Đại tá Nguyễn Trọng Khoát – nguyên Hiệu trưởng Trường
Trung cấp Kỹ thuật Thông tin
Tôi gốc xã Cổ Nhuế, nhưng tuổi thơ lại ở quê mẹ: thôn Hậu, xã Dịch Vọng, phủ Hoài Đức, Hà Đông, năm 1943 mẹ tôi mất, anh em tôi mới về quê nội.
![]() |
| Tác phẩm "Chú Bếp Cương" của đ/c Nguyễn Trọng Khoát. |
Tôi vào đoàn Hướng đạo từ 1943 sinh hoạt ở đội Sóc
Con. Đoàn xã Cổ Nhuế thuộc Tổng đoàn Hướng đạo sinh (HĐS) Đông Dương do Huynh
trưởng Hoàng Đạo Thúy đứng đầu.
Tôi chưa được gặp Huynh trưởng nhưng rất mến mộ và
kính phục. Tôi gắng làm được nhiều việc thiện giúp đỡ mọi người như đoàn HĐS
luôn nhắc nhở, xứng đáng với trang phục sơ mi nâu, quần soóc xanh, mũ dạ mềm mà
tôi thường mặc.
Năm 1946 tôi đang học đệ tam Trường Phan Chu Trinh (Hà
Nội) thì giặc Pháp gây hấn, tôi bỏ học tham gia làm liên lạc cho tự vệ xã và
tham dự lớp tập huấn do Thành đội Hà Nội tổ chức.
Vì tôi biết chút ít về liên lạc bằng tín hiệu nên anh
Phong Nhã và anh Hồng Quân đã lấy tôi vào “Ban liên lạc đặc biệt Bộ Quốc phòng”.
Ban có 7 đội viên tôi chỉ còn nhớ tên 4 người: Đông (sau này ở Bộ Thông tin),
Hoán quê ở Mai Dịch, nhạc sĩ Doãn Nho và tôi.
Ban do anh Phong (Trưởng ban) anh Hồng Quân làm Phó
ban.Trụ sở mượn của một nhà dân ở Dịch Vọng Hậu. Chúng tôi ăn ở tập trung tại đó,
học các môn: tìm phương hướng, vẽ bản đồ, tập đưa thư, bơi lội, đi bộ Chúng tôi
rất thích thú, giữa tháng 12/1946 Ban chuyển đi Sơn Tây gia đình không cho đi.
Tôi rất tiếc.
Tôi về gia đình tham gia vào đội liên lạc cho tự vệ xã.
Tháng 6/1948 tôi vào làm văn cho Tạp chí Độc Lập (cơ quan của Đảng Dân chủ Việt
Nam) do anh Nguyễn Thành Lê làm Chủ nhiệm.
Anh Lê theo cách làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặt tên
cho thanh thiếu niên theo nhiệm vụ cách mạng “Cương Quyết Kháng Chiến Trường Kỳ
Thắng Lợi Kiến Quốc Thành Công”. Tôi đứng đầu tên Cương, chú em tôi tên Quyết...
Tên Cương tôi dùng mãi đến 7/1956 mới trở lại tên Khoát.
Đầu năm 1951, Chính phủ đề ra “chuẩn bị tổng phản
công” mấy anh ít tuổi chúng tôi bảo nhau “sắp về Hà Nội rồi, mà mình lại ngồi
văn phòng thế này thì buồn quá. Ta lên xin Chủ nhiệm đi bộ đội”.
Ý kiến đó được Chủ nhiệm rất hoan nghênh và ngay tháng
sau thực hiện: thành tích đi học Lục quân khóa 6, Lê Hiền Việt vào xưởng quân giới,
tôi theo anh Lê sang báo Cứu Quốc.
Một ngày đầu tháng 5/1950 anh Lê đi họp về, đưa cho
tôi một mảnh giấy nhỏ có chữ viết của cụ Hoàng Đạo Thúy (Cục Trưởng Cục Thông tin
liên lạc - Bộ Quốc phòng) gửi đồng chí Lê Dung, Chủ nhiệm lớp cơ công V.T.Đ-CR1,
giới thiệu tôi là con em cán bộ vào lớp học đó.
Sáng 20/5/1950 tôi sang lớp, thầy Nguyễn Diệp hỏi tôi
học lớp mấy? tôi đáp, đang học trung học. Thầy viết vào tờ giấy đặt trước mặt (a+b)2
=?. Tôi ghi ngay: (a+b)2 = a2 + 2ab + b2. Thầy
Diệp gật đầu cho tôi vào lớp học.
Lớp học ở đây thật đẹp. Năm gian nhà lợp nứa ngay trên
một bờ suối thật thơ mộng, ba gian giữa là lớp học, học viên ở hai đầu.
Sau khi tìm hiểu mới biết, lớp đã bắt đầu học từ
1/5/1950, tôi đến muộn gần một tháng.
Các thầy giáo dạy điện và V.T.Đ như thầy Dung, Diệp,
Khánh, Lộc, dạy cơ khí thầy Liên, máy nổ thầy Hồng... đều rất nhiệt tình, dễ gần.
Học viên có 35 người: một số các anh từ đơn vị cử về:
Phúc, Đặng Kỳ Lộc, Động, Trình, Quốc Khánh, anh Đức bên TƯ Đảng gửi sang, một số
thiếu niên ở trại Tam Đảo, còn lại là con em cán bộ có 2 nữ học viên là chị Nga
và chị Lê.
Ăn uống ban đầu cũng thấy khó khăn hơn bên nhà báo, nhất
là thiếu muối. Có lúc tôi chạy về xin muối vào cái lọ pênixilin rồi trộn với ớt
rừng để ăn, nhưng tôi vẫn thích cái không khí trẻ trung đó, mặc dầu có bạn đã gọi
tôi là “ông cụ non”.
Để nâng cao đời sống, chủ nhật nào cũng đi lấy măng và
rủ nhau vào bản cùng bên xí nghiệp mua bò, mua dê. Đặng Kỳ Lộc hay đi mua các thứ
đó nên gọi là Lộc bò.
Lớp học cũng rất quan tâm đến thực hành như làm cơ
khí, vận hành máy nổ, lắp ráp máy thu... nhưng thời gian quá ngắn, vật liệu lại
thiếu, nên kết quả cũng còn hạn chế, nhưng từ chỗ không biết tí gì về điện đến
nay đã biết đọc sơ đồ máy cầm cái mỏ hàn nối mạch điện, mở đầu cho chúng tôi đi
sâu vào kỹ thuật V.T.Đ phục vụ thông tin liên lạc của Binh chủng.
Cuối 8/1950, lớp bế giảng hai chị nữ (Nga, Lê) và bốn
chúng tôi (Khoát, Truyền, Vĩnh, Minh) ở lại xưởng. Ra trường chúng tôi được phong
hàm hạ sĩ.
Tôi về bên nhà báo chơi. Anh Lê rất vui, thấy mũ của
tôi sao vàng viền trắng, anh đùa: “mới đi học mà đã sao vàng viền trắng!”
- Vàng trắng là thế nào ?
- Là hạ sĩ ạ!
- Hạ sĩ là cái gì?
Tôi cũng chẳng biết trả lời thế nào, đành nói cho qua
chuyện:
- Ngày xưa các cụ đi lính về làng cứ gọi là ông Cai,
chú Bếp. Bây giờ hạ sĩ chắc cũng như chú Bếp!
- “À thế gọi là chú Bếp Cương” anh em cười xòa vui vẻ.
Và từ đó về sau mỗi khi tôi về, anh Lê lại gọi vui “Chú Bếp đã về”!
Anh Xuân Thủy viết giấy cho tôi chuyển sinh hoạt Đảng
sang quân đội, giấy viết, không có dấu. Một đồng chí chi ủy viên chi bộ Phòng Thông
tin bảo:
- Nhiều thư đồng chí lắm biết thế nào cho sinh hoạt.
Tôi cầm giấy về báo cáo với anh Xuân Thủy.
Anh rút trong cặp ra cái dấu “Đảng Đoàn Mặt trận Dân tộc
Thống nhất”, đóng vào góc giấy giới thiệu. Từ đó tôi mới được sinh hoạt chi bộ,
nhưng thời gian thử thách kéo dài mất 9 tháng.
Gần cuối năm cán bộ rút đi nhiều lắm, chỉ còn độ chục
người, trong đó có bốn đảng viên: tôi và đồng chí Uông (người ở Thạch Thất) là
2 đồng chí dự bị và 2 đồng chí chăn ngựa là chính thức. Đến lúc sinh hoạt, hai
đồng chí chính thức dứt khoát không làm tổ trưởng, cuối cùng tôi nhận để công
việc tạm ổn.
Trên yêu cầu quyên góp áo rét và giày dép ủng hộ chiến
sĩ tiền tuyến. Chúng tôi vận động bác Huyên (thợ cuốn dây) 2 áo len, chị Nga 2
áo len, Uông 1 áo len, tôi một áo bu dông dạ, 1 đôi dép... nói chung kết quả tốt.
Đêm đó trời khá rét, đang ngủ tôi nghe thấy tiếng khóc ở phía giường phụ nữ gần
cuối nhà, tôi gọi:
- Uông ơi, nghe như có ai khóc đấy?
Uông lắng nghe, rồi cất dọng chọ chẹ tiếng Thạch Thất.
- Nga ơi sao mà khóc thế ?
Tiếng khóc im lặng. Sáng hôm sau chị Nga kêu rét quá
không ngủ được! Ai cũng chỉ còn một manh áo mỏng chẳng giúp gì được. Tôi chợt nhớ
trong kho còn có một áo trấn thủ chuột cắn bọc cái bóng đèn to, có thể tạm
dùng. Tôi bàn với tổ Đảng: giặt cái áo trấn thủ đưa cho chị Nga dùng tạm đỡ
rét, đi lấy củi sưởi ấm cả nhà. Điều đó tạm giải quyết trước mắt.
Ngày 02/9/1952 Cục Thông tin tổ chức phong hạ sỹ quan
cho Tiểu đoàn Quân bưu 303. Xưởng đảm bảo máy tăng âm và ánh sáng điện. Lễ tổ chức
ở Bản Cái. Chúng tôi đi để phục vụ với bộ quân phục mới có sao vàng vành trắng,
chúng tôi rất phấn khởi vì được thấy kỹ thuật trong cuộc sống.
Tháng 11 tôi được chuyển lên Phòng Kỹ thuật của Binh
chủng ở Khuổi Tác (Bắc Kạn), do anh Ngô Thọ kỹ sư V.T.Đ làm Trưởng phòng, anh
Nguyễn Văn Quý (người miền Nam, tay nghề cao, rất tận tình giúp lính trẻ) làm Phó
phòng. Quân số chừng trên ba chục người, tôi được mọi người bầu làm quản lí bếp
ăn, chủ yếu là đi chợ mua rau và nấu nồi cơm ở bếp. Phiên chợ thì mua hộ anh em
hoa quả như hồng, quýt, kẹo bột, thuốc lào. Không có báo, không có đài, nhưng
hàng tháng vẫn tổ chức vui văn nghệ: anh Đạt chơi ghi ta rất hay, anh Vũ chơi
băng giô rất sôi nổi, anh Đô diễn hài kịch rất hóm, còn anh Nho, anh Vĩnh và
tôi thỉnh thoảng lại đóng kịch cương... không khí rất vui.
Một ngày cuối năm tôi được anh Thọ gọi đến nói: miền cực
Nam Trung Bộ liên lạc ra ngoài này rất khó khăn. Nay Cục cử một đoàn cán bộ vào
đó nắm tình hình. Đi theo đoàn cần có một máy liên lạc. Dự định Phòng sẽ lắp một
máy phát báo một đèn để đoàn mang theo, việc đó anh Quý sẽ bàn với đồng chí,
còn đây là anh Trần Văn Vừng đến để cùng chúng ta bàn về máy của chuyến đi.
Tôi chuẩn bị lắp máy, tôi chọn đèn 6L6G là loại công
suất lớn, vẽ mạch điện, lên báo cáo với anh Quý, anh rất nhất trí, điều chỉnh
vài trị số.
Tôi vào kho kiếm được mảnh tôn 1 ly, mang ra làm cơ
khí, xong thử máy, mời anh Vừng cùng tham gia. Anh rất ưng ý. Sau này, khi lấy vợ
tôi mới biết thêm anh Vừng là chú vợ tôi quê ở Thuần Nghệ - Thị xã Sơn Tây.
Anh Vừng nhận máy xong lên đường. Đầu năm 1951, anh
Quý đi họp về ôm chầm lấy tôi, miệng kêu lên “tốt rồi! tốt rồi!”. Hỏi ra mới biết:
Đoàn cán bộ của Binh chủng đã vào đến cực Nam Trung Bộ, máy phát làm việc tốt.
09/9/2012
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Chú Bếp Cương” NXB Hội Nhà văn 2016)

0 comments:
Đăng nhận xét