Anh, Từ Liêm, Hà Đông, Hiệp Hòa, Phổ Yên... nối tiếp với căn cứ cách mạng Tân Trào, Bắc Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn.

Tháng 11 năm 1943, Nghị quyết của Xứ ủy Bắc Kỳ đã phản ánh được những thành công trong hệ thống giao thông này qua việc xác nhận rằng: "Do sự liên lạc và giao thông chắc chắn, mau lẹ mà Đảng củng cố sự chỉ huy được mau chóng và thống nhất tập hợp lực lượng được kịp thời...".

Trong cao trào khởi nghĩa vũ trang, khi mà công tác chỉ huy, lãnh đạo - qua hệ thống giao thông liên lạc - chiếm vị trí hàng đầu để tránh "những tổn thất" trước "tình hình diễn biến mau lẹ" với tên ký X.Y.Z, đồng chí Trường Chinh đã tổng kết bốn nguyên tắc giao thông liên lạc, đăng trên Tạp chí "Cờ giải phóng" số 6 ra ngày 23 tháng 7 năm 1944. Bốn nguyên tắc đó là: Song hành, gián tiếp, biệt lập, chuyên môn. Cho đến ngày nay bốn nguyên tắc ấy vẫn còn được vận dụng dưới nhiều hình thức trong các lực lượng thông tin quân sự, bưu điện...

Với kinh nghiệm hoạt động bản thân, với niềm tin vô hạn vào quần chúng cách mạng, đồng chí Trường Chinh đã chọn được nhiều chiến sĩ giao thông "đơn tuyến" và "trực tuyến" như em bé câm ở Gia Lâm, chị Sáu ở Liên Mạc, chị Kỳ ở Hà Nội. Đồng chí đã vận động được một số các nhà chùa cùng với các sư tăng che giấu cán bộ, làm cơ sở giao thông, cơ sở bí mật của Đảng trong vùng Hải Hưng, Hà Bắc. Vào những năm 1944 - 1945, bọn lý trưởng, trương tuần vùng quanh Hà Nội rất sợ cái tên Bảy Kiến - một người rất giỏi võ - có tinh thần hào hiệp, nhưng đối với bọn chúng là một tên ăn cướp ngang tàng. Một đồng chí kể cho tôi nghe rằng đồng chí Trường Chinh đã thuyết phục được ông Bảy Kiến làm giao thông cho Đảng, đôi lúc làm bảo vệ cho các đồng chí Thường vụ Trung ương. Mỗi khi đi công tác, qua các điểm canh, ông Bảy Kiến lên tiếng trước:

- Bảy Kiến có ông anh về chơi. Bọn mày thế nào?

- Dạ, xin ông Bảy và bác đi cho...

Cách mạng tháng Tám đã được dự đoán và chuẩn bị đón trước thời cơ. Nhiều chỉ thị về chuẩn bị khởi nghĩa, Tổng khởi nghĩa đã được chuyển đi một cách an toàn, bí mật đến tất cả các xứ ủy, tỉnh ủy trong cả nước. Có thể nói sự thống nhất chỉ đạo Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 thành công, phần rất quan trọng là do đóng góp của hệ thống giao thông liên lạc, mà đồng chí Trường Chinh là người được Bác Hồ tin cậy, ủy nhiệm phụ trách.

Những năm sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, đồng chí Trường Chinh dù bận nhiều công việc khác vẫn quan tâm đến giao thông liên lạc. Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bắt đầu, đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh đã đi xe đạp từ Việt Bắc vào Liên khu IV kiểm tra hệ thống giao thông, kết hợp giải quyết một số công việc của Đảng và trực tiếp nắm tình hình vùng Hà - Ninh - Thanh. Những chủ trương mở đường Hồ Chí Minh trên bộ, trên biển đều có những ý kiến tham gia của đồng chí Trưởng ban giao thông cũ của Đảng.

Tình cảm của đồng chí với các chiến sĩ giao thông thật rộng lớn mà cụ thể, nhân ái mà không mềm yếu, sâu sắc, chân thành.

Đồng chí Trường Chinh đã đến thăm một đài thông tin trên một đỉnh núi cao, đã gửi thư chúc Bộ đội Thông tin nhân dịp Bộ đội Thông tin kỷ niệm 40 năm Ngày thành lập.

Năm 1969, nhân dịp kỷ niệm 25 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng chí đã dành cho phòng triển lãm của Bộ đội Thông tin một tình cảm quý báu. Từ sáng sớm, đồng chí đã cùng các đồng chí cán bộ của quân đội, do đồng chí Lê Cư, Bí thư Đảng ủy Bộ tư lệnh Thông tin hướng dẫn, đến thăm và động viên anh chị em công tác tại khu triển lãm. Nhìn lên tấm bảng ghi dòng chữ của Bác Hồ "Việc liên lạc là một việc quan trọng bậc nhất..." đồng chí nói: "Công lao của Bác trong giao thông rất lớn, chúng ta phải cố gắng làm theo lời dạy này".

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Nguyễn Văn Khoan: Giao thông – Thông tin liên lạc”. NXB Lao động 1997) 

19.8.25

Thanh thản

Đại tá Nguyễn Trọng Khoát – nguyên Hiệu trưởng Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin

Mừng thọ tám lăm đón tết này

Gốc đa mưa gió chẳng hề lay

Nhân dân vun đắp lòng chung thủy

Bộ đội gây trồng tính thẳng ngay

Tốt lá thêm hương sâu nghĩa bạn

Xanh cây trĩu quả đậm ơn thầy

Quê hương phóng khoáng ta về nghỉ

Thanh thản hồn thơ vỗ cánh bay.

25/10/2015

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Chú bếp Cương” NXB Hội nhà văn 2016) 

Gặp gỡ

Nguyên Công Bông - nguyên Phó Chính ủy Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin

Mấy chục năm mới gặp nhau

Cái răng đã rụng - mái đầu bạc phơ

Đổi thay cả cách xưng hô

Ông tôi, anh chị, xô bồ kể đâu

Ấm trà, chén rượu mở đầu

Biết bao nhiêu chuyện in sâu trong đầu

Cùng ôn lại một thời trận mạc

Chuyện dưới trên chức tước ngày xưa

Chuyện hôm qua - chuyện bây giờ

Chuyện cháu con - chuyện ai còn, ai mất

Trong tiếng cười râm ran thân mật

Cậu, tớ, mày, tao ồn ã cả căn phòng

Hỏi có gì vui hơn thế được không

Những người lính đang gợi lên cái thời đáng nhớ

Chuyện lứa đôi những ai dang dở

Chuyện ai còn nằm lại chiến trường xa?

Tưởng ít, hóa nhiều dứt cũng chẳng ra

Mặc thời gian - chẳng ai cần biết

Rượu cạn rồi - tình sâu không hết

Tuổi tác nhiều - nhưng chẳng ai thấy mệt

Cứ chuyện hoài - chuyện mãi suốt đêm thâu.

TP. Hồ Chí Minh 15/2/2016

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Chú bếp Cương” NXB Hội nhà văn 2016) 

18.8.25

Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội họp mặt kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Bộ đội Thông tin liên lạc

Sáng 17/8/2025, tại Sở chỉ huy Binh chủng Thông tin, Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội tổ chức họp mặt kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công (19/8/1945 – 19/8/2025), Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2025), 80 năm Ngày truyền thống của Bộ đội Thông tin liên lạc (09/9/1945 – 09/9/2025) và đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh (lần 2).

Dự buổi họp mặt có các đồng chí: Thiếu tướng Nguyễn Văn Trị, Bí thư Đảng ủy - Chính ủy Binh chủng Thông tin liên lạc (TTLL); các đồng chí lãnh đạo và chỉ huy Binh chủng, các đồng chí thủ trưởng cơ quan, đơn vị phía Bắc của Binh chủng và các đồng chí nguyên là lãnh đạo, chỉ huy Binh chủng TTLL qua các thời kỳ.

Thiếu tướng Vũ Dương Nghi, nguyên Chính ủy Binh chủng, Trưởng ban liên lạc Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội chủ trì buổi họp mặt.

Tham dự buổi họp mặt còn có các đồng chí: Thiếu tướng Vũ Hữu Hanh, Tư lệnh BTL Tác chiến không gian mạng (nguyên Phó Tư lệnh Binh chủng TTLL); Thiếu tướng Trần Bá Khương, Phó Cục trưởng Cục Quân huấn - Nhà trường/BTTM QĐND Việt Nam (nguyên Phó Tư lệnh Binh chủng TTLL); Thiếu tướng Tống Văn Thanh, Phó Cục trưởng Cục Tuyên huấn/TCCT QĐND Việt Nam (nguyên Phó Chủ nhiệm Chính trị Binh chủng TTLL); Thiếu tướng Trần Khôi Nguyên - Phó Cục trưởng Cục Tác chiến điện tử/BTTM QĐND Việt Nam; Đại tá Nguyễn Thị Hải Lý, Ủy viên thường vụ Đảng ủy - Chủ nhiệm Chính trị, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội; Thượng tá Nguyễn Ngọc Linh, Phó Chủ nhiệm Chính trị, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội.

Thiếu tướng Trần Minh Tâm tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu.

Về dự họp mặt còn có gần 1200 hội viên thuộc 39 chi hội khu vực Hà Nội cũng tề tựu đông đủ. Thay mặt cho các đồng chí trong Thường trực Ban liên lạc, đồng chí Trưởng ban liên lạc ôn lại lịch sử chiến đấu và trưởng thành của Binh chủng 80 năm qua. Theo đó, cách đây 80 năm, dưới sự lãnh đạo thiên tài của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã nổi dậy làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công giành độc lập dân tộc. Ngày 02/9/1945 Hồ Chủ Tịch đọc bản Tuyên ngôn độc lập – khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam).

Các đại biểu dự họp mặt trong hội trường.

Trong 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Hồ Chủ Tịch, Bộ đội Thông tin đã không ngừng lớn mạnh, chiến đấu dũng cảm, vượt qua muôn ngàn khó khăn thử thách lập nên những chiến công hết sức vẻ vang. Thông tin liên lạc Quân sự (TTLLQS) đã góp phần cùng toàn quân, toàn dân làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. TTLLQS đã góp phần chiến đấu và chiến thắng cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo nhất trong lịch sử do đế quốc Mỹ tiến hành, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, làm nhiệm vụ quốc tế và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Ghi nhận chiến công của Bộ đội Thông tin đã giành được trong 80 năm qua Đảng, Nhà nước đã tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho 69 lượt tập thể và 37 cá nhân, trong đó Binh chủng Thông tin vinh dự được Đảng, Nhà nước tuyên dương hai lần danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang và nhiều phần thưởng cao quý khác. Những phần thưởng cao quý giành được trong 80 năm qua là nguồn cội sức mạnh cổ vũ các thế hệ tiếp nối của Bộ đội Thông tin vươn lên ngang tầm đòi hỏi của yêu cầu phát triển khoa học công nghệ, đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số trong “kỷ nguyên vươn mình của đất nước”.

Trong không khí hào hùng, tình nghĩa của buổi họp mặt truyền thống trang trọng, đầm ấm, đồng chí Trưởng ban bày tỏ tình cảm bồi hồi, xúc động, thành kính tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu – Người sáng lập Đảng ta, người khai sinh ra nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam) và sự tri ân sâu sắc các Mẹ Việt Nam anh hùng, các anh hùng lực lượng vũ trang; tưởng nhớ, tôn vinh và tri ân 5.225 liệt sĩ của Bộ đội Thông tin toàn quân; các đồng chí nguyên lãnh đạo, chỉ huy Binh chủng; các đồng chí nguyên lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị, nhà trường, nhà máy và cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên qua các thời kỳ, suốt 80 năm qua đã anh dũng chiến đấu, vượt qua gian khổ hy sinh; giữ vững mạch máu thông tin với lời thề son sắt: “Tim còn đập, thông tin còn thông suốt” góp phần cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân “làm cho đất nước nở hoa độc lập, kết trái tự do”.

Hội Truyền thống Thông tin Hà Nội hình thành, phát triển từ tổ chức tiền thân là Hội Hưu trí Thông tin, ra đời tháng 9/1987 do cố Đại tá Võ Thương – nguyên Chính ủy Trường Trung cấp Kỹ thuật Thông tin làm Trưởng ban liên lạc. 38 năm qua, hoạt động của Hội được duy trì đúng quy chế, phù hợp với nhu cầu, đặc điểm tâm sinh lý của hội viên. Tổ chức quy mô của Hội ngày càng lớn mạnh. Hiện nay Hội có 39 chi hội và 1.816 hội viên. Số hội viên đăng kí tham gia Hội ngày càng đông chứng tỏ Hội là nơi các hội viên tin cậy, chia sẻ, gửi gắm tâm tư tình cảm; nơi giao lưu, hội ngộ của những người đã một thời cùng chung ăn, ở, học tập, công tác, chiến đấu. Các hoạt động thăm hỏi hội viên ốm đau, phúng viếng khi hội viên từ trần thể hiện nghĩa tình trọn vẹn gắn bó “sống chết có nhau”, “ăn quả nhớ người trồng cây” của các hội viên. Những năm gần đây, mỗi năm Hội tổ chức mừng thọ từ 200 – 300 hội viên và chúc tết mỗi năm gần 100 hội viên cao tuổi từ 90 đến 100 và trên 100 tuổi. Nhiều hội viên tham gia tích cực vào việc cung cấp thông tin tìm hài cốt liệt sĩ, giải mã đơn vị trong chiến tranh. Nhiều chi hội và hội viên đi thăm viếng nghĩa trang A69, A72 nhân dịp những ngày lễ, tết và  giới thiệu hướng dẫn khách nước ngoài thăm Bảo tàng Binh chủng. Hoạt động trang blog của Hội từ khi ra đời tháng 12/2014 tới nay đã đăng tải  828 tin, bài, ảnh. 578.966 người đã truy cập đón đọc. Số độc giả trong nước chiếm 32%, Singapore 28%, Mexico 8%, Hồng Kông 7%, Mỹ 3% và một số nước khác. Hoạt động trang blog của Hội luôn chấp hành đúng nguyên tắc tự do ngôn luận, báo chí của Đảng, Nhà nước; thực sự là nơi giúp các hội viên tiếp xúc trao đổi thông tin, tuyên truyền về các hoạt động của Hội, của Binh chủng, tình hình nhiệm vụ của quân đội và đất nước cũng như truyền thống của Bộ đội Thông tin.

Hoạt động thu chi, quản lý sử dụng hội phí của Hội thực hiện đúng quy chế, công khai, tiết kiệm.

Phát biểu với các đại biểu tại buổi Họp mặt, đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Văn Trị, Chính ủy Binh chủng bày tỏ sự vui mừng và trân trọng cảm ơn các đại biểu thay mặt cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Thông tin đã luôn ủng hộ, giúp đỡ và cống hiến xây dựng Binh chủng trong suốt 80 năm qua. Đồng thời, đồng chí Chính ủy cũng thông tin với các đại biểu về một số hoạt động chính của Binh chủng trong thời gian qua: Kịp thời tham mưu, đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quy hoạch, phát triển hệ thống, quản lý Nhà nước về thông tin liên lạc quân sự. Hoàn thành các mục tiêu giai đoạn 1 của Chiến lược phát triển hệ thống thông tin, tạo bước phát triển đột phá về hệ thống thông tin liên lạc quân sự ở cả 3 cấp chiến lược, chiến dịch và chiến thuật, cả về tổ chức, công nghệ, phương thức bảo đảm và chất lượng dịch vụ, có độ ổn định, tính vững chắc; bảo đảm tốt thông tin liên lạc phục vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ huy, chỉ đạo toàn quân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và các nhiệm vụ đột xuất. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt 3 đột phá: Về tổ chức lực lượng; huấn luyện, giáo dục và đào tạo; xây dựng chính quy, chấp hành kỷ luật, cải cách hành chính và chuyển đổi số. Công tác hậu cần, kỹ thuật, tài chính và các mặt công tác khác đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ; tổ chức tốt các buổi gặp mặt với các đơn vị nhân dịp truyền thống 80 năm của Binh chủng và tổ chức thành công Đại hội đại biểu Đảng bộ Binh chủng lần thứ XIII.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Trị, Chính ủy Binh chủng phát biểu tại buổi Họp mặt.

Thay mặt cho Đảng ủy, chỉ huy Binh chủng, đồng chí Chính ủy mong muốn các đại biểu luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, tiếp tục quan tâm theo dõi, giúp đỡ, cổ vũ, động viên, khích lệ, góp phần xây dựng Binh chủng ngày càng vững mạnh, phát triển và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với truyền thống của Binh chủng TTLL Anh hùng.

Theo truyền thống, buổi họp mặt còn được vui mừng chứng kiến lễ mừng thọ cho 176/320 hội viên cao tuổi. Lễ mừng thọ được tổ chức trang trọng, thực sự đã động viên được các hội viên thi đua rèn luyện, sống vui - khỏe - có ích; đoàn kết và cổ vũ các thế hệ nỗ lực cống hiến trí tuệ, kinh nghiệm, sức lực và tài năng, vì Binh chủng ngày càng phát triển.


Mừng thọ cho các hội viên.

Buổi Họp mặt rất xúc động được nghe bà Nguyễn Phương Nga đọc thơ và ông Nguyễn Khắc Phúc tặng các kỷ vật của cá nhân trong chiến đấu cho Binh chủng.

Một số hình ảnh trong buổi Họp mặt:

Chính ủy Binh chủng tặng hoa chúc mừng Hội Truyền thống.

Tư lệnh BTL Tác chiến không gian mạng tặng hoa chúc mừng Hội Truyền thống.

Phó Cục trưởng Cục Tác chiến điện tử/BTTM tặng hoa chúc mừng Hội Truyền thống.

Chủ nhiệm Chính trị Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội tặng quà chúc mừng Hội Truyền thống.

Thiếu tướng Trần Bá Khương – Phó Cục trưởng Cục Quân huấn - Nhà trường/BTTM tặng hoa chúc mừng Hội Truyền thống.

Thiếu tướng Tống Văn Thanh, Phó Cục trưởng Cục Tuyên huấn/TCCT tặng hoa chúc mừng Hội Truyền thống.






Các tiết mục văn nghệ của các hội viên chào mừng buổi họp mặt.

Hình ảnh ngoài hội trường.

Tin: Quang Hưng, ảnh Xuân Quang