7.12.24

Chuyện kể con đường "Mây Gió"

Phạm Đình Phong

... Ngày 19 tháng 5 năm 1959 là ngày thành lập Đoàn 559 còn gọi là đoàn vận tải quân sự Quang Trung.

Chúng tôi về với Đoàn 559 từ nhiều hoàn cảnh khác nhau: có anh đến với đoàn ngay thành lập, cũng có những anh đến với đoàn trên đường hành quân đi "B". Mỗi người ở mỗi đơn vị, mang chứng minh thư đi các mặt trận khác nhau: người đi B1... kẻ đi B2... người đi Bác Ân... kẻ vào Bác Ái... Do yêu cầu chi viện cho chiến trường ngày càng lớn để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược nên Đoàn 559 được ưu tiên đặc biệt về tổ chức lực lượng, có thể lấy quân từ bất cứ đơn vị đi B nào. Như đơn vị chúng tôi: từ huyện Đông Triều, Quảng Ninh ngày 26 tháng 3 năm 1965 lên đường đi "B", chứng minh thư chúng tôi mang là đi vùng "Bác Ân" tức là vùng miền Trung tỉnh Bình Thuận bây giờ. Ngày ấy tôi là Chủ nhiệm thông tin của Trung đoàn 10 công binh mà anh Đinh Hào là trung đoàn trưởng và anh Hoàng Phú Túc là chính ủy. Sau Mậu Thân (1968) thì tôi được điều về làm chính trị viên Tiểu đoàn 16 thông tin Đoàn 559. Quân số của tiểu đoàn bấy giờ được điều động bổ sung từ các đơn vị trên tuyến: Bộ binh... pháo binh, kho... giao liên có... có cả thanh niên xung phong nữa. Nhiệm vụ nặng nề, bảo đảm thông tin trên tuyến đường rộng, dài hàng ngàn cây số. Luôn luôn phải chịu đựng sự đánh phá của kẻ địch và thời tiết vô cùng khắc nghiệt của núi rừng Trường Sơn... anh em trong đơn vị quen biết nhau rồi hiểu nhau... đến cả thương yêu nhau nữa. Đều qua con đường "Mây, gió", họ đã nhận ra nhau từ những tín hiệu Tịch... Tà... từ những tiếng nói qua các tổng đài điện thoại. Sau 4 năm kể từ ngày thành lập, tiểu đoàn chúng tôi mới có dịp tập trung về để mừng công nhân ngày thành lập Đoàn thanh niên 26 tháng 3. Được tin về tập trung tiểu đoàn ai nấy đều mừng rỡ có dịp được gặp mặt nhau. Mà lâu nay họ chỉ gặp nhau qua sóng điện. Khi anh chị em được tập trung về đầy đủ, sáng ngày 26 tháng 3 năm 1971, toàn tiểu đoàn sinh hoạt, buổi trưa liên hoan và buổi chiều thì đơn vị nào về đơn vị nấy. Khi sinh hoạt xong nhiều anh chị em lên gặp chúng tôi tha thiết đề nghị được ở lại sáng hôm sau về đơn vị, để anh chị em được gặp gỡ nhau. Nhiều chị em đã khóc và năn nỉ xin tiểu đoàn cho phép. Trước tình cảm những chiến sĩ của mình, tôi thật sự mủi lòng rơi nước mắt. Tôi biết trong số anh chị em về đây hôm nay có những (đôi) họ đã thực sự hiểu nhau và yêu nhau... như: Nam đài trưởng (Lâm) quê Hải Phòng với nữ đài trưởng (Hà) quê Nghệ An... như chính trị viên phó đại đội (Thanh Bền) với nữ tổng đài viên (Minh Xen)... cũng như nữ y sĩ (Bích Hệt) với... trợ lý khí tài (Giới) tất cả… tất cả họ đều đã hiểu nhau và yêu nhau tha thiết. Họ rất cần có thêm thời gian ở bên nhau. Nhưng biết làm sao được, thương cảm... thương cảm vô cùng mà không thể khác được. Vì kỷ luật của chiến trường, khi nói lên những lời này với chiến sĩ của mình cổ tôi như nghẹn lại, nước mắt trào ra... Hình như anh chị em cũng thấu hiểu được lòng tôi, nên không còn ai đề nghị nữa, và sau liên hoan anh chị em vui vẻ chia tay nhau ra về không một ai buông lời oán trách.

Sáng ngày hôm sau 26 tháng 3 năm 1971, khoảng 5 giờ sáng rừng Trường Sơn chưa rõ mặt người, những chú tắc kè còn vang lên những lời (đếm tuổi). Bỗng đất trời rung chuyển, cây đổ ào ào, trận B52 đầu tiên đã trùm lên đơn vị tôi và cả sở chỉ huy Đoàn 559. Hầm của chúng tôi bị sập nhưng không ai bị gì, tự bới ngoi lên mặt đất thì thấy cây cối đổ ngổn ngang, tổng đài (3000) dây đứt cuốn vào từng cụm, tiếng súng bắn cấp cứu đây đó vang lên, nhất là ở phía Đại đội 2 (đại đội tổng đài, dây bọc) bắn nhiều nhất. Tôi cùng với y sĩ Hệt, y tá Cúc mang túi thuốc vượt suối chạy sang, thấy anh Soạn đại đội trưởng cùng anh Suất chính trị viên đại đội và một số anh khác đang ra sức đào bới hầm của tổ quân bưu bị sập hoàn toàn bên cạnh miệng phễu của một hố bom lớn. Khi đưa lên được mặt đất, ba anh em tôi nhìn đồng hồ thì thời gian đợt 1 của B52 đã hết, tôi vội hối anh em ngừng tay đi tìm hầm trú ẩn (quy luật bom B52 thường là 3 đợt, mỗi đợt cách nhau 20 – 30 phút) cứ thế chúng tôi phải ẩn tránh ba đợt liền và mỗi đợt bom nổ cứ xa dần. Khi đào bới hết căn hầm thì đưa được chín thi thể của anh chị em còn nguyên vẹn nhưng không thể cứu được. Vì quả bom nổ quá gần. Trong lúc đó thì anh nuôi (Tuân) phát hiện xác của y tá Chúc nằm vắt qua ghế nhà ăn, vai còn mang túi thuốc. Chúc đã hy sinh trong lúc đi cấp cứu đồng đội. Thi thể của anh chị em được đưa tập trung ở hội trường đầy đủ cả chỉ có y tá Chúc là thiếu mất một chân (cả đơn vị tìm không thấy). Các anh: Suất, Oanh cùng nhau ngồi hàng giờ để lau rửa thay quần áo cho anh chị em. Đặc biệt anh Suất đã ngồi lặng gỡ từng mái tóc rối bời cho ba cô gái. Trong sinh hoạt hằng ngày anh vẫn được anh em trong đơn vị tôn vinh là người anh của cả đại đội. Bởi lẽ anh là chính trị viên, là bí thư chi bộ đại đội, anh luôn sống chan hòa, cởi mở, thương yêu chiến sĩ như những người ruột thịt của mình.

Sang ngày thứ hai anh em phát hiện trong cơm có mùi đặc biệt. Cả đại đội chia nhau đi tìm nguyên nhân... tổ nuôi quân đã phát hiện dưới lớp đất, đá và lá cây ở độ sâu 1,5 m (đáy giếng nước ăn của đơn vị) là cái chân của y tá Chúc mà hai hôm nay anh em tìm không thấy. Chính trị viên Suất cùng anh em trong đại đội khâm liệm cái chân của y tá Chúc rồi mang ra mộ ghép chân của Chúc vào đúng chỗ. Một việc làm đầy tình nghĩa, đầy trách nhiệm của người sống đối với người đã chết.

...Những tia nắng chiều còn sót lại trên ngọn cây, các chú chồn bay đang tìm đường về tổ... thì ban chỉ huy tiểu đoàn chúng tôi nhận được điện từ các đơn vị, qua những tín hiệu Tịch... Tà... quen thuộc và giọng nói nghẹn ngào của những nữ nhân viên tổng đài qua đường dây mới được khôi phục. Hỏi thăm... chia buồn... xem ai còn ai mất. Và không quên cảm ơn các mệnh lệnh kiên quyết của tiểu đoàn chiều hôm ấy. Nếu không thì hậu quả khôn lường khi mà các đơn vị nghỉ lại còn nằm phơi trên mặt đất.

Đây là một bài học xương máu cho các cấp lãnh đạo chỉ huy hôm nay và mai sau. Chiến tranh đã đi qua 30 năm, hôm nay viết lại những dòng (chuyện kể) này. Tôi không khỏi bồi hối thương nhớ những cán bộ, chiến sĩ thông tin đã hy sinh vì sự nghiệp thống nhất Tổ quốc hôm nay. Và hàng năm cứ vào những ngày 26 tháng 3 anh Nguyễn Thanh Quân chính trị viên phó tiểu đoàn ngày ấy lại điện cho tôi hỏi... đã thắp hương chưa.... Đã cúng giỗ chưa!

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”) 

6.12.24

Chuyện kể góc khuất Điện Biên

Đại tá Phạm Đình Phong - nguyên Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Lữ đoàn 596, Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc

... Khẩu pháo của chúng tôi vừa kéo vào tới đất của Bản Tấu (Bản Tấu là địa danh của trận địa Pháp đầu tiên được chuẩn bị để đánh vào Điện Biên Phủ) thì anh em chúng tôi nhận được lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch: "Tất cả các đơn vị kéo pháo ra vị trí ban đầu chờ lệnh".

Được lệnh mà anh em chúng tôi ai nấy rã rời cả chân tay! Ai cũng thắc mắc: Sau bao ngày đêm gian khổ mới đưa được pháo vào trận địa! Thế mà lại phải kéo pháo ra... ngay đêm đó tôi thấy chi bộ đảng họp, tổ đảng họp, anh em đơn vị thì thầm với nhau chắc là có chuyện gì đặc biệt lắm đấy!

Sáng hôm sau, từng khẩu đội pháo một họp để nghe phổ biến nhiệm vụ, anh Nghĩa trung đội trưởng phổ biến tình hình. Bị quân ta tấn công mạnh, quân địch đã phải rút khỏi Thượng Lào và thị xã Lai Châu về tăng cường phòng thủ cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tình hình địch đã có những thay đổi... về phía quân ta: Trận địa đã bị lộ, pháo của ta lại kéo bằng tay, tiếp đạn cho pháo lại bằng đôi vai của dân công vác từng quả một. Không bảo đảm được tính cơ động cho pháo của ta khi tham gia chiến đấu. Vì những lý do đó nên Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định kéo pháo ra, thiết lập trận địa mới. Lúc này anh em chúng tôi mới hiểu rõ, quyết tâm, động viên nhau làm tốt nhiệm vụ.

Trời Điện Biên đã vào đông, cái lạnh của núi rừng Tây Bắc, khiến anh em chúng tôi không khỏi chạnh lòng nhớ tới quê hương những ngày giáp Tết. Ngay đêm đó 26 tháng 1 năm 1954, tiểu đội công binh chúng tôi gồm 12 người, anh Nguyễn Tự là tiểu đội trưởng, tôi là tiểu đội phó, được anh Nghĩa trung đội trưởng thông báo "Lên tiểu đoàn nhận nhiệm vụ mới". Như vậy tiểu đội tôi không còn được trong đội hình kéo pháo ra, mà phải đi làm nhiệm vụ khác. Sau một đêm hành quân cật lực tiểu đội tôi mới tới được tiểu đoàn, sau vài giờ nghỉ ngơi cho lại sức, anh Nguyễn Đình Năm tiểu đoàn trưởng trực tiếp gặp chúng tôi giao nhiệm vụ. Anh nói: "Lý do phải kéo pháo ra chắc các cậu đã rõ cả rồi, chính vì lý do đó mà mặt trận cần phải có một trận địa pháo mới! Trận địa này phải đạt được những yêu cầu sau:

- Bí mật nằm ở những góc khuất bất ngờ.

- Đường kéo pháo vào phải bằng ô tô tới tận các hầm pháo, để bảo đảm tính cơ động khi chiến đấu.

- Phải có một trận địa nghi binh ở phía trước để thu hút phi pháo của địch. Bảo vệ an toàn cho trận địa pháo của ta.

- Nhiệm vụ mở đường mới đã có các đơn vị tham gia chiến dịch mở. Riêng tiểu đội các cậu được giao nhiệm vụ biệt phái, đi phối thuộc với Trung đoàn pháo 45 tiến hành lập trận địa nghi binh, nhiệm vụ như thế nào khi tới Trung đoàn pháo 45 sẽ được giao cụ thể. Trước khi lên đường tiểu đoàn sẽ trang bị mới cho các cậu: một bộ đồ mộc công (đó là bộ đồ làm mộc gồm đục, chàng, cưa, búa...) và những cuốc xẻng mới để sang đó các cậu tác nghiệp cho nhanh".

Nhìn quanh chúng tôi một lượt, tiểu đoàn trưởng hỏi: Nhiệm vụ đại thể là như vậy có cậu nào hỏi gì không?

Anh em chúng tôi nhìn nhau và đồng thanh đáp... Rõ!

(Vì mọi việc cụ thể phải đến Trung đoàn pháo 45 mới biết) tiếp đó là anh Vương Thiều tiểu đoàn phó, tham mưu trưởng giao cho chúng tôi địa chỉ cần đến của Trung đoàn pháo binh 45 và căn dặn: Thời gian rất gấp, tới đó nhận nhiệm vụ các cậu phải bắt tay vào công việc ngay. Tất cả chúng tôi đều tỏ quyết tâm qua lời đáp... Rõ! Anh Năm tiểu đoàn trưởng đứng dậy vỗ vai, bắt tay từng người và căn dặn thêm: Các cậu nhớ phát huy truyền thống mở đường của tiểu đoàn ta trong chiến dịch Hòa Bình nhé!

Đêm ấy, trận gió đông bắc đầu mùa đã len lỏi dẫn chúng tôi đi xuyên rừng, vượt suối, qua các khúc đường kéo pháo bằng ô tô do bộ đội ta vừa mới mở. Địa điểm chúng tôi đến là dãy núi phía đông Mường Thanh, ở đó các anh trong ban chỉ huy Trung đoàn pháo 45 đang ngóng đợi. Tiểu đội chúng tôi được đón tiếp như một đoàn khách quý. Cuộc liên hoan nhỏ được bầy ra bằng những chiến lợi phẩm vừa mới thu được từ Lai Châu về, anh Thắng, Chính ủy Trung đoàn pháo 45 nói: Tiểu đội công binh được Bộ chỉ huy mặt trận cử về phối thuộc với trung đoàn pháo chúng ta đã tới, tôi xin mời anh em cùng chúng tôi liên hoan (ăn Tết trước) để bắt tay vào nhiệm vụ mới! Chúng ta vừa liên hoan vừa nghe nhiệm vụ nhé! Anh nói: Trận địa mới của chúng ta phải bảo đảm tuyệt đối bí mật cho tới ngày, giờ nổ súng; từ việc chuyển quân, mở đường đào hầm pháo, lập trận địa nghi binh, đều phải tuyệt đối tuân theo các quy định bảo mật của mặt trận đề ra. Do vậy, trên trận địa mới này, Bộ chỉ huy mặt trận không sử dụng đến lực lượng dân công, mọi công việc đều do bộ đội đảm nhiệm hết. Tiểu đội công binh được trên cử xuống phối thuộc với trung đoàn sẽ đảm nhận nhiệm vụ xây dựng trận địa nghi binh (trận địa giả) và sau cuộc liên hoan này, cán bộ tham mưu tác chiến của trung đoàn sẽ giao nhiệm vụ và dẫn tới trận địa nghi binh làm nhiệm vụ ngay. Vì thời gian gấp nên trung đoàn yêu cầu sau 3 ngày trận địa nghi binh phải thiết lập xong!

... Trận địa nghi binh của chúng tôi là một quả đồi Sống Trâu, cao hơn trận địa pháo phía sau một chút. Từ trận địa này chúng tôi nhìn thấy cứ điểm Mường Thanh rõ mồn một! Cầu Mường Thanh, trận địa pháo của địch, ô tô chúng chạy qua lại nhìn rất rõ! Có cảm giác như ở đây mình ho to chúng có thể phát hiện được! Sau 2 ngày đêm đào liên tục, trận địa chúng tôi cơ bản đã hoàn thành: một đường hào dài 30 m, sâu 1,5 m có nắp và hàm ếch ở 3 đoạn (đoạn giữa và ở 2 đầu). Đây sẽ là nơi xử lý tình huống khi chiến đấu.

Sau khi hoàn thành xong các công việc xây dựng trận địa nghi binh, chúng tôi được triệu tập về lại sở chỉ huy Trung đoàn pháo 45 để nhận nhiệm vụ chiến đấu và hướng dẫn những điều cần thiết. Anh Hữu tham mưu tác chiến của trung đoàn nói: - Trận địa nghi binh ở phía trước làm sao phải kết hợp thật chặt chẽ với trận địa thật phía sau ngay từ quả pháo đầu tiên ra khỏi nòng! Nghĩa là tiếng nổ đầu nòng phải thật khớp với tiếng nổ bộc phá ở trận địa nghi binh (phải là một) nếu không khớp địch dễ phát hiện đây là trận địa giả - Tiếp đó nhịp nhàng cứ 6 giây một quả nổ dồn bằng thủ pháo ném tay cho tới khi có lệnh ngừng!

Để thực hiện yêu cầu trên, anh em chúng hiện yêu cầu trên. Anh em chúng tôi được hướng dẫn cách điểm hỏa bằng điện và điểm hỏa bằng tay, chỉ sau một giờ được hướng dẫn chúng tôi đã nắm được cách mắc dây, lắp kíp, điểm hỏa bằng điện và cách gói bộc phá, gắn kíp, điểm hỏa bằng tay! Sau đó mỗi chúng tôi được thực tập một lần qua kíp nổ mà không có thuốc. Được đồng chí tham mưu tác chiến trung đoàn đánh giá làm được tốt. Màn đêm dần buông xuống tiếng côn trùng rả rích khắp nơi, gió bấc thổi vào cửa hầm như hối hả, giục giã chúng tôi tiếp tục công tác chuẩn bị cho giờ nổ súng: 4 cây số dây điện thoại được chúng tôi dỡ ra kiểm tra và đấu nối lại chắc chắn từng mối một và được thử qua máy điện thoại, chuông kêu giòn giã! Lúc ấy đêm đã về khuya, vợ chồng chú chim "thủ thỉ thù thì" vẫn còn chuyện trò, to nhỏ đâu đây? Như ru chúng tôi vào giấc ngủ! Sáng hôm sau chưa rõ mặt người, các chú gà rừng trên nương đã đánh thức chúng tôi dậy... Sau khi được ăn nắm xôi nóng với thịt hộp chiến lợi phẩm do anh nuôi thổi nấu qua bếp Hoàng Cầm, ai nấy đều như được tiếp thêm sức mạnh và ngay sau đó chúng tôi được giao nhiệm vụ mắc đường dây điện thoại: từ sở chỉ huy trung đoàn tới trận địa nghi binh, theo sự hướng dẫn của trợ lý thông tin trung đoàn. Hai ngày sau thì chúng tôi triển khai xong hai đường dây (trong đó có đường dây vu hồi) cả hai đường đều được đào sâu và ghim chặt xuống đất để bảo đảm an toàn khi chiến đấu. Tiếp sau đó là dựng 3 khẩu pháo giả làm bằng thân cây chuối trước 3 căn hầm hàm ếch rồi ngụy trang kín đáo chờ lệnh! Mọi công việc xong xuôi chúng tôi lại trở về sở chỉ huy trung đoàn đợi lệnh và ngay đêm hôm đó anh Lưu trợ lý quân lực của trung đoàn mang chỉ thị tổ chức chiến đấu ở trận địa nghi binh xuống phổ biến cho chúng tôi. Anh nói: Tham gia chiến đấu ở trận địa nghi binh không cần phải nhiều người, ngược lại càng ít càng tốt bây giờ tôi xin hỏi: trong anh em chúng ta ai là người đã có gia đình (vợ và con)... Ai là người nhà con một?... Ai là người nhà con đông?... Họ và tên từng người... ngày sinh... quê quán... khi cần báo tin cho ai... ở làng quê nào... Sau khi làm xong mọi việc cần làm, anh Lưu nói: tiểu đội công binh chia thành 2 tổ, tổ 1 có anh Phong, anh Bách, anh Cơ, do anh Phong làm tổ trưởng. Tổ 2 có anh Tự, anh Giáp, anh Nhị do anh Tự làm tổ trưởng (2 cán bộ tiểu đội trực tiếp làm tổ trưởng).

Khi nhìn lại anh em trong hai tổ chiến đấu, chúng tôi đều nhận thấy một điều tất cả đều là nhà (con đông) và chưa anh nào có gia đình (vợ con), anh em chúng tôi nhìn nhau cùng thấm thía cái nghĩa, cái tình của Đảng đối với nhân dân (trước cái riêng của từng gia đình và cái chung của toàn dân tộc!).

Tổ tôi được vinh dự tham gia chiến đấu trước và được dẫn qua hầm của cơ quan tham mưu tác chiến, số còn lại được dẫn qua hầm của cơ quan tham mưu hậu cần. Tôi thấy bản đồ các trận địa pháo treo la liệt, chuông điện thoại các máy đổ liên hồi. Các trận địa tới tấp báo cáo về sở chỉ huy: họ đã sẵn sàng đợi lệnh, chúng tôi tới trước một bản đồ trận địa mà tổ tôi đảm nhận nhiệm vụ nghi binh. Anh trưởng ban tác chiến của trung đoàn nói rõ yêu cầu với tổ chúng tôi:

... Khi lên tới trận địa là lúc máy điện thoại của các anh phải áp liền tai để nghe khẩu lệnh của sở chỉ huy (không một phút giây lơi lỏng) và khi nghe thấy khẩu lệnh "Bắn" thì lập tức phải điểm hỏa bộc phá bằng điện ngay. Để tiếng nổ đầu nòng của pháo ở trận địa thật, khớp với tiếng nổ thủ pháo ở trận địa nghi binh. Làm được như vậy là chúng ta đã giành được thắng lợi ngay từ phút đầu. Ở quả pháo đầu. Và trên trận đánh đầu. Các anh hãy bình tĩnh, dũng cảm, chiến đấu thật tốt. Cả tổ đồng thanh xin hứa".

Sáng hôm sau, ngày 13 tháng 3 năm 1954, trời vừa tan hết lớp sương mù, những bầy chim ngói đã bay đi tìm thóc ở các nương. Thì tổ chúng tôi chính thức lên đường vào trận địa. Hành trang chúng tôi mang theo: bộc phá, dây dẫn, máy điểm hỏa, bật lửa, hương (nhang) dùng để điểm hỏa bằng tay, nước uống, bánh chưng và không quên một máy điện thoại của Trung Quốc. Sau bốn giờ hành quân không nghỉ chúng tôi đã tới trận địa; vội lắp máy điện thoại vào báo cáo về sở chỉ huy trung đoàn. Sở chỉ huy biểu dương chúng tôi và yêu cầu triển khai nhiệm vụ chiến đấu ngay. Việc đầu tiên là chúng tôi kiểm tra lại toàn bộ công sự, hầm, hào, tiếp là ba khẩu pháo giả 105 ly rồi ngụy trang lại chu đáo, sau đó lắp đặt bộc phá điểm hỏa bằng điện cho ba khẩu pháo rồi đến các quả bộc phá điểm hỏa bằng tay (đốt bằng hương) được xếp đặt thứ tự ngay ngắn trong các công sự hàm ếch. Lúc này trời đã xế chiều những chiếc máy bay Đacôta vận tải của địch thả những dù hàng cuối cùng trong ngày xuống Mường Thanh thì chúng tôi nhận được lệnh của sở chỉ huy trung đoàn:

... Tất cả vào vị trí chiến đấu, máy điện thoại áp liền tai đợi lệnh..." thật không còn gì linh thiêng và hồi hộp hơn khi chờ lệnh chiến đấu (nổ phát súng đầu tiên). Tôi nhắc anh em trong tổ: tranh thủ ăn bữa chiều, kẻo tối đói... Màn đêm trên đất Điện Biên đã dần buông xuống, những chiếc xe cam-nhông của địch đi chở hàng tiếp tế do máy bay chúng thả xuống ban chiều đã bật đèn pha loang loáng, dọc ngang trên cứ điểm Mường Thanh. Lúc này là 17 giờ 5 phút ngày 12 tháng 3 năm 1954 bỗng tiếng... u... u trong tổ hợp điện thoại ngưng lại. Thay vào đó là mệnh lệnh chiến đấu từ sở chỉ huy vang lên, hạ lệnh cho quyền tư lệnh pháo binh Đào Văn Trường "cho nổ súng"! Ngay sau đó, khẩu lệnh từ sở chỉ huy pháo binh hô vang (tôi cũng theo đó hô vang):

... Mục tiêu... cự ly... tầm... hướng... đạn phá...

Đạn xuyên loạt đầu "Bắn"! Khẩu lệnh bắn vừa dứt thì đồng thời trận địa chúng tôi rung lên ánh chớp sáng loà do ba quả bộc phá của chúng tôi vừa điểm hỏa bằng điện! Và ngay sau đó là những thủ pháo điểm hỏa bằng tay tung ra phía trước rất ăn khớp nhịp nhàng đúng như kế hoạch đã định. Tôi tranh thủ nhoài người lên miệng công sự quan sát về phía cứ điểm Mường Thanh thấy đang chìm ngập trong khói lửa và ánh chớp. Từ ống nghe của điện thoại chúng tôi được sở chỉ huy trung đoàn biểu dương: đã phối hợp tuyệt vời ngay từ quả pháo đầu trong loạt đạn đầu đã góp phần làm cho các trận địa pháo của địch thiệt hại nặng, không kịp phản ứng (tôi đọc lời biểu dương đó cho cả tổ nghe).

Sau những phút hoảng loạn, định thần lại, pháo binh của địch mới bắt đầu phản pháo lên trận địa chúng tôi một cách yếu ớt. Vì lợi thế nằm trên lưng trâu nên trận địa của chúng tôi khi bị pháo địch phản lại, đạn rơi xuống bụng và chân trâu hết. Cũng có đôi có đôi quả rơi vào chỗ chúng tôi gây những tiếng nổ chát chúa ù tai và sạt lở ít hầm hào, không ai làm sao cả.

Sáng ngày hôm sau sương mù còn đang bao phủ khắp núi rừng Điện Biên, từ sở chỉ huy trung đoàn gọi tới trận địa, động viên và giao nhiệm vụ: "Giở hết ngụy trang trên trận địa, sẵn sàng thu hút máy bay địch" chỉ sau 20 phút trận địa chúng tôi đã phơi bày ra (nửa kín nửa hở) đúng như ý đồ chỉ đạo lúc này sương mù còn dày, các chú gà rừng vỗ cánh bay qua trận địa đi kiếm ăn. Tôi tranh thủ đi kiểm tra hầm hào của anh em và động viên nhau "Quyết chí giữ vững trận địa" cũng nhắc nhau tranh thủ ăn để lấy sức, lúc này ai cũng thấy đói muốn ăn. Song không ai ăn được vì mồm miệng đắng quá bởi khói bộc phá và khói đạn pháo đêm qua.

Mặt trời phía đông đã có những tia nắng xuyên qua lớp sương mù xuống những cánh rừng lúp xúp phía xa. Trên bầu trời xuất hiện những chấm đen đang lao về phía trận địa của chúng tôi. Ngay lúc đó lệnh của sở chỉ huy "Tất cả xuống công sự bám sát hoạt động của địch".

Tốp đầu hiện rõ 3 chiếc khu trục (hen cát) bổ nhào cắt bom cũng là lúc các trận địa phòng không được lệnh nổ súng. Pháo 12,7 ly, 14,5 ly và 37 ly lửa đạn bao vây tốp máy bay địch, một chiếc bốc cháy lao về hướng tây bắc cánh đồng Mường Thanh. Tốp thứ 2, 3 chiếc Bêvanhxít (B26) bổ nhào cắt bom, chúng tôi chưa kịp nhận ra việc gì, sau đó thì trận địa rung lên hất chúng tôi về mỗi phía nằm yên bất động. Trận địa bị trúng bom hoàn toàn, đường dây thông tin bị đứt. Khi tỉnh lại cả 3 chúng tôi đều nằm ở quân y viện Cửu Long (đó là bệnh viện tiền phương của chiến dịch) được các cô y tá kể lại (giọng nói qua nước mắt) các anh vào đây được hai ngày rồi. Bọn em cứ tưởng các anh không qua được. Mắt anh nào cũng lồi ra. Mồm, mũi anh nào cũng đầy máu. Thoi thóp thở. Một chị đứng tuổi vừa cười vừa nói: "Thật là phúc cho các em được tổ tiên phù hộ. Không thì...". Cả tổ chúng tôi chỉ còn biết tươi cười cảm ơn sự chăm nom, săn sóc của các anh, các chị: Hộ lý, y tá, bác sĩ cùng "tổ tiên" đã cứu lấy chúng tôi. Cả nhóm phá lên cười vui vẻ, ngay sau đó anh Lưu trợ lý quân lực của trung đoàn tới đón và dẫn chúng tôi về sở chỉ huy trung đoàn. Người đầu tiên ra đón chúng tôi là anh Thắng chính ủy trung đoàn mắt anh đỏ hoe hai tay dang rộng ôm lấy từng người chúng tôi, anh nói: "Hoan hô các thiên thần của chúng ta đã từ cõi chết trở về". Anh em chúng tôi rung động thật sự. Nước mắt cứ trào ra. Trước thái độ, cử chỉ của người chính ủy thay mặt Đảng nói lên những lời như vậy. Tưởng như không có phần thưởng nào cao quý hơn. Khi đưa chúng tôi vào bệnh viện thì tổ anh Tự đã vào thay thế nhiệm vụ của tổ chúng tôi chiến đấu tiếp...

Hôm nay viết lại những chuyện này không biết các bạn chiến đấu của tôi (tuổi đã ngoài 70) ai còn ai mất ở những vùng quê nào? Nếu đọc những chuyện này xin các anh hãy biên thư cho tôi, mong được hàn huyên cùng các anh.

Tháng 5-2004

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”) 

Thông tin của Binh đoàn 559 và sự phát triển của Trung đoàn 596

Đại tá Trịnh Đình Chung - nguyên Tham mưu phó Bộ tư lệnh 559, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 596

Bộ Quốc phòng chuẩn bị lực lượng đánh địch ở Đường 9 Nam Lào, nên tổ chức ra Bộ tư lệnh 968. Tôi được Bộ Quốc phòng điều động từ mặt trận Nam Quân khu 4 (B5) về làm Chủ nhiệm thông tin Bộ tư lệnh 968, kiêm Bí thư Đảng ủy Phòng tham mưu 968. Sau khi đã tiến hành chuẩn bị bước đầu cho mặt trận Đường 9 - Nam Lào, Bộ tư lệnh 559 tổ chức tổng kết công tác năm 1969 và triển khai kế hoạch năm 1970, tôi được triệu tập về họp. Từ đây, Bộ tư lệnh 986 nhập vào Bộ tư lệnh 559 tôi được điều qua làm Chính ủy bộ đội thông tin của Bộ tư lệnh 559 cùng các đồng chí ở đây chỉ đạo xây dựng lực lượng thông tin Binh đoàn 559.

Binh đoàn 559 từ một lực lượng vận tải gùi thồ phát triển lên thành binh đoàn hậu cần chiến lược của quân đội. Lực lượng thông tin của binh đoàn gồm có: thông tin hữu tuyến điện, vô tuyến điện, vô tuyến tiếp sức, thông tin vận động phù hợp tính chất hoạt động vận tải của binh đoàn trên toàn tuyến từ Bắc đến Nam. Bảo đảm thông suốt từ Bộ tư lệnh 559 đến các sư đoàn, binh trạm, kho tàng và các hệ thống giao liên. Hàng ngày lượng thông tin tập trung về cơ quan Bộ tư lệnh 559, giao ban vào sáng hôm sau.

Hệ thống thông tin hữu tuyến điện được triển khai cho 3 cấp: hệ thống đường dây thông tin của Bộ tư lệnh đi tỏa ra từ Bắc đến Nam - hệ thống thông tin các sư đoàn trong phạm vi của sư đoàn hoạt động và hệ thống thông tin của binh trạm thì từ trạm đầu đến trạm cuối, kho tàng, bãi xe, các khu trọng điểm đánh phá của địch trên đường đều được triển khai.

Vô tuyến điện cũng được triển khai 3 cấp và cả cho đơn vị trọng điểm công tác.

Còn vô tuyến tiếp sức thì chỉ có Bộ tư lệnh 559 mới có để tổ chức hệ thông tin đường trục của Bộ tư lệnh xuống các sư đoàn.

Thông tin vận động làm nhiệm vụ phục vụ cho nội bộ, vừa phục vụ chung quân đội với chiến trường.

Ngoài việc thông tin bảo đảm giao thông vận tải còn bảo đảm cho Sư đoàn 968, bộ đội cao xạ, bộ đội công binh, trong hoạt động chiến đấu và công tác.

Yêu cầu nguồn cán bộ chỉ huy thông tin phải am hiểu nhiều loại khí tài, nhiều chiến, kỹ thuật để triển khai phương pháp bảo vệ, bảo mật an toàn trước kẻ địch. Ta giữ vững thông tin thông suốt, bảo vệ lực lượng mình là một thắng lợi rất lớn như sự chỉ đạo sâu sát Tiểu đoàn 133 trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào.

Về tổ chức lực lượng thông tin Binh đoàn 559 năm 1972 có bốn tiểu đoàn. Sau đó, đã có 2 trung đoàn thông tin cho 2 cánh hoạt động của chuyến vận tải. Trong đó trung đoàn phía đông trở thành đơn vị thông tin xuất sắc và trung đoàn sau này trở thành một đơn vị sản xuất của lực lượng đi làm kinh tế.

Đội quân hữu tuyến điện thì phát triển như vậy còn các loại khác do nhu cầu thông tin thì phát triển chậm hơn. Tháng 6 năm 1975 Trung đoàn thông tin 596 được chuyển về Bộ tư lệnh Thông tin và trở thành trung đoàn thông tin viễn thông vào cuối năm 1975. Tôi cùng với đồng chí Phạm Duy Tín tiếp nhận và xây dựng đến năm 1977 thì toàn bộ lực lượng thông tin phía Nam của Bộ tư lệnh thành một trung đoàn với quân số rất lớn gồm bộ đội và lực lượng kỹ thuật của quân đội ngụy để lại với hơn 2.000 người.

Hệ thống viễn thông liên kết nhanh chóng khôi phục phục vụ quân đội trong những năm đầu mới giải phóng và phục vụ mặt trận Tây Nam 1979.

Trong mấy chục năm phục vụ quân đội, Binh chủng Thông tin, điều tôi thấy thấm thía nhất là không ngừng bồi dưỡng tổ chức huấn luyện kỹ, chiến thuật và những khí tài mới làm cho cán bộ, chiến sĩ nắm bắt kịp với sự phát triển khá nhanh của khoa học kỹ thuật quân sự hiện đại.

Trên phương châm rèn luyện con người có đức, có trình độ, Lữ đoàn thông tin 596 tổ chức gọn nhẹ vươn lên thành đơn vị xuất sắc nhiều năm liền của Binh chủng Thông tin liên lạc.

Ngày 3-3-2005

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”) 

10 chiến sĩ nữ hy sinh anh dũng (A69)

Đỗ Minh Đính

Tuyến đường dây trần quân sự từ Hà Nội chạy dài vào Nam, qua các tỉnh Hà Tây, Hòa Bình, khi đến Thanh Hóa, một nhánh rẽ sang Bá Thước đi Na Mèo, qua Sầm Nưa, phục vụ thông tin cho Trung ương bạn Lào. Khi đến Nghệ An một nhánh rẽ sang đường 7 qua tỉnh Xiêng Khoảng, Cánh Đồng Chum bằng hệ thống cáp phục vụ cho mặt trận phía Tây, nối tiếp vào Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và vươn tới Buôn Ma Thuột. Đường dây được men theo dãy Trường Sơn hùng vĩ, phần lớn xuyên qua rừng núi hiểm trở. Do Trung đoàn 132 cùng các đơn vị xây dựng, 3 trung đoàn 134, 136, 596 quản lý khai thác với chiều dài hơn 1.000 km đường cột và gần 10.000 km đường dây, cùng nhiều kilômét dây bọc và cáp, gần 40 trạm cơ vụ, sử dụng các máy TCT1-2, VBO3, VBO12 (tải ba 1, 2, 3, 12 đường), tăng âm tải ba FBO12 và nhiều tổng đài của Trung Quốc và Liên Xô chế tạo. Với dung lượng thông tin khá lớn đã đáp ứng đắc lực, kịp thời cho lãnh đạo, chỉ huy của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh qua các giai đoạn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Trong những năm chiến tranh gay go ác liệt, nhờ phát huy tốt hiệu suất chất lượng của tuyến đường dây này, bộ đội thông tin đã phục vụ cho sự lãnh đạo, chỉ huy của Bộ, đối với Quân khu 4, đối với mặt trận phía Tây và các đơn vị phía trong giành thắng lợi trong chiến dịch giải phóng Quảng Trị, Thừa Thiên Huế năm 1972, đánh thắng địch ở Đường 9 - Nam Lào, ở Cánh Đồng Chum, ở Cồn Tiên, Dốc Miếu, ở Khe Sanh, Làng Vây, Cửa Việt... Thông tin cũng đã đảm bảo cho công tác chỉ huy điều hành của Bộ tư lệnh Đoàn 559 vận chuyển hàng triệu tấn hàng hóa, vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men, từ miền Bắc chi viện kịp thời cho miền Nam, đưa đón hàng triệu bộ đội vào chiến trường đánh Mỹ và khi thời cơ đến đã phục vụ cho Bộ chỉ huy tối cao phát lệnh nổ súng giải phóng Buôn Ma Thuột, mở màn cho tổng tiến công nổi dậy 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Do tính chất đặc biệt quan trọng của tuyến thông tin Bắc - Nam, không quân Mỹ đã đánh phá ngày đêm rất ác liệt, không giờ nào, không ngày nào, mà không có bom rơi đạn nổ, kể cả hạm đội của địch ngoài biển bắn vào, có khi cùng một lúc chúng ném bom dồn dập nhiều đoạn tuyến với nhiều loại bom, bom phá, bom phát quang, bom từ trường, bom bi, bom na-pan, cày xới đi lại nhiều lần, làm hàng hàng trăm cột bê tông đổ gẫy, hàng ngàn kilômét đôi dây bị đứt tung, nhiều trạm cơ vụ bị trúng bom. Với tinh thần thà hy sinh chớ quyết không để liên lạc bị gián đoạn, địch đánh phá, ta lại khôi phục nối thông, cứ lặp đi lặp lại hết ngày này qua ngày khác, kéo dài suốt cuộc chiến tranh, nhưng bộ đội đường dây vẫn bám trụ, dũng cảm, kiên cường, giữ cho mạch máu thông suốt, tất cả cho thông tin. Hàng trăm cán bộ, chiến sĩ phải trả giá bằng máu đã anh dũng hy sinh. Bằng sự cống hiến to lớn và những thành tích xuất sắc, trên tuyến thông tin chiến lược này, đã có 2 trung đoàn (e134, e132), 2 Tiểu đoàn 286 (của e132) Tiểu đoàn 133 (của e596), 5 đại đội (c2, c5, c7, c15 của e134) c1 của e596 được Đảng, Nhà nước tuyên dương Đơn vị Anh hùng. 3 đồng chí được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân là Hoàng Văn Cón, Trần Huy Hoàn, (e134) và Hồ Đức Tư (e596).

Trạm cơ vụ A69 của Trung đoàn 134 là một điểm sáng trên tuyến dây trần này, nằm ở đoạn giữa trục giao thông chiến lược Bắc Nam, bên trong ngã ba Đồng Lộc ở thôn Khe Hà, xã Thanh Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Muốn vào trạm phải vượt qua một đoạn dốc, gọi là dốc Bà Tôn trống trải, bên trong là vách núi đá và rừng, tuy trạm được bố trí ở nơi kín đáo, nhưng do đoạn đường cụt nên máy bay trinh sát của địch phát hiện. Đúng 13 giờ ngày 2 tháng 7 năm 1972, máy bay Mỹ ập tới, đầu tiên chúng bắn đạn khói chỉ điểm, sau đó một tốp khác đến ném bom dồn dập, kết hợp bom phá, bom phát quang, bom na-pan, toàn bộ khu nhà của trạm bốc cháy dữ dội, trạm máy đặt trên hang cũng bị chấn động mạnh và hư hỏng, mạng cáp nhập đài và 1.500 m dây bị đứt, 13/33 cán bộ chiến sĩ hy sinh, trong đó có 10 chiến sĩ nữ đã nằm xuống trên mảnh đất này.

1. Hoàng Thị Liên: Sinh năm 1956; nhập ngũ: tháng 12-1971; cấp bậc: Binh nhì; chức vụ: chiến sĩ; quê quán: Trần Phú, Phú Thọ, Vĩnh Phú, an táng tại nghĩa trang liệt sĩ Đồng Lê, Tuyên Hóa, Quảng Bình, hy sinh lúc mới 16 tuổi.

2. Cao Thị Xuyến: Sinh năm 1953; nhập ngũ: tháng 5-1971; cấp bậc: Binh nhất; chức vụ: chiến sĩ; quê quán: Hoàng Kim, Hoàng Hóa, Thanh Hóa, gia đình đã đưa hài cốt về quê nhà, hy sinh năm mới 19 tuổi.

3. Nguyễn Thị Anh: Sinh năm 1955; nhập ngũ: tháng 12-1971; cấp bậc: Binh nhì; chức vụ: chiến sĩ; quê quán: Thanh Cù, Thanh Ba, Vĩnh Phú, gia đình đã đưa hài cốt về quê nhà, hy sinh năm 17 tuổi.

4. Vũ Thị Lan: Sinh năm 1950; nhập ngũ: tháng 6-1968; cấp bậc: Trung sĩ; chức vụ; chiến sĩ; quê quán: Vũ Tây, Vũ Thư, Thái Bình, an táng tại nghĩa trang liệt sĩ Đồng Lê, Tuyên Hóa, Quảng Bình, hy sinh năm 22 tuổi.

5. Bùi Thị Lung: Sinh năm 1954; nhập ngũ: tháng 5-1971; cấp bậc: Binh nhất; chức vụ: chiến sĩ; quê quán: Kim Sơn, Kim Bôi, Hòa Bình, an táng tại nghĩa trang liệt sĩ Đồng Lê, Tuyên Hóa, Quảng Bình, hy sinh năm 18 tuổi.

6. Chu Thị Mạnh: Sinh năm 1956; nhập ngũ: tháng 12-1971; cấp bậc: Binh nhì; chức vụ: chiến sĩ; quê quán: Văn Lung, Phú Thọ, Vĩnh Phú, gia đình đã đưa hài cốt về quê nhà, hy sinh năm 16 tuổi.

7. Ngô Thị Luân: Sinh năm 1955; nhập ngũ tháng 12-1971; cấp bậc: Binh nhì; chức vụ: chiến sĩ; quê quán: Tân Long, Tân Lập, Vĩnh Phú, an táng tại nghĩa trang liệt sĩ Đồng Lê, Tuyên Hóa, Quảng Bình, hy sinh năm 17 tuổi.

8. Lê Thị Chăm: Sinh năm: 1955; nhập ngũ: tháng 12-1971; cấp bậc: Binh nhì; chức vụ: chiến sĩ; quê quán: Vân Đồn, Đoan Hùng, Vĩnh Phú, an táng tại nghĩa trang liệt sĩ Đồng Lê, Tuyên Hóa, Quảng Bình, hy sinh năm 17 tuổi.

9. Trần Thị Loan: Sinh năm 1954; nhập ngũ: tháng 12-1971; cấp bậc: Binh nhì; chức vụ: chiến sĩ; quê quán: Phú Lộc, Nho Quan, Ninh Bình, gia đình đã đem hài cốt về nhà, hy sinh năm 18 tuổi.

10. Nguyễn Thị Thảo: Sinh năm 1953; nhập ngũ: tháng 12-1971; cấp bậc: Binh nhì; chức vụ: Chiến sĩ; quê quán: Thanh Lạc, Nho Quan, Ninh Bình, an táng tại nghĩa trang liệt sĩ Đồng Lê, Tuyên Hóa, Quảng Bình, hy sinh năm 19 tuổi.

Trong trận ném bom hôm đó còn có 3 cán bộ, chiến sĩ nam hy sinh.

1. Đoàn Văn Trình: Sinh năm 1944; nhập ngũ: tháng 5-1965; cấp bậc: Thượng sĩ; chức vụ: trạm trưởng; quê quán: Đông Thành, Kim Đông, Hưng Yên, hy sinh năm 28 tuổi.

2. Trần Văn Xây: Sinh năm 1946; nhập ngũ: tháng 12-1966; cấp bậc: Hạ sĩ; chức vụ: chiến sĩ; quê quán: Ngô Quyền, Thanh Ba, Phú Thọ, hy sinh năm 26 tuổi.

3. Lương Văn Chấn: Sinh năm 1946; nhập ngũ: tháng 9-1965; cấp bậc: Thượng sĩ; chức vụ: tiểu đội trưởng; quê quán: Đoài Con, Trùng Khánh, Cao Bằng, hy sinh năm 26 tuổi.

Ba chiến sĩ gái, trực máy còn sống sót sau trận bom là Nguyễn Thị Nghiêm, Phạm Thị Vang và Nguyễn Thị Thanh, đã nén đau thương cùng đồng đội khôi phục liên lạc và chỉ sau 1 giờ 25 phút đã nối thông đôi 4 với Hà Nội.

Nếu như ở ngã ba Đồng Lộc có 10 cô gái thanh niên xung phong đã hy sinh anh dũng để bảo vệ tuyến đường huyết mạch từ hậu phương lớn miền Bắc vào chiến trường miền Nam. Thì ở trạm cơ vụ A69 thuộc Trung đoàn 134, Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc cũng có 10 chiến sĩ nữ thông tin đã anh dũng hy sinh để bảo vệ mạch máu thông tin phục vụ cho Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh quân đội, lãnh đạo, chỉ huy chiến trường phía Nam.

Tấm gương sáng về tinh thần xả thân vì Tổ quốc của các đồng chí sẽ sống mãi với non sông đất nước, sống mãi với bộ đội thông tin anh hùng và thế hệ ngày nay cũng như mai sau.

* Lưu ý:

Có đồng chí nào khi đọc bài này, muốn liên lạc với ba cô gái năm xưa còn sống sót sau trận bom theo địa chỉ như sau:

- Chị Nguyễn Thị Nghiêm ở thôn Châu Rễ, xã Hợp Châu, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.

- Chị Phạm Thị Vang, số nhà 253 phố Tô Hiệu, phường Nghĩa Tân, Cầu Giấy, Hà Nội, số ĐT: 04. 8362014.

Chị Nguyễn Thị Thanh, A4 dãy A1 khu tập thể Phụ nữ Trung ương Hà Nội. ĐT nhà riêng: 04.7730157.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”) 

5.12.24

Đi phục vụ Bác Hồ

Đại tá Đỗ Minh Đính - nguyên Chính ủy Trung đoàn 134 - Phó Chủ nhiệm Chính trị Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc

Sau sự kiện ngày 5 tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ đưa không quân ném bom, bắn phá miền Bắc - Lúc đó tôi chính trị viên Đại đội 12 vô tuyến điện tiếp sức 401M, đơn vị Ba nhất xuất sắc của toàn quân. Được đồng chí chỉ huy Tiểu đoàn 4 và Ban tham mưu Trung đoàn 205 gọi lên giao nhiệm vụ: lãnh đạo, chỉ huy một phân đội với hai xe máy, cùng số chiến sĩ kỹ thuật khai thác, phải tập kết tại trạm cơ vụ A42 ở thị xã Sơn Tây chờ lệnh. Đồng chí Nguyễn Ngọc Chi, chính trị viên tiểu đoàn, dặn dò tôi là phải lựa chọn những anh em có lịch sử chính trị trong sạch, phẩm chất đạo đức tốt và chuyên môn giỏi để đi làm nhiệm vụ đặc biệt.

Nhận nhiệm vụ về, tôi có hội ý với đồng chí Hồ Đức Ngạn (đại đội trưởng), đồng chí Nguyễn Văn Do (chính trị viên phó) để thống nhất nhân sự và nhanh chóng làm công tác chuẩn bị.

Từ đồi Sim, chợ Bến tỉnh Hòa Bình, chúng tôi đã hành quân và có mặt tại địa điểm đúng thời gian và ngủ ở lại đấy một đêm. Sáng hôm sau, một cán bộ trên Bộ Tổng tham mưu xuống, dẫn đơn vị vòng qua núi đến nơi đặt trạm. Đây là địa điểm xa dân cư nhưng rất đẹp, phải nói là "sơn thủy hữu tình". Trên bờ là đồi núi nhấp nhô, tạo thành gợn sóng với rừng thông bao phủ cả hàng ngàn héc-ta, trải dài thành tấm thảm xanh thẳm. Phía dưới là dòng sông Đà rộng lớn, mùa khô nước trong xanh lững lờ chảy về xuôi, mùa mưa nước đỏ ngầu từ trên nguồn ào ào đổ xuống. Đến đây, chúng tôi mới chính thức được giao nhiệm vụ triển khai trạm máy dựng ăng ten, kéo dây và mắc điện thoại đến một tòa nhà trên một ngọn đồi thông, cách chỗ đặt xe máy độ non 1 km, phải mở máy 24/24 giờ để phục vụ lãnh đạo, còn lãnh đạo là ai thì không được phổ biến. Tôi còn nhớ đồng chí cấp trên giao nhiệm vụ, có dặn dò anh em: “Các đồng chí phải nhận rõ đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, phải quyết tâm bảo đảm liên lạc đạt tỷ lệ 100% và chất lượng tốt nhất. Điều thứ hai là tinh thần, thái độ phải tận tình, phục vụ vô điều kiện, tuyệt đối không để xảy ra một sai phạm gì, dù chỉ là nhỏ nhất, nhớ là mình làm việc gì, biết việc đó không nói lại cho ai kể cả địa điểm”. Cùng với thông tin còn có một đại đội công binh suốt ngày đêm thay nhau xây dựng các công trình ngầm dưới lòng đất.

Trong thời gian làm nhiệm vụ ở đây, thỉnh thoảng anh em được cán bộ trong đó mang quà ra cho, khi thì bánh kẹo, thuốc lá, khi thì thực phẩm tươi sống hay đồ hộp. Dần dần tôi cũng hiểu ra, đây là nơi làm việc của Bác Hồ ở chỗ sơ tán và những phần quà chúng tôi đã nhận không ai khác chính là của Bác cho. Vậy là trong những thời điểm chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đánh phá miền Bắc ác liệt nhất, bộ đội thông tin của chúng ta đã đưa được tiếng nói của Bác Hồ đến mọi nơi để lãnh đạo cách mạng. Đó là niềm vinh dự, tự hào và là phần thưởng quý nhất. Tôi coi đây cũng là kỷ niệm sâu sắc nhất của đời mình được phục vụ Bác Hồ.

Năm tháng qua đi sau 40 năm, khi tôi viết bài này thì nơi đây đã trở thành một địa danh lịch sử của cả nước, sẽ được mở cửa để nhân dân đến tham quan, K9, nơi Bác đã làm việc trong những thời điểm chiến tranh ác liệt nhất. Đây còn là địa điểm để thực hiện các biện pháp kỹ thuật nhằm giữ thi hài Bác cho đến ngày nay.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”) 

Người ơi! Người ở đừng về

Trần Xuân Lăng

Tôi khoan khoái bước ra khỏi phòng máy, lúc này là 10 giờ 5 phút ngày 10 tháng 12 năm 1986. Sau lưng tôi, tiếng reo mừng của anh em trong đài vẫn vọng ra tạo cho tôi một cảm giác thật thoải mái, dễ chịu. Niềm vui của chúng tôi chợt ào đến vào một khoảnh khắc mà chúng tôi phải chờ đợi bao ngày: Đó là lúc trên màn hình của chiếc ti vi nhỏ bé đặt giữa đài hiện ra hình ảnh của cô ca sĩ Hồng Vân với bài ca quen thuộc - Người ơi! Người ở đừng về. Vẫn con người ấy, giọng ca ấy mà hôm nay chúng tôi nghe với một tâm trạng thổn thức đến kỳ lạ, cái tâm trạng của con người khi vừa hoàn thành một khối lượng công việc mà cách đây hai năm khi bàn đến nó, chúng tôi còn ngỡ ngàng chưa biết nên bắt đầu từ đâu?

Sáng nay, bầu trời bầu trời thành phố Vinh có gió mùa đông bắc, cơn mưa phùn bất chợt mang những giọt nước mưa nhỏ li ti vãi khắp thành phố tạo ra những đám mây bụi mờ che khuất ngọn núi Quyết xa xa. Giữa cái không gian ướt lạnh ấy, câu ca Người ơi! Người ở... vọng ra như một lời tâm tình, nhắn nhủ như một sự níu kéo yêu thương, tạo cho tôi một cảm giác thật nhẹ nhàng lâng lâng khó tả.

Bắt đầu từ sự ưu tư lo lắng đầy trách nhiệm của các đồng chí lãnh đạo thông tin viễn thông có kênh dẫn truyền hình từ thành phố Hà Nội vào Vinh để phục vụ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI. Lúc đó, ai đã đo được khối lượng công việc phải làm? Ai đã mường tượng ra được các giải pháp kỹ thuật cần giải quyết để định liệu? Nhưng thật lạ, ai cũng có niềm tin vào sự thành công của việc lắp đặt hệ thống.

Tôi nghĩ gì về niềm tin này nhỉ?

Tôi nhớ đến cái bắt tay thật chặt của đồng chí Lữ đoàn phó Chính trị Phạm Đình Phong khi tiễn chúng tôi lên đường đi thông tuyến, cái bắt tay gửi gắm một niềm tin.

Tôi nhớ đến trung tá Hà Thị Tố Nga và các anh chị trong ban kỹ thuật của lữ đoàn như: Đại úy Võ Đình Cước, thượng uý Đặng Trung Nghĩa, thượng úy Nguyễn Văn Hiến.., họ đã làm việc quên mình qua bao ngày đêm cùng với các kỹ sư chuyên viên và công nhân viên để xử lý các vướng mắc kỹ thuật của việc kéo tuyến. Tôi nghĩ: - Với họ! Được nhận một trọng trách là được nhận cả một niềm tin!

Các anh: Đặng Anh Võ, Lê Bửu Trân, Tạ Anh Đăng, Nguyễn Văn Liên, Huỳnh Chơn, Nguyễn Bá Trạch... Những kỹ sư chuyên viên và công nhân kỹ thuật hàng đầu của lữ đoàn, trên tuyến giờ này các anh đang ở đâu? Hơn mười năm gắn bó với lữ đoàn; vui buồn sướng khổ đều có nhau, các anh tin ở chúng tôi, chúng tôi cũng luôn tin tưởng ở các anh! Phải chăng đó là cơ sở để các anh ở lại gắn bó với chúng tôi cùng tham gia lắp đặt tuyến viễn thông.

Đâu phải chỉ có chúng tôi tin: từ một đất nước xa xôi cách nhau đến nửa vòng trái đất, các chuyên gia Cu Ba như: Nữ "Chính ủy" Đê si. "Từ Hải" Cas-mi-ro và "Kim Trọng" He-ra-dô đã đến cùng chúng tôi với bàn tay hay giơ lên hai ngón (V = Vic-to-ry = chiến thắng) họ nói: - Đó là niềm tin tuyệt đối vào công việc!

Niềm tin! Cái khái niệm ý thức đó đã đâm hoa kết trái tạo nên một thành quả hiện thực, đó là: Hệ thống viễn thông Hà Nội - Vinh.

Tôi nhớ nhiều đến gương mặt của anh em trong Tiểu đoàn 2 kỹ thuật, tôi nhớ tiểu đoàn phó Lê Quốc Anh, người đã đặt những mối hàn đầu tiên khi lắp đặt các thiết bị trên tuyến. Anh đang cùng một bộ phận của tiểu đoàn chốt lại tại Hà Nội, tôi thầm nghĩ: - Lúc này họ đã mở cham-pa-ge chưa nhỉ? (Chả là khi đi thông tuyến tôi có đưa cho Quốc Anh một chai cham-pa-ge với điều kiện chỉ được mở khi tuyến đã thông).

Tôi nghĩ đến thượng úy Phạm Khánh Trường, sáu tháng qua anh đã xa chúng tôi, vừa bước chân xuống sân bay Nội Bài, anh đã vào chốt ngay tại khoa trường. Thôi vậy, đành hẹn ngày tái ngộ.

Xin cám ơn Tiểu đoàn 2 thân yêu, cám ơn tất cả những gì mà các bạn đã làm cho hệ thống, trên đường tuyến viễn thông xuyên suốt qua tám đài mới lắp từ Hà Nội vào Vinh, lúc này cũng như tôi, họ cũng đang được sống trong âm thanh của bài ca Người ơi! Người ở... Ai khéo duyên mà mở đúng bài ca này vào phút giây thông tuyến, mối tình của đôi trai gái quan họ sao mà nghe mặn nồng như tình yêu của chúng tôi với hệ thống thông tin viễn thông. Hãy tin đi, chúng tôi đang ở lại và sẽ ở lại vì mạch máu thông tin của Tổ quốc, hơn nữa! Phía trước chúng tôi còn một cung thông tin viễn thông dài đang chờ lắp đặt: Vinh - Đà Nẵng.

Một câu nói bỗng vang lên phía sau, cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi.

- Thiếu tá ơi! Còn năm ngày nữa mới tới ngày đại hội.

Sau đợt kéo tuyến, anh Đặng Anh Võ đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”) 

Tôi được làm "trung tá"

Trần Xuân Lăng

- Đồng chí quê ở Nha Trang phải không?

Trung tá Trịnh Đình Chung hỏi, cái nhìn nghiêm khắc về phía tôi.

Vâng! Báo cáo thủ trưởng.

Mình được về thăm nhà? Tôi sung sướng nghĩ thầm vì từ ngày tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh đến giờ, theo bước chân thần tốc của các đơn vị Quân giải phóng, tôi chỉ kịp đi ngang qua thành phố Nha Trang chứ chưa có dịp ghé về nhà. Tôi định khen thầm: - Thủ trưởng mình thật là tâm lý! Thì câu nói tiếp sau của thủ trưởng Chung đã cắt đứt nguồn cảm hứng của tôi.

- Đồng chí đã biết, chúng ta phải hoàn thành nhiệm vụ thông tuyến viễn thông từ Phú Bài đến Phú Lâm trước ngày mồng 2 tháng 9 năm 1975. Từ đây đến đó chỉ còn lại 10 ngày, trong khi đó, chiếc máy đo oscilloscope duy nhất của đài lại bị hỏng. Tôi cử đồng chí đi ngay xuống các đài: Phan Rang, Cam Ranh và Nha Trang tìm cho được chiếc oscilloscope khác để thay thế. Thời hạn đi đường không quá một ngày. Anh Phạm Sáu sẽ hướng dẫn để đồng chí nhận biết được mặt máy (có lẽ vì tôi là kỹ sư trạm nguồn cho nên không quen thiết bị vô tuyến vì vậy mới có tình tiết này). Đồng chí đã rõ nhiệm vụ rồi chứ?

- Báo cáo thủ trưởng rõ! Tôi trả trả lời một cách dứt khoát và định quay ra, bỗng thủ trưởng Chung gọi giật lại.

- Khoan đã!

Chậm rãi đi về phía tôi, thủ trưởng lấy tay móc trong túi áo ra một tờ giấy, đắn đo nhìn tôi một hồi và nói:

- Đây là tờ giấy giới thiệu mang tên tôi do đồng chí Trung tướng Song Hào ký, đồng chí cầm lấy mang theo mình, phải nhớ khi nào thật cần thì hãy sử dụng (vì trong giai đoạn này khi đi B chúng tôi đều nộp lại hết giấy tờ cho Bộ tư lệnh nên không ai có giấy tờ tuỳ thân nào mang theo người).

Có lẽ thủ trưởng Chung đắn đo cũng có cái lý của nó vì khi đã cầm tờ giấy giới thiệu trên tay tôi (mặc dù lúc bấy giờ tôi mới chỉ là thiếu uý) và cái máu ưa phiêu lưu, mạo hiểm của tôi lại như có mầm để trỗi dậy.

Sau khi đã làm thủ tục nhận mặt chiếc oscilloscope và bắt tay tạm biệt anh em trong đoàn, tôi cùng anh Giáo (nhân viên lái xe cũ của đài PR’LIN - Đà Lạt) cưỡi chiếc GMC nhằm hướng Phan Rang thẳng tiến. Niềm vui sắp được yên bình làm cho cảm giác lâng lâng khó tả, cái cảm giác ấy làm cho tôi chỉ nhận biết được một cách mơ hồ phong cảnh nên thơ của xứ Đà Lạt qua những vườn su su cuối thu nặng trĩu quả, những rừng thông xào xạt gió lay và hàng cây Mimosa trước cửa nhà ai vẩy ánh bạc lấp lánh trên màu lá.

Sau khi đã ghé vào các đài viễn thông Phan Rang, Cam Ranh để tìm kiếm máy đo oscilloscope mà không có, nhận thấy đã quá trưa, tôi giục anh Giáo chạy ngay về Nha Trang cho kịp. Đến ngã ba Thành, khi nhìn thấy cây Dầu đôi to cao sừng sững, tôi nói to với anh Giáo:

- Quê tôi đây rồi!

Xe đi vào thành phố Nha Trang, tôi biết nhà tôi chỉ ở đâu đây thôi? Nơi đó tôi còn có bà ngoại, còn có ngoại, còn có các dì, các cậu và chắc rằng họ cũng đang mong chờ tôi nhiều lắm?

Tôi nghĩ: - Ngày gặp mặt chỉ còn là vấn đề thời gian. Nên tôi bảo anh Giáo đánh xe ngay vào đài viễn thông Nha Trang.

Căn cứ Nha Trang lúc này do bộ đội không quân quản lý, chế độ kiểm tra rất nghiêm ngặt mà muốn đi vào đài Nha Trang thì phải qua cổng bảo vệ này. Sau khi quan sát kỹ việc kiểm tra ra vào của căn cứ, tôi biết rằng: Đã đến lúc phải dùng đến "lá bùa" của thủ trưởng Chung đưa cho chứ không còn cách nào khác.

Trong vai một trung tá (lúc này mới giải phóng, bộ đội ta không có ai mang quân hàm, phù hiệu cả) tôi thả bộ đến trạm gác, tiếp tôi là một chiến sĩ còn rất trẻ, sau khi xem xét giấy giới thiệu và nghe tôi trình bày mục đích muốn vào đài viễn thông Nha Trang, đồng chí bảo vệ nhìn tôi, lại nhìn lại tờ giấy giới thiệu như có vẻ đắn đo, cân nhắc điều gì?

- Thủ trưởng chờ một tý! - Đồng chí bảo vệ nói với tôi và đi vào bên trong.

- Thôi chết! - Lộ rồi chăng? Tôi tự hỏi mình nhưng vẫn tỏ ra bất cần, hai tay chắp sau lưng, mắt nhìn trời, tôi đi đi, lại lại dáng ra vẻ bứt rứt, nôn nóng.

Một lát, đồng chí bảo vệ khi nãy quay ra cùng với một đồng chí đứng tuổi (có lẽ là chỉ huy), sau khi nhìn tôi một lúc, tôi nghe tiếng đồng chí đứng tuổi nói với đồng chí bảo vệ:

- Thế này mà cậu bảo trẻ à? Tớ nghe nói có những ông sư trưởng Quân giải phóng mới chỉ có hai mươi lăm tuổi thôi! Ông này mà trung tá thì vẫn còn là già đấy (mặc dù lúc đó tôi chỉ mới có hai mươi bốn tuổi nhưng có lẽ do nắng gió bụi đường đã làm cho khuôn mặt tôi trông già hẳn) thôi! Để cho "cụ ấy" vào đi.

- Ơn trời! Sao ở đây lại có người "thông minh đến thế"! Tôi tự nhủ thầm và nhanh chóng khoát tay cho xe vào.

Đồng chí trực ban đài viễn thông Nha Trang sau khi xem giấy giới thiệu của tôi vội vàng mời tôi ngồi và đi ngay vào căn phòng sát bên. Một lúc, thấy có người ra, tôi vội vàng đứng dậy.

- Anh Chung đâu? - Hỏi tôi là một người độ ba mươi tuổi có khuôn mặt nghiêm nghị.

 - Tôi đây! - Tôi đáp lại một cách cứng cỏi.

- Anh là... Trịnh Đình Chung? - Tôi thoáng thấy một sự ngạc nhiên trong câu hỏi của người đang hỏi tôi.

- Vâng! - Thế còn anh? - Tôi hỏi lại.

- Tôi là Nguyễn Thế Đảo, đài trưởng đài viễn thông Nha Trang, tôi đã từng là cán bộ cấp dưới của thủ trưởng Đình Chung nên tôi biết, nói thật đi! - Anh là ai?

Thôi chết! Cái máu phiêu lưu lúc này đã hại tôi rồi! Tôi tự trách mình đã đi quá xa trong chuyện này. Tuy vậy, nghĩ mình chẳng làm việc gì sai cả nên tôi đã trình bày lại sự việc cho anh Đảo nghe và nêu rõ mục đích của tôi là phải tìm cho được chiếc máy oscilloscope. Vừa may, khi tôi trình bày xong thì anh Đặng Công Thiện (thiếu úy phụ trách nguồn của đài, bạn học với tôi) đi vào, chúng tôi bắt tay nhau mừng rỡ và anh Thiện đã xác nhận với anh Đảo về thành phần "rất hảo" của tôi.

Sau khi mọi nghi vấn đã được giải tỏa, anh Đảo nhìn tôi vừa cười vừa lắc đầu: - Chịu cậu thiệt, sao lại liều thế, lỡ không có ông Thiện thì...? Nhưng mà này! Nhiều khi phiêu lưu cũng được việc đấy, có máy đo oscilloscope ở đây rồi! Cậu đi ăn cơm, tôi sẽ cho chuẩn bị máy, xong là đi ngay.

Tôi sung sướng cám ơn anh Đảo rối rít nếu đài Nha Trang mà không có máy thì tôi không biết sẽ phải kiếm ở đâu. Ngay tối hôm đó, chiếc oscilloscope đã được đưa về đến đài PR’LIN.

Tôi không biết nói sao cho hết nỗi vui sướng của mình khi chỉ vài ngày sau, ngày 29 tháng 8 năm 1975 vào lúc 9 giờ 11 phút, toàn bộ tuyến thông tin viễn thông từ Phú Bài (Huế) đến Phú Lâm (Thành phố Hồ Chí Minh) đã được nối thông, chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ.

Thú thật, cho đến bây giờ, cái cảm giác được làm "Trung tá" vẫn cứ lâng lâng trong tôi mỗi khi tôi... chợt nghĩ đến nó.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”) 

Những cánh buồm còn sót lại

Thiếu tá Trần Xuân Lăng - nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2

Không riêng gì đối với du khách, mà ngay cả với nhiều người dân Vũng Tàu, khi được hỏi về những dàn ăng ten đồ sộ còn đang đứng trơ vơ trên đỉnh Núi Lớn, thì đa số họ đều trả lời:

- Đó là đài ra đa?

Ít ai trong số họ hiểu được rằng: - Đó chính là dàn ăng ten của một đài viễn thông quân sự nằm trong hệ thống các đài viễn thông mà Mỹ đã xây dựng tại miền Nam Việt Nam vào những năm 60 của thế kỷ trước để phục vụ cho mục đích chiến tranh của họ.

Để xây dựng nên hệ thống viễn thông này, Mỹ đã tiêu tốn vào đây: 112.142.542 USD chưa kể chi phí cho hoạt động hàng năm và lúc bấy giờ - nó là hệ thống thông tin hiện đại nhất khu vực Đông Nam Á.

Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, để phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Bộ Quốc phòng và Bộ tư lệnh Thông tin đã quyết định sửa chữa, khôi phục và đưa vào hoạt động hệ thống này. Việc sửa chữa, khôi phục hệ thống thông tin viễn thông quân sự tại Vũng Tàu đã trở thành một kỷ niệm khó quên trong cuộc đời người lính của tôi.

Ngày ấy, tôi còn nhớ: - Vào đầu tháng 8 năm 1975, tôi và một số anh em trong đoàn tiếp quản của Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc được giao nhiệm vụ xuống ngay Vũng Tàu để tiến hành sửa chữa đài viễn thông Núi Lớn chuẩn bị cho việc đưa toàn bộ hệ thống các đài viễn thông quân sự được sau giải phóng đi vào hoạt động. Với tôi, thành phố Vũng Tàu không có gì là xa lạ, bởi vì từ sau 30 tháng 4 năm 1975, tôi đã nhiều lần đi xuống thành phố này để triển khai công việc tiếp quản kỹ thuật hệ thống giúp cho các đồng chí lãnh đạo của tổng trạm ở đây.

Đài viễn thông Núi Lớn ở Vũng Tàu là một đầu mối thông tin rất quan trọng trong hệ thống thông tin viễn thông vì nó là nơi kết toàn bộ sự liên lạc qua hệ thống của tất cả các đài viễn thông của các tỉnh miền Tây Nam Bộ về đầu não chỉ huy tại Sài Gòn. Nó còn là nơi chuyển tải liên lạc ra nước ngoài thông qua đài cáp ngầm đại dương (nằm ở làng Công Chức, bãi Thuỳ Vân) để nối với Ô-ki-na-oa (Nhật Bản) và Sa-taip (Thái Lan).

Việc khôi phục lại đài viễn thông Núi Lớn là một nhiệm vụ hết sức nặng nề đối với chúng tôi, vì trong những ngày tiến công giải phóng Vũng Tàu, một quả đạn pháo hạng nặng của Quân giải phóng đã bắn trúng vào phòng máy tải ba của đài, gây hư hỏng nặng. Là những cán bộ kỹ thuật của Binh chủng Thông tin liên lạc, chúng tôi đã có thời gian công tác để đảm bảo mạch máu thông tin trong những năm chiến tranh giải phóng đất nước, nhưng đây là lần đầu tiên chúng tôi được tiếp xúc với những thiết bị công nghệ thông tin hiện đại mà từ trước đến nay ta chưa hề có. Khi tiến hành kiểm tra phòng máy tải ba của đài, nhìn những chùm dây tải ba trắng muốt bị đạn pháo bắn đứt tỏa xuống nằm lẫn lộn trong đám khung sắt, giá đỡ dây cong queo, ướt đẫm và dàn kiểm liên bị pháo phá nát, chúng tôi không khỏi lo lắng nhiệm vụ của mình.

Công việc khôi phục đài trước hết được thể hiện qua quyết tâm của tập thể cán bộ và chiến sĩ của tổng trạm Vũng Tàu, trong điều kiện thiếu thốn vật tư, thiết bị và tài liệu nghiên cứu; nhưng với tất cả ý chí và quyết tâm của người lính thông tin liên lạc, luôn chịu khó học hỏi, nghiên cứu và biết tận dụng khả năng chuyên môn của các kỹ thuật viên truyền tin chế độ cũ, chúng tôi đã dần dần khôi phục được các dàn kiểm liên, đấu nối hơn năm trăm đầu dây tải ba vào lại các vị trí của dàn máy với độ chính xác tuyệt đối, khôi phục lại phòng máy đúng như nguyên trạng của nó. Khi tất cả các bóng đèn tín hiệu của dàn kiểm liên bật sáng, báo hiệu chế độ làm việc đã sẵn sàng, tất cả chúng tôi ôm chầm lấy nhau, mừng vui, xúc động.

Ngày 22 tháng 12 năm 1975, là một ngày đáng nhớ của những người lính thông tin viễn thông. Vào ngày đó, toàn bộ tuyến thông tin từ Phú Bài (Huế) đến Phú Quốc (Kiên Giang) và Cà Mau được nối thông. Hệ thống thông tin viễn thông mà một thời đã được sử dụng để phục vụ cho mục đích chiến tranh của Mỹ, nay đã được khôi phục và đi vào hoạt động phục vụ đắc lực cho công cuộc xây dựng quân đội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hôm nay, do nhu cầu phát triển của đất nước, chúng ta đã tự trang bị được cho mình những hệ thống thông tin hiện đại hơn hệ thống viễn thông cũ rất nhiều. Có thể coi năm cuối cùng của thế kỷ thứ 20 cũng là năm chấm dứt sự hoạt động của hệ thống viễn thông quân sự mà ta thu được của Mỹ - ngụy từ sau giải phóng.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”) 

1.12.24

Sự trưởng thành của Lữ đoàn 596 qua 30 năm

Đại tá, Tiến sĩ Trần Ngọc Cứ - nguyên Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 596

Để đáp ứng nhu cầu chi viện ngày càng lớn cho chiến trường miền Nam, năm 1973, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Trung đoàn 596 trực thuộc Đoàn 559. Trung đoàn có nhiệm vụ bảo đảm thông tin phục vụ cho chỉ huy vận chuyển chiến lược trên tuyến đường Hồ Chí Minh lịch sử. Mạng thông tin do trung đoàn phụ trách gồm 1.625 km đôi dây trần, 1.580 km dây bọc, 780 km cáp dã chiến và 27 trạm cơ vụ. Trung đoàn đã xây dựng tuyến thông tin Tây Trường Sơn và phát triển tuyến Đông Trường Sơn.

Biên chế của trung đoàn gồm 4 tiểu đoàn, Tiểu đoàn 36 và Tiểu đoàn 133 ở Trung - Hạ Lào, Tiểu đoàn 26 và Tiểu đoàn 326 ở Đông Trường Sơn. Trang thiết bị gồm các máy tải ba TCT 1-2, VBO3-VBO12, tăng âm tải ba FBO12 và các tổng đài HG262 (Trung Quốc) và P128M (Liên Xô).

Chỉ huy trung đoàn gồm các đồng chí Nguyễn Thái Sơn chính ủy, Nguyễn Đình Chùy trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Đình Loan phó chính ủy, đồng chí Trần Đức trung đoàn phó. Đảng ủy Trung đoàn được trên chỉ định gồm 7 đồng chí do đồng chí Nguyễn Thái Sơn làm bí thư.

Là đơn vị thông tin hữu tuyến điện, kết hợp dây trần và cáp dã chiến, triển khai mạng thông tin trong điều kiện bị địch đánh phá rất ác liệt, việc bảo đảm an toàn cho mạng lưới rất khó khăn. Nhưng trong bất cứ hoàn cảnh nào, quyết tâm của đơn vị cũng phải hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Để thực hiện tốt quyết tâm trên, trung đoàn đã tập trung giải quyết hai khâu then chốt sau đây:

1. Về tổ chức mạng, căn cứ thực lực hiện có của đơn vị mà tổ chức cho phù hợp với khả năng, điều căn bản là phải giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nắm vững và làm chủ được các trang thiết bị, dùng phương tiện nào phải thành thạo sử dụng phương tiện đó, nhằm phát huy hết tính năng, tác dụng của máy móc và đạt hiệu suất kỹ thuật cao nhất, đáp ứng nhu cầu thông tin trong mọi tình huống.

2. Về khâu kỹ thuật, đơn vị đã giải quyết hết sức cụ thể và sáng tạo, như xây dựng đường dây đặt trạm cơ vụ, trạm chuyển tiếp đến đạt các chỉ tiêu cho phép để bảo đảm được yêu cầu thông tin kịp thời, chính xác, bí mật an toàn. Trên thực tế mỗi yêu cầu là một đề tài nghiên cứu khoa học chứng minh từng con số kỹ thuật cụ thể. Để đánh giá mức độ đạt được từng yêu cầu. Căn cứ vào sơ đồ tổ chức bảo đảm thông tin đường trục, đường nhánh, mạng thông tin nội hạt, mạng thông tin vu hồi và mạng thông tin dự bị đều đạt 4 yêu cầu nói trên.

Nhờ giải quyết có hiệu quả 2 yếu tố trên đây và qua nhiều năm bảo đảm thông tin ở chiến trường, Trung đoàn 596 đã thực hiện tốt quyết tâm, bảo đảm hiệu suất thông tin đạt từ 85 - 96%, phục vụ đắc lực cho chỉ huy Đoàn 559 tiến hành công tác vận chuyển, chi viện kịp thời cho miền Nam đánh Mỹ.

Thành tích đó nói lên sự trưởng thành vượt bậc của đơn vị và xương máu cả trăm cán bộ chiến sĩ đã anh dũng hy sinh cho tuyến đường dây thông tin quyết thắng.

Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc năm 1975, Bộ Quốc phòng quyết định chuyển giao Trung đoàn 596 về trực thuộc Bộ tư lệnh Thông tin. Đảng ủy và Tư lệnh Binh chủng giao cho đơn vị nhiệm vụ tiếp quản, khai thác hệ thống thông tin viễn thông liên kết thu được của Mỹ - ngụy, giai đoạn đầu từ khu vực miền Đông Nam Bộ và tuyến đồng bằng sông Cửu Long. Sau đó hợp nhất tuyến viễn thông Trung đoàn 138 về Trung đoàn 596 thành một đầu mối, chạy dài theo đất nước từ Phú Bài - Huế tới Cà Mau và đoạn cuối là đảo Phú Quốc.

Đây là hệ thống thông tin có thiết bị khí tài và phương thức truyền thông hiện đại nhất khu vực Đông Nam Á lúc bấy giờ do Mỹ xây dựng với tổng kinh phí 112.142.542 USD tương đương 51.071.271.000 đồng tiền Sài Gòn hồi đó.

Từ một đơn vị thông tin hữu tuyến điện dã chiến, nay phải đảm đương công việc vượt khả năng của mình. Hiểu rõ điều đó, Bộ tư lệnh Thông tin đã huy động hơn 200 cán bộ kỹ thuật, gồm đội ngũ kỹ sư và trung cấp kỹ thuật giỏi bổ sung kịp thời cho trung đoàn và hình thành bộ khung mới, Bộ điều đồng chí Trịnh Đình Chung hiệu trưởng trường kỹ thuật về làm trung đoàn trưởng, đồng chí Đỗ Minh Đính, chính ủy Trung đoàn 134 về làm chính uỷ, đồng chí Nguyễn Duy Tín trung đoàn phó phụ trách kỹ thuật khai thác, đồng chí Võ Tấn Đường phó trung đoàn trưởng phụ trách công tác hậu cần và cấp trên chỉ định đảng ủy gồm 11 đồng chí, lúc đầu đồng chí Trịnh Đình Chung làm bí thư, cuối năm 1975 đồng chí Đỗ Minh Đính thay làm bí thư.

Phải nói, nhiệm vụ rất nặng nề nhưng chúng ta có chính sách đúng đắn, biết sử dụng và phát huy tốt, hơn một trăm nhân viên chế độ cũ, họ là những người rất giỏi và am hiểu kỹ lưỡng toàn bộ hệ thống kỹ thuật các mạng lưới, nhờ vậy đã tạo thành sức mạnh tổng hợp trong quản lý khai thác.

Ngay sau tiếp quản, ngày 5 tháng 5 năm 1975, đồng chí Lê Duẩn - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đến thăm Trung tâm viễn thông Đà Nẵng và Sơn Trà. Đồng chí đã khen ngợi Binh chủng Thông tin đã góp phần làm nên chiến thắng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc và căn dặn bộ đội thông tin liên lạc tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được, hoàn thành tốt nhiệm vụ tiếp quản và khai thác có hiệu quả hệ thống thông tin viễn thông hiện đại, ta thu được của Mỹ - ngụy. Đây là tài sản quý giá của Nhà nước, của quân đội, cần quản lý nhanh chóng khôi phục, sớm đưa vào sử dụng.

Từ lời khen ngợi, dặn dò của vị lãnh tụ tối cao của Đảng, chỉ sau 2 tháng, đã khôi phục, dồn dịch, sửa chữa các thiết bị hư hỏng và khai thông tuyến thông tin liên lạc từ Đà Nẵng vào Thành phố Hồ Chí Minh và sau đó khai thông toàn tuyến từ Huế đến Cà Mau, Phú Quốc. Một kết quả đáng trân trọng và tự hào, đó là sự nỗ lực vượt bậc của cán bộ, chiến sĩ toàn đơn vị, cũng từ đây, Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc giao nhiệm vụ phải bảo đảm thông tin thông suốt đi các hướng đạt hiệu suất 95 - 98%.

Mô tả thực trạng hệ thống ICS khi tiếp quản, hệ thống gồm 32 trạm ICS và 5 trạm đầu cáp viễn dương, có 5 trạm ICS hỏng hoàn toàn, không có khả năng khôi phục như Plây Cu, Buôn Ma Thuột, Huế, Chu Lai, Cam Ranh, còn 27 trạm ICS cũng bị hư hỏng một phần, nên không đồng bộ, nhưng chỉ chưa đầy 2 tháng đơn vị đã khôi phục được 18 trạm ICS và 3 trạm cáp viễn dương, đưa vào khai thác theo chế độ 24/24 là các trạm Phú Bài, Đà Nẵng, Sơn Trà, Vũng Chùa, Quy Nhơn, Nha Trang, Cam Ranh, Phú Lâm, Tân Sơn Nhất, Vũng Tàu, Cần Thơ, Long Xuyên, Rạch Giá, An Thới, Long Bình, Biên Hòa, Cà Mau, 3 trạm cáp Đà Nẵng, Quy Nhơn, Cam Ranh, 14 trạm ICS và đưa vào bảo quản. Có 5 trạm ICS hỏng nặng là Đồng Tâm, Gia Định, Phù Cát, Cam Ranh, Bình Thủy và 2 trạm đầu cáp hỏng nhưng khôi phục được là Vũng Tàu, Nha Trang. Đồng thời khôi phục sửa chữa và đưa vào sử dụng 103/152 cụm phát điện; 124/176 máy lạnh; 31/39 máy AN/FRC 109, 41/47 REL 2600; 89/91 AN/FCC; 21/25 TF1900; 51/67 AN/FCC-25; 21/25 FCC-19.

Bảo toàn hệ thống có 185 nhóm mạch hoạt động theo chỉ đạo của Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc trong đó dùng cho đường trục 11 nhóm, dùng liên lạc giữa các khu vực 174 nhóm. Số liệu đã thiết kế đang khai thác dùng cho Bộ và các cơ quan Trung ương là 420 kênh, các quân khu 81 kênh, các quân đoàn 12 kênh, nghiệp vụ 84 kênh. Đơn vị lần đầu tiên sử dụng mạng liên lạc chỉ huy bằng hệ thống điện thoại hội nghị làm nhiệm vụ giao ban hàng ngày vào các buổi sáng đầu giờ với tất cả các đơn vị trên toàn mạng ICS. Đây cũng là đơn vị đầu tiên sử dụng hệ thống này của Binh chủng Thông tin liên lạc.

Để đạt được những thành tích trên đây, trung đoàn rất coi trọng công tác huấn luyện bộ đội. Tổ chức huấn luyện các lớp tập huấn, bồi dưỡng cho các đối tượng cán bộ và nhân viên kỹ thuật, mở các cuộc hội thảo giải quyết từng vấn đề về quản lý, điều hành, khai thác mạng lưới. Nhờ vậy, đơn vị luôn luôn đạt hiệu suất thông tin đến 98% và nhiều năm được công nhận Đơn vị Quyết thắng, Đảng bộ trong sạch vững mạnh.

Khi chiến tranh ở biên giới Tây Nam nổ ra, đơn vị đã tập trung mọi nỗ lực, dồn mọi công sức, phát động phong trào thi đua lập công, động viên cán bộ chiến sĩ bảo đảm hiệu suất chất lượng thông tin tốt nhất phục vụ cho lãnh đạo, chỉ huy chiến đấu thắng lợi. Đặc biệt trong thời điểm chiến dịch dung lượng liên lạc tăng gấp đôi, nhưng đơn vị luôn luôn phấn đấu đạt tỷ lệ 99% trở lên. Cùng với hệ thống đang khai thác, chấp hành lệnh của Tư lệnh Binh chủng đơn vị đã triển khai một trạm thông tin tiếp sức ở Núi Ông để liên lạc với hướng Tây Nam và tổ chức thêm 4 trạm thông tin AN/TRC-24 đi theo Bộ tư lệnh tiền phương tiến sang đất bạn Cam-pu-chia, phục vụ chiến dịch, sau đó ở lại làm nhiệm vụ quốc tế cho đến khi quân đội ta rút về nước.

Do sự phát triển của tình hình nhiệm vụ mới, ngày 19 tháng 4 năm 1985 Bộ Quốc phòng quyết định chuyển trung đoàn thành Lữ đoàn 596. Về tổ chức gồm có 4 phòng tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật và hai ban tài chính, cán bộ. Các đơn vị gồm 6 tiểu đoàn và 4 đại đội trực thuộc chỉ huy lữ đoàn: đồng chí Phạm Duy Tín lữ đoàn trưởng, đồng chí Phạm Đình Phong phó lữ đoàn trưởng chính trị, đồng chí Trần Ngọc Cứ phó lữ đoàn trưởng, tham mưu trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Tợi phó lữ đoàn trưởng hậu cần và hai đồng chí Nguyễn Văn Tưởng và Nguyễn Xuân Hòa giữ chức phó lữ đoàn trưởng chung. Nhiệm vụ của đơn vị trong giai đoạn này tiếp tục khai thác đã bảo đảm thông tin tuyến đường trục Bắc Nam và đầu mối ở các khu vực từ Đà Nẵng trở vào, đồng thời tổ chức lực lượng tham gia xây dựng phát triển tuyến thông tin đường trục quốc gia VC 300 Hà Nội - Đà Nẵng - Thành phố Hồ Chí Minh.

Đây là công việc rất nặng nề và khó khăn, phải đầu tư kinh phí lớn và huy động một đội ngũ cán bộ kỹ thuật đông đảo, có cố vấn của Cu Ba giúp đỡ để thực hiện chỉ thị của Bộ tư lệnh Thông tin, lữ đoàn đã thành lập hai trung tâm viễn thông, Trung tâm 1 đảm nhiệm công tác quản lý khai thác khi lữ đoàn đã lắp đặt xong các trạm thông tin tuyến Hà Nội - Vinh. Trong thời gian này lữ đoàn đã tiến hành xây dựng lắp đặt tuyến vi ba băng rộng Hà Nội - Vinh. Trạm viễn thông cầu Giẽ là trạm trung gian chuyển tiếp được lắp đặt đầu tiên, tiếp đó là trạm viễn thông rẽ mạch Nam Định.

Trải qua sự nỗ lực vượt bậc gần 8 tháng (tháng 5 đến tháng 12 năm 1986), lữ đoàn đã hoàn thành vượt mức việc xây dựng lắp đặt thông tuyến kỹ thuật tuyến Hà Nội - Vinh qua 8 trạm, có 4 trạm rẽ mạch, có các kênh thoại báo và hình ở các trạm Hà Nội, Nam Định, Thanh Hóa, Vinh. Sau khi thông tuyến Bộ tư lệnh ra lệnh đưa vào khai thác 24/24 giờ. Tuyến thông tin liên lạc Hà Nội - Vinh có khả năng truyền được 300 kênh, kênh thoại và kênh truyền hình đen trắng. Đây là công trình chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI của lữ đoàn. Những ngày này nhân dân Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An được xem truyền hình trực tiếp diễn biến đại hội.

Sau khi hoàn thành đoạn của tuyến Hà Nội - Vinh, lữ đoàn tiếp tục xây dựng và lắp đặt tuyến Vinh – Đà Nẵng. Theo sự chỉ đạo của Bộ tư lệnh, lữ đoàn đã lắp đặt VC 300, 3 trạm Đà Nẵng - Hải Vân - Huế (mạng VC 300 là mạng vi ba 300 kênh do Việt Nam và Cu Ba cải tiến). Sau khi lắp đặt xong 3 trạm, rút kinh nghiệm và lắp đặt trang thiết bị từ Vinh vào Huế gồm các trạm Vinh - Ngọc Sơn - Cẩm Xuyên - Đèo Ngang - Đồng Hới - Quảng Trị - Phong Điền. Sau khi hoàn thành, lữ đoàn đã giao cho Trung tâm 2 viễn thông quản lý khai thác 24/24 giờ. Cũng qua tám tháng phấn đấu tích cực đã thông tuyến Hà Nội - Vinh - Đà Nẵng - Thành phố Hồ Chí Minh. Vậy là tuyến thông tin đường trục quốc gia đã hình thành.

Sau khi hoàn thành công việc và khai thác ổn định, thực hiện mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, Lữ đoàn 596 đã bàn giao toàn bộ cho Tổng cục Bưu điện quản lý khai thác.

Lữ đoàn lại tiếp tục xây dựng và đổi mới các phương tiện thiết bị của hệ thống theo hướng công nghệ mới, hiện đại hơn, để không ngừng nâng cao hiệu suất và chất lượng mạng lưới phục vụ quân đội.

Trải qua trên 30 năm xây dựng và trưởng thành, Lữ đoàn 596 đã có hai đơn vị được Đảng và Nhà nước tuyên dương Đơn vị Anh hùng là Tiểu đoàn 133 và Đại đội 1, lữ đoàn được tặng thưởng hai Huân chương Quân công hạng Ba, hai Huân chương Chiến công hạng Nhất, ba Huân chương Chiến công hạng Nhì và một Huân chương Lao động hạng Nhì, đồng chí Hồ Đức Tư được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”) 

Những tháng năm không thể quên

Huỳnh Xuân Mai

Đồng chí Viện trưởng Viện Kỹ thuật quân sự Hoàng Đình Phu, là người có tầm nhìn rộng, nắm bắt tình hình về phát triển khoa học kỹ thuật của Mỹ - ngụy Sài Gòn khá nhanh nhạy. Để cung cấp đầy đủ thông tin nêu trên, đầu tháng 3 năm 1975, Tổng cục Kỹ thuật đã cử đoàn cán bộ kỹ thuật thông tin gồm 3 người Phạm Công Kỉnh, Nguyễn Ngọc Châu - kỹ sư điện tử và tôi Huỳnh Xuân Mai - phụ trách đoàn, tham gia chiến dịch Buôn Ma Thuột và chiến dịch Hồ Chí Minh với nhiệm vụ chính là: Bảo đảm kỹ thuật cho chỉ huy và chiến dịch tiền phương tiếp quản các cơ sở vật chất kỹ thuật của Mỹ - ngụy để lại; thu thập các nguồn tư liệu khoa học kỹ thuật, phục vụ công tác nghiên cứu của Bộ sau này.

Đoàn chúng tôi lên đường bằng chiếc ô tô đít vuông Ru-ma-ni. Cuộc hành trình gần 1.390 km, Hà Nội đến Buôn Ma Thuột. Hành trình của đoàn chúng tôi rất nhanh qua Quảng Bình - Quảng Trị, xe chúng tôi rẽ phải vượt Trường Sơn với đầy bụi dày đặc, xe ô tô không sao bò lên được 10 km. Đúng rồi, xe hỏng? Đồng chí Kỉnh kêu to: xe Ru-ma-ni vừa đi vừa đẩy mà! Chúng tôi nhảy xuống xe ì ạch đẩy.

Một lúc sau, xe lại lăn bánh giữa núi rừng bao la, im lặng. Mỗi cung đường, mỗi trạm giao liên với nhiều kỷ niệm khó quên. Mỗi địa danh mang tên lịch sử đầy xúc động. Nhưng cảm động nhất là tôi được gặp lại những đồng chí, đồng đội cùng học tập ở nước bạn và những người thân quê tôi, sau những năm dài xa cách tại núi rừng Tây Nguyên. Đoàn chúng tôi khẩn trương triển khai công việc được trên giao. Sáng đi kiểm tra kỹ thuật ở Kon Tum, Plây Cu, chiều chúng tôi về Buôn Ma Thuột ghi chép tổng hợp tin và số liệu... Cứ thế ngày qua ngày.

Trong những ngày ở đây, chúng tôi được phổ biến nhiều tin dồn dập rất phấn khởi. Thắng lợi của miền Đông Nam Bộ cùng với các chiến trường khác, đặc biệt là đòn đánh chiến lược phủ đầu giành chiến thắng ở Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng, ngày 25 tháng 3 năm 1975, Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng Sài Gòn, toàn miền Nam mở ra khả năng dứt điểm chiến tranh sớm hơn kế hoạch đã vạch, trước mùa mưa. Miền Nam Việt Nam là một phần máu thịt của Việt Nam. Máu chảy ruột mềm, nơi đi trước về sau! Vì lý tưởng cao đẹp và tình cảm thiêng liêng đó, đồng bào miền Bắc sục sôi khí thế, tập trung sức người, sức của chi viện cho trận quyết chiến cuối cùng, để thực hiện thắng lợi cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại nhất trong lịch sử của dân tộc Việt Nam. Những dòng tin ấy thôi thúc chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ.

 Trên các trục đường chiến lược Tây Nguyên, tôi nhìn thấy từng đoàn xe chở đầy bộ đội, xe kéo pháo... phủ kín lá ngụy trang màu xanh rừng núi Tây Nguyên, nối đuôi nhau chạy về chiến trường trọng điểm Sài Gòn - Gia Định.

Ngày 14 tháng 4 năm 1975, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch chiến dịch tấn công Sài Gòn - Gia Định và đặt tên là chiến dịch Hồ Chí Minh.

Ngày 26 tháng 4 năm 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn, đường vào Sài Gòn còn nhiều hướng, nhiều cánh quân xốc tới.

Có một sự việc, tôi còn nhớ mãi, vào ngày 27 tháng 4 năm 1975. Buổi sáng tinh mơ khí trời Buôn Ma Thuột còn se lạnh, tôi nhận được lệnh lên sở chỉ huy gấp. Tôi mừng thầm đoán chắc là có lệnh tiến vào Sài Gòn! Vừa đến sở chỉ huy tiền phương Tổng cục Kỹ thuật, đồng chí Nguyễn Văn Tiến giao ngay nhiệm vụ cho tôi:

 - Đoàn đồng chí nhanh chóng cùng cán bộ địa phương, phục hồi lại đài phát thanh tại thị xã Buôn Ma Thuột, xong nhiệm vụ mới vào Sài Gòn.

Tôi đứng dậy:

- Báo cáo đồng chí, chúng tôi hứa sẽ hoàn thành nhiệm vụ nhanh chóng nhất.

Đến khu phát sóng của đài phát thanh Buôn Ma Thuột, thì tất cả các khối thu, phát, nguồn cùng các đầu nối dây đều biến mất. Ở đây hoàn toàn bỏ trống không canh giữ, nên bà con mặc sức lấy về buôn làng cả rồi. Tôi bàn với cán bộ và nhân viên kỹ thuật thông tin cũ của đài, chia nhau đi làm công tác dân vận, nói rõ ý nghĩa công việc này rất quan trọng cho bà con nghe và nhờ giúp đỡ. Đúng thật, kết quả quá bất ngờ, chỉ sau 3 giờ đồng hồ nhân dân trả lại tất cả. Khi thấy các thiết bị đầy đủ. Chúng tôi bắt tay vào sửa chữa, lắp ráp. Từ đó, suốt ngày đêm, chúng tôi làm việc không nghỉ. Ngày hôm sau công việc hoàn thành. Chúng tôi bàn giao cho cơ quan dân chính. Một lúc sau đài phát sóng, bắt đầu bằng câu:

- Đây là đài tiếng nói Tây Nguyên, phát thanh từ Buôn Ma Thuột...

Mọi người phấn khởi ôm nhau hò reo, chúc mừng thắng lợi. Chúng tôi xúc động không cầm được nước mắt.

Sau đó, đoàn chúng tôi lập tức lên xe, tiến về hướng đường 14 Đồng Xoài. Nhưng xe chúng tôi không thể nào vượt lên được, do kẹt xe quân sự. Xe chúng tôi quay đầu lại chạy về phía sông Bé. Ở đây cũng thế, hàng trăm xe cơ giới, nối đuôi nhau nằm chờ tiến về Sài Gòn! Thế là gay go rồi, tôi thở dài thất vọng! Một sáng kiến mới xuất hiện, tôi vụt chạy bộ về phía người chỉ huy điều khiển cuộc hành quân, tôi trình bày một cách chân thành tha thiết về nhiệm vụ quan trọng mà Bộ đã giao, phải có mặt ở Sài Gòn càng sớm càng tốt. Đồng chí sĩ quan điều hành gật đầu, đồng ý cho đoàn xe chúng tôi cùng vượt sông Bé, nhờ một xe xích kéo. Chúng tôi vượt sông an toàn.

Xe chúng tôi chạy thẳng tiến về Sài Gòn, đến cổng chính bộ tổng tham mưu quân ngụy đúng 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, lúc mà bộ đội ta đã chiếm xong và cắm cờ Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam trên nóc dinh Độc Lập ngụy quyền Sài Gòn. Chiến dịch Hồ Chí Minh trận quyết chiến cuối cùng đại thắng. Thành phố Hồ Chí Minh - thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu hoàn toàn giải phóng. Lúc này, chúng tôi đứng trước dinh Độc Lập chứng kiến một khí thế sôi nổi lạ kỳ, đầy xúc động. Nhân dân Sài Gòn đổ ra khắp các nẻo đường, mang theo cờ đỏ sao vàng, cờ Mặt trận giải phóng, hò reo đón chào bộ đội giải phóng, họ vây quanh những chiếc xe tăng, cỗ pháo, nhất là các mẹ đưa đôi bàn tay mình lên sờ nắn vuốt ve, âu yếm và ngợi khen bộ đội ta sao mà trẻ trung, giỏi vậy! Nét mặt ai nấy đều hân hoan rạng rỡ lạ thường! Cả Sài Gòn, cả nước lúc ấy sống trong niềm vui vô tận!!

Những ngày đầu tháng 5 năm 1975 giải phóng Sài Gòn, nhiều vấn đề cấp bách đặt ra đối với đoàn chúng tôi, trong đó có việc tiếp quản các cơ sở vật chất kỹ thuật, thu thập thông tin tư liệu của Mỹ - ngụy để lại. Được biết ngày 4 tháng 5 năm 1975, Quân ủy Trung ương đã ra Chỉ thị số 126/QUTW về "Công tác thu hồi, quản lý, bảo quản sử dụng các cơ sở vật chất kỹ thuật lấy được của địch trong vùng giải phóng" - Một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng bảo vệ đất nước nói chung và xây dựng nền quốc phòng toàn dân nói riêng, chỉ thị này có tác động lớn đối với đoàn chúng tôi, tạo nhiều thuận lợi để chúng tôi sớm hoàn thành nhiệm vụ.

Một lực lượng cán bộ kỹ thuật đủ các ngành nghề khác nhau được tăng cường vào Sài Gòn là 82 người do tôi làm trưởng đoàn. Chúng tôi nhanh chóng chiếm lĩnh, chốt chặn, tiếp quản nhiều cơ sở vật chất kỹ thuật của chế độ cũ như: Lục quân công xưởng nơi sửa chữa vũ khí trang bị kỹ thuật và thiết bị thông tin với khu truyền tin, khu phát thanh, tổng đài tại bộ tổng tham mưu ngụy, đặc biệt chúng tôi thu hồi 3 trung tâm lớn nhất của Mỹ - ngụy với khối lượng tài sản lớn, giá trị cao. Đó là trung tâm ấn loát ấn phẩm, trung tâm điện toán tiếp vận, trung tâm điện toán an bài. Ba trung tâm trên các máy móc, trang thiết bị đều sản xuất tại Mỹ, hiện đại nhất trong vùng, có giá trị kinh tế cao. Mỗi trung tâm có 400 - 500 nhân viên kỹ thuật làm việc.

Do sức mạnh áp đảo, cuộc tấn công nổi dậy công nổi dậy mùa xuân 1975, đặc biệt là chiến dịch Hồ Chí Minh với sức tấn công thần tốc của quân ta, ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn tan rã, sụp đổ nhanh chóng, chúng tháo chạy không kịp tẩu tán, phá hoại, nên toàn bộ cơ sở vật chất ở đây hầu như còn nguyên vẹn, chỉ riêng trung tâm điện toán IBM-360-50, do địch cài 20 quả mìn xuyên, chúng tôi đã phát hiện, tháo dỡ kịp thời, đảm bảo an toàn tuyệt đối.

30 năm trôi qua, hôm nay hồi tưởng lại những sự việc ấy, lòng tôi vẫn náo nức như những ngày đầu giải phóng miền Nam. Đó là sức mạnh của dân tộc ta, của quân đội ta, và chúng tôi, những cán bộ khoa học kỹ thuật của Bộ Tổng tham mưu, đã vinh dự được đóng góp một phần nhỏ.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin”)