Đại tá Nguyễn Trọng Khoát – nguyên Hiệu trưởng Trường
Trung cấp Kỹ thuật Thông tin
Ngày 5/1950 - 5/1951; tròn một năm tuổi quân không một
giờ học quân sự, mặc dù ngôi sao vàng trên mũ đã có vành trắng.
Tôi được lệnh lên phòng khí tài nhận nhiệm vụ một cán
bộ phổ biến cho tôi.
Lên Phổng - Mẹt, địa điểm Bắc Giang gần Lạng Sơn, nhận
một số máy thông tin chiến lợi phẩm ta thu được mang về ATK. Đi cùng có 2 đồng
chí chiến sĩ. Mang theo giấy giới thiệu với các địa phương xin dân công vận tải
giúp, kinh phí: một triệu đồng Tài chính (tiền mặt).
Ngày 10/5/1951, chúng tôi lên đường. Hai chiến sĩ đi
cùng đều là người Thanh Hóa. Một người trên 30 tuổi, có 2 con, một người 26 tuổi
có 1 con. Hai người đều thật thà và chịu khó. Được đi ra ngoài, tôi rất phấn khởi.
Phong cảnh thanh bình càng thêm yêu quý Tổ quốc. Đời sống bà con tuy có khó
khăn một chút vì lo máy bay giặc ném bom nhưng vui vì tự do làm ăn. Đi dọc đường
có lúc vào nhà dân xin hớp nước liền được mời một bát cháo đỗ đen cho thìa đường.
Chúng tôi đi 3 ngày thì đến nơi hẹn. Phải 2 lần giới
thiệu mới được gặp đồng chí kho. Chúng tôi nghỉ tạm gia đình một nông dân trẻ. Anh
chồng rất giỏi săn bắn, ngày nào cũng có cái ăn: chim, chuột, cầy, rắn... Bữa
nào không có gì ăn tôi lại theo chị chủ nhà đi chọc tổ kiến lấy trứng về rang với
lá lốt, ăn rất ngon, nhưng ăn nhiều hay bị lở.
Tôi theo vào núi để lấy máy, mới thấy nông dân ở đây
làm ăn rất khá: Ven ruộng nhà nào cũng có 1 chum to đựng mật.
Tôi đến gặp UBND xã đưa giấy nhờ giải quyết cho 10 người
(7 nam và 3 nữ) kèm theo quang gánh để mang máy đi.
Sáng 18/5, bắt đầu đi. Dân công đều trẻ, khỏe, vui.
Nói chung không có gì khó khăn.
Chiều 19/5 về đến bến đò. Dự kiến đêm nay đi đò dọc,
sáng 24 về đến Thái Nguyên.
Nhưng thật không may, hôm đó bến đò nghỉ mừng sinh nhật
Hồ Chủ Tịch. Trời lại mưa to, đành phải chia nhau gác và ngủ lại tại bến đò.
Sáng hôm sau, chúng tôi vào một thôn nhỏ cách bến đò
chừng 500 mét. Các nhà đều có tre xung quanh. Tôi cho để máy xuống các rãnh chống
rễ tre trong vườn, phòng bị bom đạn.
15 giờ, tôi hội ý với các nhóm trưởng bàn về bữa ăn
chiều và đi đêm nay.
Bỗng có 2 máy bay giặc lượn trên bầu trời. Tôi bảo: Ra
hầm mau! Tam, cậu trẻ nhất nói: “Máy bay ở đây là chuyện thường ngày. Tránh nó
thì còn làm gì nữa?
Trong khi tôi và 5 anh chị em khác xuống hầm thì Tam vẫn
ngồi võng.
Bất ngờ! đoàng! đoàng! Bom nổ trúng nhà, bấy giờ Tam mới
chạy ra hầm. Tôi đang ngồi phía cửa hầm, cậu ta đã đẩy tôi vào trong. Tôi không
đồng ý, nhưng cậu ta cứ đẩy tôi vào và nói: “Em trẻ hơn anh, em chạy nhanh được!”.
Rầm, đoàng... đợt bom thứ hai lấp kín hầm, Tam gục vào
vai tôi, không nói năng gì! Tôi lay tóc gọi, cũng im lặng. Hầm tối om, sẽ chết
ngạt hết. Tôi bảo đồng chí ngồi cạnh “Ông gọi cậu ta hộ tôi, tôi xem hầm, nếu
không tìm được lỗ thông hơi thì chết” 2 cô nữ dân công khóc to và cứ gào lên “Mẹ
ơi! Con chết mất!” Tôi cứ lặng thinh, bò đi khắp hầm, lấy tay thục vào nóc hầm.
Trong lòng rất lo lắng... Rất may lúc mò đến cuối hầm tay tôi đã đụng vào một
khối cát, lộ ra khoảng trời màu sáng. Tôi mừng quá, thoát chết rồi! Máy bay vẫn
đang gào rú!
... Một lát sau, im lặng. Tiếng người gọi nhau í ới...,
tôi đẩy cành cây lấp miệng hầm, mọi người bật dậy, chạy tứ tán. Tôi đặt Tam hy
sinh nằm ngay ngắn, lấy khăn phủ mặt cho Tam.
Tôi quay lại thì chẳng còn ai. Mấy anh chị dân công ù
té chạy trở về quê. Hai đồng chí bộ đội cũng mất hút, gặp một bác nông dân tôi
hỏi thăm, bác ta chỉ: “Kia kìa: đang chạy vào núi! Tôi gắng sức đuổi theo và bắt
kịp, hai đồng chí đó cứ nói:
- Anh thương cho chúng tôi. Tôi còn 2 cháu bé ở nhà.
Quay lại thì chết mất.
- Không chết được! Máy bay xa rồi. Hai đồng chí đó
không quay lại. Tôi nói:
- Nếu các anh không quay lại, tôi sẽ truy tố ra tòa án
binh về tội bỏ nhiệm vụ chiến đấu!
Bấy giờ họ mới quay lại.
Tôi phân công: Một anh xem khí tài, một anh tìm lại
cho tôi túi tiền bị mất lúc xuống hầm.
- Tôi chạy sang thôn bên cạnh nhờ hỗ trợ. Gặp cái ao
ngâm tre lại tưởng ruộng, bước xuống, nước ngập đến cổ, mấy con đỉa bấu vào. Tôi
bấu chúng vứt đi, cắm đầu chạy.
Sang đến nơi, tôi hỏi thăm nhà ông xã đội. Một bác
nông dân nói:
- Kẻng kia kìa, gõ mấy tiếng họ ra ngay bây giờ đấy!
Keng, keng, keng... Một lát sau họ ra. Tôi đề nghị
giúp cho 30 dân quân mang theo quang gánh xẻng cuốc.
10 phút sau họ sang. Tôi đề nghị họ chuyển giúp số khí
tài sang đồi bên cạnh, mai táng anh dân công, thu xếp giúp mấy gia đình gặp mặt.
Một anh bộ đội đi mua một áo quan giá bảy vạn đồng để
mai táng anh dân công.
19 giờ chúng tôi xuống thuyền sau khi đã cảm ơn sự
giúp đỡ của địa phương và chia sẻ về nỗi mất mát của các gia đình trong xóm.
Lúc bấy giờ mới thấy đói. Thuyền đi một lát mới gọi
cơm ăn. Sau gần 2 đêm ngược sông chúng tôi về đến Thái Nguyên. Tôi liên hệ nhờ vào
gia đình một bác nông dân. Bác rất tốt, bố trí cho chúng tôi nghỉ. Cô con gái
tên Thảo lo giúp chúng tôi ăn cơm và liên hệ dân công chở máy về Quán Vuông (Định
Hóa - Thái Nguyên).
Sau khi bàn bạc giao khí tài, tôi đến báo cáo với đồng
chí Trưởng phòng. Ông ấy mặt lạnh tanh, không thăm hỏi gì về tình hình đi đường...
- Anh vén tay áo xô đốt nhà tầng giấy. Ở chiến trường
bao nhiêu chiến sỹ hy sinh, làm gì có áo quan. Tôi sẽ kỷ luật anh!
- Đồng chí kỷ luật tôi, tôi sẽ khiếu nại lên Bộ Quốc
phòng. Không thể ví chiến sĩ với người dân công được. Hai môi trường cũng khác
nhau.
Tôi đứng dậy chào, ra về.
Anh em cơ quan đều nói mua áo quan cho anh dân công là
đúng.
Tôi về xí nghiệp suốt đời nhớ Tam, người dân công trẻ
đã hy sinh.
01/5/1964
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Chú Bếp Cương” NXB Hội Nhà văn 2016)
0 comments:
Đăng nhận xét