31.7.25

Đồng chí bộ đàm anh hùng

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Không rõ đồi ấy tên là gì. Trong chiến dịch Điện Biên, bộ đội gọi nó là đồi A1. Giặc giữ được A1 thì vững được thế thủ. Ta mà lấy được A1, thì khống chế được cả thung lũng Điện Biên. Vì thế giặc cố sống cố chết giữ A1, nhưng ta nhất định lấy A1. Tinh thần chiến đấu anh dũng của các chiến sĩ ta trên đồi A1 làm cho cái tên A1 được ghi vào lịch sử quân đội và vào lịch sử dân tộc Việt Nam.

Từ đêm hôm trước, anh Mùi, tiểu đội trưởng điện thanh, tức là bộ đàm vô tuyến điện, đã liên tục chiến đấu ở phía Nam Mường Thanh. Anh đã mệt lắm rồi.

Quân ta từ bãi bằng tiến công lên đồi A1, mở được đột phá khẩu. Một đại đội đã xung phong vào và đang đánh các lô cốt trong tung thâm. Chúng nó thấy nguy đến nơi, bao nhiêu miệng pháo của Mường Thanh và Hồng Cúm nhả cả đạn vào đột phá khẩu. Rào dây thép gai dày hơn năm mươi thước, con đường đột phá của ta mở được rộng tám thước. Tám thước bề ngang, mà nó trút bao nhiêu đạn đại bác vào. Dây điện thoại, dù đã chôn, cũng chịu làm sao được.

Các chiến sĩ điện thoại leo vào nối dây. Phải nối lấy được, thì mới nắm được tình hình bên trong, mà chỉ huy chiến đấu. Một người, rồi hai người, rồi đến người thứ sáu hy sinh. Người thứ bảy đã bước ra, nhưng Trung đoàn trưởng Hùng Sinh giữ lại. Anh em không chùn chân, nhưng không thể để anh em hy sinh như thế được.

Lệnh gọi đồng chí Mùi từ bờ Nậm Rốm về.

Trước đột phá khẩu nhìn mà rợn. Đường dốc ngược, bom đạn đào như dao khoét vào thịt, đỏ đòng đọc. Đứng trong hào thử giơ cái mũ lên, mũ bị đạn ngay. Ác liệt thật. Nhưng Mùi nghĩ rằng: chậm một phút thì một phút Ban chỉ huy không nắm được tình hình, một phút các đồng chí trong kia chờ đợi để báo cáo. Phải vào, mà phải vào đến nơi. Phải trả thù cho sáu đồng chí điện thoại.

Động viên đồng chí phụ máy, bảo phải làm đúng như mình, Mùi bắt đầu bò vào, cố dùng hết các kinh nghiệm các trận chiến đấu trước, tụt vào một hố, thoăn thoắt chuyển sang hố khác, mặc kệ cho đất đá tốc lên, chỉ ôm gọn cái máy vào lòng. Ngoài đạn đại bác còn có các đại liên bắn cản. Phải chơi hú tim với chúng nó; mỗi lúc nhân được khi nó quét khỏi chỗ mình, là vượt thật nhanh, rồi lại nằm sấp xuống, vừa lúc nó bắn vèo vèo trên cổ. Cuối cùng qua được đột phá khẩu, vào đến đường hào, thì vừa kiệt sức, ngã quay ra.

Tỉnh dậy, hai anh em lần đến chỗ đại đội đang đánh.

Tin điện thanh đã đến, làm cho những người còn sống phấn khởi.

Lập tức Mùi dóng máy, gọi pháo:

- A lô, a lô, i tờ đây! Yêu cầu tiếp tế cho cửa hàng 30.

Cũng lập tức, từ phía đông và phía bắc, pháo ta rót vào bọn địch đang tiếp viện cho A1.

Nhưng ngớt đợt pháo, chúng nó lại lên; một mặt lên, một mặt tập trung hoả lực bắn chặn cửa vào đồn. Đơn vị xung kích đánh đã từ sáng rồi, liên lạc đứt, không sao phối hợp được với pháo. Giờ thì liên lạc vững, nhưng lực lượng không còn bao nhiêu. Bị đẩy xuống sân dưới, lại đánh thốc lên. Lên rồi, lại bị dồn xuống. Cứ tranh nhau từng hầm, từng đoạn hào, từng mảnh đất một. Chúng nó chết nhiều rồi, nhưng biết rằng không lên nữa thì chết cả, nên sĩ quan thúc súng lục đằng sau, những đơn vị mạnh nhất của nó nối tiếp nhau đến, từ các đường hầm bò vào.

Mùi vẫn ngó đầu đằng sau các đống gạch, thấy địch tập trung chỗ nào, là gọi pháo diệt.

Nhưng đã đến lúc, còn có bảy đồng chí bộ binh kể cả hai chuyển đạt, phần lớn bị thương tích cả rồi, không còn một cấp chỉ huy nào nữa. Chỉ còn một đoạn hào, một lô cốt, mà giặc lại đứng ngay trên đỉnh đầu rồi. Mùi chỉ cho pháo bắn loạt nữa, rồi vào lô cốt, bảo các thương binh:

- Bây giờ không còn ai chỉ huy cả. Nếu các đồng chí đồng ý, thì tôi nhận nhiệm vụ chỉ huy trận địa này.

Đi nhặt nhạnh súng và lựu đạn, Mùi trao cho anh em, bố trí người còn sức ở ngoài, người kiệt sức ở cửa hầm, rồi đeo máy ra quan sát và chỉ huy chiến đấu.

Địch cũng biết rằng phạm vi của ta không còn bao nhiêu, nó sắp đặt một đợt tiến công dữ dội, có xe tăng bò lên trước. Tăng đã đến chỗ cái quán bán cà phê cũ.

Mùi gọi:

- A lô, a lô, có con bò nó húc vào quán cà phê đấy!

Xe tăng ăn đạn, hộc khói ra.

Mùi lại chỉ từng chỗ, bắn cho bọn tiến công tơi bời. Rồi lại dùng "tiếng mật" báo cáo tình hình cụ thể với Bộ tư lệnh.

*

Bộ tư lệnh nhận được điện rành mạch từng chữ, không có một điểm sai sót nào. Quái! Tình hình như vậy mà Mùi lại nhớ vanh vách được thế ư! Hay là đã bị địch bắt rồi, mà nó bắt nói lừa ta chăng. Phải thử xem:

- Đồng chí Chu, đồng chí Chu, lệnh cho đồng chí rút với máy!

Mùi trợn. Ở nhà ngờ mình chăng? Anh chỉ còn biết cương quyết trả lời:

- Tôi xin cùng với các thương binh giữ trận địa tới cùng, tôi chắc chắn với đồng chí như vậy!

Địch lại tiếp tục lên. Mùi vừa chỉ cho pháo bắn, vừa di chuyển, ném lựu đạn chỗ này, bắn mấy băng chỗ kia, làm như ta còn giữ trận địa rộng lắm ấy.

Số thương binh đã hy sinh thêm mấy đồng chí nữa, cả đồng chí Đức, phụ máy của Mùi...

Tính ra, thì một ngày ở Nậm Rốm, còn trên đồi A1 này đã ba ngày bốn đêm rồi. Đánh các đợt tiến công của địch, không còn nhớ là mấy lần nữa. Chỉ biết là trên mặt đất, xác địch đặc hơn trước nhiều, mùi thối đã nặng. Chưa ăn miếng cơm nào, nhưng ác nhất là không có lấy một hụm nước. Mệt chỉ chực ngất đi, mà không dám để ngất. Phải giữ vững tinh thần cho các đồng chí thương binh. Phải luôn luôn quan sát, qua khói đạn, đất bụi mịt mù, nhìn những khoảng đất mà qua mấy ngày, hình dạng đã thay đổi hẳn rồi.

Gọi điện thanh, cứ thấy đài đối hỏi lại mãi. Thôi chết, khản mất giọng rồi! Mắt cứng như châm kim, họng khô như hơ lửa. Không nói được nữa thì liên lạc thế nào.

Phải lấy mảnh đạn, đái, uống một hơi.

Giọng lấy lại được dần dần. Lại tiếp tục gọi pháo. Vị trí A1 của ta vẫn vững, với bốn thương binh, một chiến sĩ bộ đàm, một chiếc máy trận trước lấy được của địch!

Mùi nhận được lệnh xuống núi, tìm đột phá khẩu mới mở, gặp đoàn trưởng.

Rời vị trí chiến đấu... Mùi nói rõ với anh em thương binh. Anh em không muốn để Mùi đi, vì những ngày đêm vừa qua đã gắn chặt mấy người với nhau. Mùi giải thích kỹ, quyết tâm chấp hành mệnh lệnh. Anh em cũng hứa với Mùi là giữ vững trận địa. Toài ra đường hào. Mùi phải ôm cái máy đằng trước. Đạn nổ, cứ phải nằm sấp lên máy, để mà bảo vệ nó. Lại phải qua bãi bằng. Đợi lúc đạn đang rót vào gần lô cốt giặc, nó thế nào cũng phải chúi xuống, Mùi ù té vượt qua. Mỗi loạt đại bác lại tiến được một quãng. Chừng nó thò súng lên, lại nằm xẹp xuống hố bom.

Tìm được đột phá khẩu số hai, đến hầm đoàn trưởng. Quanh đoàn trưởng, tám chuyển đạt viên thương vong hết. Chính đoàn trưởng cũng mang chiếc băng trắng loang máu, quanh đầu.

Đồng chí cán bộ ấy, vẫn cứ như không, hỏi Mùi tỉ mỉ về tình hình và địa thế, bảo Mùi mở máy báo cáo về Bộ tư lệnh...

Mùi sung sướng vô cùng, khi nghe thấy pháo nổ từ những vị trí mới, rồi những đợt xung kích liên tiếp tiến lên.

Rồi những cáng thương binh xuống:

- Lấy lại cả trận địa cũ rồi, anh Mùi ạ!

Sướng quá!

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND) 

30.7.25

Tý và Ọp ở đồi 836

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Đồi 836 ở phía bắc Điện Biên, cách cứ điểm địch tám trăm thước.

Ta đặt ở đó một tổ quân báo, có hai tiểu đội bộ binh bảo vệ. Bảo đảm thông tin, là tiểu đội phó điện thoại Tý, chỉ huy một chiến sĩ mang cái tên ngoáo ngổ là Ọp. Từ vị trí về tiểu đoàn, có một cặp dây, truyền tin quan sát.

Địch phát hiện vị trí quan sát của ta, nó tiến công. Chúng ta dựa vào chiến hào, đánh lại. Tý bảo Ọp:

- Lúc này đường dây truyền tin chuyển thành đường dây bảo đảm chiến đấu. Chúng ta phải bảo vệ máy, bảo vệ đường dây, hoàn thành nhiệm vụ.

Địch tiến công ba đợt, đều bị đánh lui. Chúng nó rút xuống chân đồi và gọi pháo bắn. Đạn đại bác nổ rầm rầm, cây cối đổ ngổn ngang. Tý bị thương ở mắt. Gọi điện thoại để báo cáo về tiểu đoàn, thì dây đứt mất rồi.

Trung đội phó bộ binh, nhìn thấy địch đang bò lên, hạ lệnh cho Tý:

- Dây đứt hết rồi, đồng chí đem máy về đơn vị đi thôi.

Nhưng Tý nài:

- Đồng chí cho tôi đi nối lại đường dây. Dù sao nhiệm vụ của tôi cũng là bảo đảm liên lạc!

Tý và Ọp ôm máy lao xuống đồi nối dây, thì gặp ngay một mũi bí mật của địch, định vòng sau đồi đánh lên. Ọp quay ngay lại báo cáo, nên ta kịp thời đập gãy mũi nguy hiểm đó.

Dây đứt đến hai mươi quãng, thiếu hẳn bốn trăm thước. Nối nửa giờ xong, Tý đặt máy ở lưng đồi, báo cáo tình hình về tiểu đoàn và nhận chỉ thị:

"Trung đội phải chiến đấu đến cùng. Tiểu đoàn gửi lời khen cả trung đội và hoan nghênh các đồng chí thông tin. Tiểu đoàn tiếp viện ngay".

Nhận vừa xong, thì pháo lại bắn đến dồn dập. Cả đạn cối nữa. Dây lại đứt. Phải co máy xuống đặt ở chân đồi. Tý ra lệnh cho Ọp:

- Dây ngắn rồi, tôi phải chuyển làm chuyển đạt. Đồng chí có nhiệm vụ giữ máy ở đây, nhận chỉ thị của tiểu đoàn. Chú ý: địch có thể đánh từ phía Nà Hy sang. Trong bất cứ trường hợp nào, đồng chí cũng phải bảo đảm lấy được đường liên lạc.

Tý phi lên, qua đám đạn khói mù mịt, cây, đá cồng kềnh. Đến nơi, trung đội đang ở vào tình trạng khó khăn, nhiều đồng chí đã hết đạn. Tý chuyển lời khen của tiểu đoàn và báo tin tiếp viện. Mọi người đều phấn chấn, tập trung lựu đạn để diệt đợt xung phong thứ năm của địch.

Tý không biết mệt với đau là gì nữa, xuống đón đại liên và đạn, lựu đạn lên.

Đợt xung phong thứ năm bị đánh rụi.

Đạn đại bác lại nổ. Tại Tý điếc mất rồi, đầu choáng váng; nhưng gặp hai điên thoại viên mới đến tăng cường, Tý bình tĩnh chia đoạn cho họ đi nối dây ngay. Nhận được động viên lệnh của trung đoàn, Tý một lần nữa lại lên.

Trung đội phó đã hy sinh, nhưng người không ngã, mắt vẫn trừng trừng nhìn vị trí địch.

Tý uất lên, hô to cho anh em nghe rõ động viên lệnh. Đợt xung kích thứ sáu và thứ bảy của chúng nó đều bị dập dưới lòng phẫn nộ của anh em còn lại, xác địch ngổn ngang cả trước công sự, lẫn khắp sườn đồi.

Trời tối, địch bắn thưa dần. Trận đánh kết thúc. Không nghỉ ngơi tý nào, Tý lập tức đặt lại dây lên vị trí, kiểm tra các đường tiền tiêu.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND) 

29.7.25

Đường dây Lam Sơn

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Trung đội trưởng Cống được phân công mắc đường dây, từ trạm đầu đến chỉ huy sở Lam Sơn. Nghiên cứu trên bản đồ, chả thấy cái gì khó là mấy. Đường "Chim bay" chỉ độ sáu cây số, cho già dặn lắm bảy cây là cùng. Nhưng không chủ quan, nhớ kinh nghiệm các đường núi làm trước kia, ta dự trù quá đi là mười hai cây.

Lại còn cẩn thận, tất cả các cán bộ tiểu đội với Cống còn lên núi cao, nhìn con đường mà bọn mình sẽ mắc. Không có ống kính, nhưng cứ nhìn cũng thấy chả có gì, cứ phẳng lì như cái tường thôi mà.

Gánh dây lên đường. Tổ đi đầu phải thay nhau làm chừng bảy trăm bậc thang. Bò cái dốc thứ nhất, anh em không thể nào không thắc mắc: bê dây đi cho lắm, đến lúc thừa mang về, mới khổ. Nhưng vừa đến đỉnh dốc, đã trờn trợn. Không có đường, thì đã đành rồi, nhưng sao hướng đi lại cứ như răng cưa thế này vậy. Lên thì bở hơi tai, trống ngực đánh như trống trận, mà xuống thì rã cả mật, xuống không biết đến đâu là cùng. Một ngày làm được hai răng; rồi đã thấy từ đầu dây gọi về tổng đài, yêu cầu tiếp lên mười hai cây nữa.

Nói là mắc dây, nhưng dặt một giống cỏ gianh, mắc vào cái gì mới được chứ. Đành phải thi hành cái kỹ thuật "thả". Thả được hai răng nữa. Ngồi đỉnh mỏm răng thứ tư, chưa thấy chỉ huy sở Lam Sơn chỗ nào; nhưng gióng hướng Điện Biên, chỗ tàu bay địch lên xuống, tiếng xe tăng nghe mồn một, mà áng chừng còn xa lắm. Đòi tổng đài tiếp cho nữa, thì người đâu mà tiếp, đành phải chia lực lượng, về mà lĩnh thêm mười hai cây số nữa... Cho đến thế là cùng chứ gì.

Rồi tiếp tục mắc và thả; nhưng thực sự là buông dây. Xuống mãi, xuống mãi! Xuống thì cũng dễ thôi, nhưng đến lúc xuống hết đất rồi, đặt vấn đề lên, mới cuống chứ. Lên hướng này ư? Hướng nào? Hướng này. Hướng này, nhưng lên một lúc lâu, thế nào lại thấy đụng vào đường dây cũ. Đội viên ngơ ngác, đội trưởng lâm vào cảnh cuống. Hay là dây đơn vị nào? Đơn vị nào mà bò đến đây làm gì? Đúng là dây mình rồi, dây mới toanh mà. Thế ra bọn mình đi lối ruột gà mất rồi? Bình toong còn có một hụm nước, Cống cũng hạ quyết tâm hy sinh, đổ ra khăn tay, vỗ vỗ vào mắt, nhìn. Đường đất hay là đường ma đây. Nghĩ ra một kế, lấy cả một tiểu đội, đứng rải theo đường dây cũ, để xác định hướng đến; rồi quay lưng lại, ngắm con đường tương lai. Nhưng tương lai còn cheo leo và man mác, toàn bộ giống cỏ gianh, chỗ nào cũng như chỗ nào. Bí kế, không phải là bản chất của chiến sĩ thông tin. Một tiểu đội nữa, được phái xuống hố, rồi bò lên phía trước; hò khản cổ, cởi cả áo làm cờ phất, mới rải được mười người thành những lộ tiêu, tiến lên. Trời vừa nhá nhem, thì vừa ra khỏi được cái ngục núi ấy. Cái đêm hôm ấy, sao dài đến như thế. Chóng sáng lên, để mà nhìn, nhìn xem đã ngang Điện Biên chưa. Hay là lại còn vài cái hũm nữa.

Trời hửng, nhìn rõ rồi, sân bay đã gần ngang với bọn mình rồi. Nhưng, trông chừng dây lại gần hết. Xa căn cứ quá rồi, phái người trở lại thì kịp làm sao được. Phải mắc máy, lại yêu cầu nhà tiếp viện, sáu cây. Sáu cây thôi, gần đến chỗ thành công rồi.

*

Nhưng gian nan nào đã hết đâu. Đường dây mắc xong, thế là ông tham mưu hăm hở nắm lấy ống nói, ông điều binh, khiển tướng của ông lên. Đường dây đã được vinh dự vạch lên con đường tiến quân. Các đại đội, các tiểu đoàn liên tiếp đến, dân công nối theo. Từ chỗ chỉ đường, dây còn được thêm cái vinh dự làm tay vịn tay níu, vinh dự mà dây nhà ta không sao kham nổi, nhất là một số đồng chí dân công đứt quang, đã bắt đầu mân mê, thương lượng với dây. Dây lõi đồng, bọc cao su, mềm mà lại bền, tuyệt. Cỏ gianh đã xẹp xuống, con đường nhìn rõ mồn một. Tàu bay địch ném, nhất định thế. Cỏ gianh bén lửa, bom dầu đốt từng mảng đồi, thiêu luôn dây, khét lèn lẹt. Một ngày năm bảy lượt đi cứu hoả.

Đành phải rút đường dây vào bí mật. Càng vào xa thì dốc núi càng cheo leo, nhưng điều kiện là: bí mật với địch và bí mật cả với bạn. Có thế mới phục vụ được. Đúng thế, từ hôm rút được đường dây vào bí mật, liên lạc thông đồng.

Nhưng đoạn từ trạm đầu về Bộ tư lệnh, thì còn lắm rắc rối.

Không ngày nào là đứt dưới ba lần. Có chỗ đứt vì bị đánh đổ cột, lôi dây. Nhưng lại có chỗ có vết cắt rành rành. Vết cắt bằng kìm đặc biệt. Rõ ràng là có bàn tay địch. Vấn đề tuần dây không thể đặt theo mức thường nữa. Chiếc súng dài cứ kềnh kênh bên vai lúc gánh dây, xưa giờ vẫn không được nhiều cảm tình. Từ nay súng được lau kỹ. Đồng chí quân khí rối lên vì ai cũng đòi cho được đủ cơ số đạn. Quân số có bao nhiêu, mà ngày đêm đi lại trên đường dây không lúc nào ngớt. Có phải là đi không, vừa đi vừa phải sờ dây, xem có chỗ nào bị phá hoại không. Chúng nó cũng lắm mẹo. Lúc thì nó dùng đanh ghim cắm cho hai lõi dây thông nhau, mất liên lạc. Có lúc nhìn chẳng thấy hiện tượng nào cả mà liên lạc cứ không thông. Phải nắn từng khúc dây, mới vỡ chuyện là: địch đã dùng kìm vặn đi vặn lại cho đứt lõi, còn vỏ cao su thì cứ y nguyên. Bị cái vố này, là chua nhất. Gạo đã thiếu, mà cơm vẫn thừa, vì cả trung đội phải đổ đi, lắc lắc từng tấc dây một. Ban chỉ huy lại phổ biến rằng địch có thể nghe trộm, nó có thể mắc vài sợi dây nhỏ vào, đưa đến một chỗ, đặt máy ghi tiếng; thế là nó không cần có mặt, mỗi ngày chỉ đến thay băng một lần, đem về mở máy mà nghe được, không thiếu câu nào. Tập thể quyết nghị: tiêu diệt hết các tàu lá, các cành cây nào lơ mơ đến gần sợi dây của trung đội; đi tuần thì phải đến sờ quanh từng cọc xem nó có mắc gì vào không, phải nâng từng vòng dây, chúng nó luồn dây suốt cọc tre mà bám vào thì khốn.

Không ai bảo ai, nhưng ai cũng cảm thấy rằng, chiến dịch đang có sự chuẩn bị ráo riết. Mình túng quá, không đặt được đường vu hồi, sống chết là phải giữ cho chắc con đường độc nhất này.

Rừng cao, đêm lạnh, nhưng trong lán cũng chỉ có vài ba đồng chí túc trực, còn thì đi phục kích ráo. Đêm nào cũng phải đánh bọn biệt kích thật và có đêm cũng trói được cả tù binh đem về. Ngày mắc dây, đêm tuần dây, phục kích, người cứ rạc đi; nhưng ai nấy phấn khởi, vì được chiến đấu để bảo vệ con đường huyết mạch của chiến dịch.

Nhưng, các càng quắp lấy Điện Biên càng vươn ra, các đường dây phát triển lớn, không thể nào dùng đa số người vào việc bảo vệ được nữa. Đường dây phải đặt lại theo đường dân công, nhiều người đi lại, đỡ được cái nỗi biệt kích cắt dây. Nhưng lại khổ cái nỗi là dây điện biến thành quang gánh.

Cuối cùng, trung đội rút kinh nghiệm, phát huy tinh thần triệt để và tích cực của chiến sĩ, quyết định vắt dây theo con đường các đỉnh núi.

Người ta cứ bảo:

- Chỉ đâu mà buộc ngang trời...

Không biết có ai đủ "dây đâu mà buộc được những người lẳng lơ" không? Mà chúng ta đã đặt được đường dây thông tin, vắt vẻo, hiên ngang, trên những đỉnh núi có chỗ cao hơn hai ngàn thước. Tàu bay nhất định bị bất ngờ, không sao nhìn thấy dây mà đốt, biệt kích hết nhằn, mà bà con dân công cũng chẳng hơi đâu bò đến tận đây nữa.

Đường dây hoàn thành. Tuần dây cũng vất vả đấy, nhưng khí hậu lại mát, những nhà đồng bào Mèo là những quan sát đài rất tốt để nhìn trận đánh lịch sử.

Mà thật. Luôn bốn hôm, tổng đài không phải nhắc, dây chẳng còn có vấn đề gì. Không phải tham gia chiến dịch để mà nghỉ mát, nhưng có lẽ một số anh cũng bắt buộc "bị" nghỉ mát thật.

Đêm qua, vị trí Him Lam đã bị tiêu diệt. Tiểu đoàn bộ loan báo tin mừng cho anh em, lại nói thêm: "Đồng chí Tư lệnh đã dùng đường dây của đơn vị ta mà ra lệnh cho pháo bắn mở màn chiến dịch lịch sử". Dọc đường dây, phấn khởi thì phải biết!

Trong lều, Bộ tư lệnh đang làm việc. Đồng chí chỉ huy đánh vị trí Độc Lập vừa báo cáo: "Trận đánh sắp xong, đang diệt nốt mấy lô cốt cuối cùng...". Đồng chí Tư lệnh vừa khoan khoái đặt ống nghe xuống bàn, thì chuông lại réo: "Báo cáo đồng chí, có tin hai tiểu đoàn địch từ Mường Thanh ra tiếp viện!".

- Điều đội dự bị ra chặn...

Câu nói chưa hết, thì từ cầu chì toé ra một tia lửa kinh khủng, bên ngoài một tiếng nổ chuyển đất vang trời...

- A lô! A lô! Lam Sơn đâu?

Không một tiếng nào vang lại cả!

Trời đang rét, nhưng trán đồng chí thông tin đứng cạnh máy, cứ nhỏ từng giọt mồ hôi...

Anh quay điện thoại, gọi điện đài: "gọi...". Nhưng, ôi thôi, anh chợt nhớ ra... Lam Sơn chủ quan với đường dây hậu phương vững chắc, hay hết người khiêng, đã bỏ vô tuyến điện thoại ở nhà mất rồi. Làm thế nào bây giờ đây? Đồng chí Tư lệnh chỉ nhìn thôi. Nhưng chả phải đoán cũng biết rằng đồng chí ấy định nói gì rồi.

Mồ hôi cứ thi nhau mà vã xuống.

Chiến sĩ thông tin đành khoanh tay ư? Khoanh tay không phải là truyền thống của binh chủng. Phải khắc phục! Ai có dây đến Lam Sơn nhỉ... Sông Lô. Anh nói tiếp:

- Gọi Sông Lô!

Đoàn kết là một đức tính thuộc bản chất của lính thông tin. Chưa bao giờ anh thấy tin ở bạn chiến đấu như lúc ấy.

Chuông! Điện đài báo cáo: "Bắt được Sông Lô rồi". Không biết rằng được đến ngôi hoàng đế có sướng không. Nhưng lúc ấy anh cán bộ thông tin thấy sướng hơn là lên ngôi hoàng đế. Anh chuyển ngay:

- Chỉ thị Sông Lô dùng dây, giục Lam Sơn báo cáo Bộ tư lệnh!

...

Báo cáo Lam Sơn đến nơi: "Viện của địch bị ta đánh, quay đầu về Mường Thanh rồi"!

Tổng đài điện thoại cũng gọi đến:

"Sét đánh quãng dây ở đỉnh cao nhất, hơn một cây số dây đồng chảy ra nước!".

Không nắm vững nguyên tắc, thì khổ thế đấy. Đã là chiến sĩ thông tin, thì bao giờ cũng phải có ít ra là hai ba phương tiện trong tay. Cái xắc cốt không thể nào mà lại để đến nỗi phải thú nhận là hết phép.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND) 

Chuyển đạt viên trên đường 14

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Khu vực đường 14 là vùng cao nguyên miền Tây. Những đồi và núi, bờ và bụi, ít đường, ít làng, ít buôn.

Hướng dẫn đơn vị, tìm đơn vị mà truyền lệnh, là việc phức tạp lắm.

Có anh chuyển đạt, anh Lưu, đã luyện được cho mình cái thói quen "xoi đường", ngày đêm không lạc, đơn vị đến đâu cũng tìm ra.

Bảo anh truyền lệnh, thì anh yêu cầu cho anh học thuộc lòng. Qua vùng địch, có bị bắt, cũng chả có tài liệu gì cả. Đánh tháo được ra, đến nơi là anh nói lại được, đúng từng chữ.

Ngày thường anh hay ngắm nghía vết chân anh em, vết giày, vết dép cao su. Bộ đội đi đâu, anh cứ dò vết cỏ bị dẫm và vết giày dép mà tìm ra được.

Đi trong rừng rậm, anh nhớ từng vết rìu, cành gãy. Ra chỗ quang, lại ngắm hướng sao. Vì thế mà không lạc đường bao giờ.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND) 

28.7.25

Đơn vị 32 lớn lên thế nào

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Đơn vị 32 đẻ ra trong một cơ quan, mà thành phần chủ yếu là liên lạc chân, ba trăm bảy mươi người; thành phần điện thoại có một tiểu đội.

Sống ở rừng ngang, không sao thắng nổi ghẻ lở, quần áo bê bết, chăn chiếu chả có, chuyên môn ngủ lối úp thìa.

Trên đường hành quân, điện thoại khiêng dây, anh em bộ binh cứ gọi là cái bọn lằng nhằng, không cho vượt lên trước. Chuyển đạt thì áo tơi, nón lá, cứ bị gọi yêu là bọn long tong.

Nhưng ngay từ năm 1948, tinh thần đơn vị và tinh thần binh chủng đã nổi bật lên.

Đồng chí Cầu, mang mệnh lệnh ra mặt trận, đến cầu Tân Trượng. Đồng chí khoác áo tơi, đội nón, vác thêm cái cuốc ra đi, rồi biệt tích. Đơn vị cử người đi tìm, qua Bương, Cấn, gặp đồng chí bị thương nằm bên sông, đang hấp hối. Thấy người đơn vị đến, đồng chí mở to mắt:

- Tôi truyền được lệnh rồi... - và hy sinh.

Đồng chí Nghị đã để lại một tay trong các cuộc chiến đấu ở Thái Bình. Đồng chí được phái đem mệnh lệnh sang cho 24 ở Hưng Yên. Mùa rét, không làm sao có được đò. Đồng chí uống hết chai nước mắm, rồi bơi qua sông.

Những gương hy sinh và anh dũng như vậy, làm cho đơn vị thành ra có lông có cánh. Anh em quyết tâm học tập tinh thần hai đồng chí Nghị và Cầu.

1949. Địch đã chiếm nốt Sơn Tây. Địa bàn còn từ cầu Chồm đến Rịa, 50 cây số. Các trung đoàn thì anh dũng đánh đi xa, vào địch hậu, cái lên Sơn, cái sang Thái Bình.

Cọp hoành hành, vì xác người bị Tây bắn nhiều, cọp ăn đã quen đi. Liên lạc với Bộ, lên ngược thì vừa ra cửa đã bị hai đồn Đầm Bái và Xuân Mai án ngữ, cách nhau có năm trăm thước. Ngày nào cũng có người bị chúng nó giết ở quãng này. Vượt đường Sơn Tây thì tề, dõng phục kích ở Bún Thượng, Bún Hạ. Tiền lộ phí lại thường thiếu, cứ phải giả buôn muối để vượt đường.

Trong những bước gian khổ ấy, quân báo với thông tin thường kết làm bạn chí thân, yểm hộ cho nhau làm nhiệm vụ.

Những khi đường Sơn tắc, phải qua suối Đất, vượt sông Đà, qua Đồn Vàng, sông Bứa. Một lần Sinh và Bản đưa cán bộ qua lối ấy, gặp Tây đen và thủ hạ Tưởng do Tây sai ra phục kích. Hai đồng chí đã phải phân công, một người đưa cán bộ dấn lên, một người ném lựu đạn, rồi cướp súng giặc và bắn bừa. Thế mà đi được.

Có độ, lại phải chuyển sang tận đường số 5, mới lên được Việt Bắc.

Năm 1950, bước tiến mới. Điện thoại phát triển thành một trung đội. Thu thập được đủ thứ dây, đồng sắt, cả nhôm nữa. Đi đâu cũng chở nặng hai xe bò ì ạch. Người cứ xanh xao vàng vọt đi, vì vác dây. Nặng, nhưng mà phấn khởi với chiến thắng Cao Lạng. Bom na-pan với súng bô-pho xuất hiện, nhưng đồng chí Ty bị bom na-pan cháy gần nửa người mà vẫn cương quyết hoàn thành nhiệm vụ chuyển đạt.

Thời kỳ này là thời kỳ thông tin với quân báo thường được kết hợp với nhau chặt chẽ trong các báo cáo về các trận đánh mà thắng lợi không lớn. Một điểm thuận lợi to, là đơn vị được những đồng chí Tư lệnh luôn luôn săn sóc; có đồng chí Thủ trưởng, lúc thu quân, hay ở lại hành quân với thông tin, thu hết dây dợ, gồng gánh, về sau cùng.

Sự săn sóc của các đồng chí chỉ huy làm cho anh em thấy rõ nhiệm vụ của mình và đợt đơn vị vào địch hậu là dịp tốt để tiến lên một bước nữa.

Thông tin đi liên lạc với cơ sở, làm lộ tiêu, làm tiền trạm, làm cảnh vệ, làm cả xích hầu. Các đài vô tuyến điện qua một cải tiến lớn. Máy quay kêu ro ro, đã được để lại ở căn cứ, mà bắt đầu dùng pin, êm ả hơn.

Để bảo đảm cho những đơn vị lớn qua sông, khi mà các làng bạn đã bị giải tán, thuyền bè bị phá huỷ, chuyển đạt viên được phân công từng tổ hai người xuống các bến, gây cơ sở ở dân thôn bên sông, tổ chức đội thuỷ thủ khuân đò và chèo đò, xảm lại các thuyền cũ, tập trung các thúng mủng; không bao lâu mỗi tổ chuyển đạt bảo đảm được một tiểu đoàn qua sông. Ngay cả những khi tàu chiến địch liên tiếp càn trên sông Hồng, anh em cũng tổ chức được hệ thống canh gác, làm đèn báo hiệu, đảm bảo cho các đơn vị sang ngang. Nó canh như thế mà cả đại đoàn qua sông được.

Vùng địch hậu tả ngạn rộng, căn cứ hậu phương xa, thông tin bộ đội phối hợp với bưu điện, thành lập thêm đội nữ giao thông viên, hơn bảy mươi người.

Nhân dân mến yêu những anh và chị bộ đội rải rác khắp nơi ấy. Vì thế mà đâu đâu thông tin cũng có hầm đủ thứ, hầm công văn, hầm tài liệu, hầm người, hầm khách, hầm thu dung. Địch càn đi quét lại, nhưng những cái hầm ấy vẫn còn. Nhiều lúc chủ lực ra rồi, dân tản hết rồi, nhưng chuyển đạt vẫn ở lại, làm hiệu trên các ngả đường, để thu nhặt các chiến sĩ lạc lõng, phân phối vào các hầm tạm trú. Hễ gặp được cán bộ là tổ chức lại thành đơn vị, đưa ra tiếp tục chống càn.

Trong cuộc càn "Thuỷ Ngân", một đồng chí quay máy, đồng chí Trình, lưng đeo một vô tuyến điện 694, tay cầm các-bin, đưa hai đồng chí nữa khiêng máy phát điện, tìm cách vượt vòng vây. Ai trông thấy cũng bảo quẳng máy đi, nhưng Trình nhất định:

- Sống chết không bỏ máy.

Chuẩn bị đánh Phát Diệm, cần nhiều dây lắm. Đồng chí Tước là một chiến sĩ xuất sắc trong công tác "tiếp liệu" ấy. Đồng chí vào tận khu chợ Cháy cắt dây, hai chuyến lớn. Địch phục kích cũng cứ không chịu bỏ dây lại.

Đánh lớn, đánh mạnh hơn. Thành phần tổ chức các đơn vị khác hẳn trước. Quân điện thoại lúc này chiếm đa số, vì mắc những đường đến ba mươi cây số, việc bảo vệ đòi hỏi nhiều hy sinh.

Trong trận càn Hải Âu, ta đặt đến ba trăm cây số dây. Nhưng cũng trong trận này, đơn vị bị một cú đau đớn. Vì thiếu cảnh giác, cơ quan thông tin bị bom.

Nhưng Đông - Xuân 1954 đã đến. Trận Hoàng Đan, đồng chí Xuân quấn dây quanh mình vượt sông Đáy; vô tuyến điện phát hiện địch, cất vó được cả một trung đoàn ngụy binh.

Thông tin được tuyên dương là đảm bảo từ đầu trận đến cuối!

Gió chiến thắng Điện Biên thổi to. Tất cả chuyển đạt viên chuyển hết sang làm điện thoại. Một đêm dỡ hơn hai trăm cây số dây. Chính trị viên cũng gánh dây, cấp dưỡng cũng gánh dây, mọi người quyết tâm không chuyển xong dây, không ăn cơm. Tiến mau lên, bao vây Hưng Yên!

Bộ binh thấy gánh dây, nhường cho đi trước, bảo là thông tin làm giảm thương vong và tăng thắng lợi!

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND) 

26.7.25

Sâu đo

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Trong chiến dịch Tây Bắc, Sông Lô chuẩn bị đánh Gia Hội. Gia Hội là một đại đồn, phía tây Nghĩa Lộ. Binh lực đầy đủ, có cả hầm ngầm. Tây Gia Hội là vị trí Tú Lệ. Chúng nó vừa cho cả một tiểu đoàn dù thuộc địa nhảy xuống đó. Trước sau yểm hộ cho nhau, thật là vững chắc.

Kế hoạch thông tin đã xong, phân công tỉ mỉ rồi. Nhưng mạng chưa toả, mà cả đồn Gia Hội đã ù té chạy.

Vô tuyến điện của chúng nó tốt lắm. Nghĩa Lộ, Pú Chạng đổ, là Gia Hội de rất kịp thời.

Bực quá, nhưng không có thì giờ bực. Bộ đội chuyển sang truy kích. Vừa truy kích, lại vừa chuẩn bị chiến đấu, vì phía trước là Tú Lệ, có cả một tiểu đoàn dù tinh nhuệ nổi tiếng. Tú Lệ cộng với Gia Hội, thì lực lượng lớn lắm đấy.

Vượt ba mươi cây số núi rừng. Bộ binh thót lên nhẹ nhàng. Trợ chiến cố nhiên là khó hơn, nhưng chủ yếu vẫn là tiến thôi. Thông tin cũng phải rược, nhưng vừa rược lại vừa tổ chức mạng truy kích, để phục vụ chỉ huy truy kích. Cái chiến thuật này chưa đưa ra nghiên cứu và diễn tập kỹ càng lần nào.

Phải đối phó ngay, ngần ngừ không được nữa. Tiểu đội 1, thả dây từ Ban chỉ huy trở đi, không được chậm hơn đại đội tiền vệ. Tiểu đội 2, vác sừng bò lên vai, dông lên trước nữa, rải đón đường ở đoạn trên.

Lúc này dây của trung đoàn chưa nhiều nhặn gì, chuyển được lên độ 10 cây số. Hình thành một cái mạng kiểu cách cũng lạ. Tiểu đội dây nào vượt lên trên thì cứ đặt máy đợi đó, tổ hợp cầm tay, giơ sẵn ra đường, chờ đồng chí đội trưởng tiền đạo đến nơi, để đồng chí ấy báo cáo về Ban chỉ huy. Ban chỉ huy mà di chuyển, thì tất cả đường dây phía sau, phải bóc ngay, quấn lập tức, rồi hộc tốc dốc gan chạy vượt cả trung đoàn, lên tận đầu, lại rải dây, lại đặt về phía trước, lại mắc máy, giơ tổ hợp đón. Thế là hậu quân thông tin luôn luôn chuyển thành tiền quân, các đơn vị vượt lên trước luôn luôn báo cáo được với Ban chỉ huy và Ban chỉ huy ấy nó cũng cứ luôn luôn di chuyển được về phía trước.

Cứ như thế, đến gần Tú Lệ. Cán bộ thông tin vừa chạy vừa lấy ý kiến cán bộ tác chiến, để chuẩn bị kế hoạch đánh Tú Lệ. Một tiểu đoàn dù với một đại đội chiếm đóng vừa đâu!

Đã gần đến Tú Lệ. Trinh sát báo về: Tú Lệ cũng chạy nốt rồi!

Đâu lại thế? Tiểu đoàn dù tinh nhuệ! Thế à?

Chúng nó chạy đi đâu? Dù mà chạy, thì cũng chỉ có cách chạy bộ, chớ chạy đằng giời được à? Trước mặt, chỉ có tiểu khu Ít Ong, nhưng xa tám chín mươi cây số, ở tận bờ sông Đà cơ mà. Có phải đường ô tô đâu.

Lệnh: tiếp tục truy kích!

Đã có đà rồi, dây phía sau, bóc mau, cuộn mau vác và chạy mau, vượt lên mau. Cứ như thế.

Các đồng chí cấp dưỡng thông tin cũng gánh nồi, gánh chảo truy kích với đơn vị. Nhưng một đồng chí, lúc bé có đi xem hội chùa Keo, nảy ra ý kiến, vừa truy kích vừa làm cơm, chia làm nhiều bếp nhỏ đặt trong quang gánh, vừa đi vừa đun. Cơm chín nắm ngay, giơ ra cho anh em vác dây đi qua đón lấy, vừa chạy vừa "ngoạm".

Trừ các đồng chí trinh sát, còn thì không ai còn nhìn ra hai bên đường nữa, đèo, rừng, suối, bản, không biết. Có họa, chỉ có đôi chân là có cảm giác.

Ngày thứ hai, một trăm hai mươi cây số rồi. Chúng mày chạy đằng giời. Ít Ong bị phá, tàn quân giặc lóc nhóc sang bên kia sông Đà.

Tối hôm ấy, anh em ngủ lịm. Nhưng cũng có anh thức lủng củng, suy nghĩ. Thế thì chiến thuật thông tin điện thoại hai hôm vừa qua, là chiến thuật gì?

- Chiến thuật truy kích chứ còn gì nữa. Nói nôm na, thì nó là chiến thuật... con sâu đo!

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND) 

Một sáng tác mỹ thuật

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Giặc ra đóng Hoà Bình, đường số 6 của ta bị cắt, nhưng đường số 6 cũng trở thành con đường sống mái của giặc.

Quân ta ở kín hai bên đường. Làm thế nào mà nói được với nhau. Cố nhiên là có vô tuyến điện, là có chuyển đạt viên dù sao cũng vẫn len lỏi được, có lúc đi hàng chuyến đạn mấy mươi tấn còn được nữa là!

Nhưng phải giữ liên lạc từng giây, từng phút.

Phải đặt đường dây điện thoại.

Trung đội khai hội dân chủ, phát huy sáng kiến và hai tổ được nhận nhiệm vụ ra đường.

Bao nhiêu chỗ ngọn cây giao nhau trên đường, chúng nó chặt hết cây rồi. Có họa là chim thì mới bay qua được. Chỉ còn một cách độn thổ. Ừ thì độn thổ.

Tổ A về tìm sắt làm cái thuốn, thuốn qua đường. Phải nhẫn nại lắm mới được. Thuốn có dễ đâu, gặp phải tảng đá, là nhọc. Đất tòi ra thì phải rải quần rải áo mà hứng từng mảy một, không có thì lộ. Con đường dây thuốn qua như vậy, dùng được một thời gian.

Tổ B thuốn không nổi, vì gặp phải quãng đường xương xẩu quá. Phải xẻ đường vây. Bao nhiêu chăn, bao nhiêu ni-lông phải động viên ra hết. Bắt đầu đào từng đoạn, gỡ ra từng hòn đá. Mỗi hòn đá phải xếp một chỗ cẩn thân, mặt nào lên trên, mặt nào xuống dưới, không có thì đến lúc đặt lại, chúng nó nhìn thấy mặt đá mới, chúng nó biết ngay mất. Đất tở đến đâu, phải lấy thìa mà xúc, đổ lên chăn. Lúc đặt dây xong, lại lèn đất, xếp đá dăm lại, đúng như nguyên xi. Từng bụi cỏ bên đường, còn phải lấy được mà trải cho ra vẻ tự nhiên nữa. Hoàn thành rồi, lại còn phải trang trí: xúc cứt trâu, cho vào ống bương, rỏ xuống đường như là trâu ỉa. Còn nâng mức kỹ thuật hay mỹ thuật cao hơn nữa, lấy dép cao su in một vết lên bãi cứt, y như là có bánh xe ô tô đã đi qua rồi ấy.

Hoàn thành, bao nhiêu cặp mắt ngắm nghía, rọi đèn chiếu theo góc thẳng, góc tà, xem thật hệt con đường cũ chưa. Còn có cái gì sơ suất nữa không. Bao nhiêu công việc tỉ mỉ ấy đều phải làm trong khi cứ nơm nớp có xe giặc đi đến.

Cuối cùng, mọi người đều phải công nhận rằng đây là một sáng tác mỹ thuật, tuyệt tác.

Nhưng đến một lúc, chúng nó dùng máy điện dò đường, dây thuốn và dây mạch đều bị phát giác cả.

Trung đoàn lại chỉ thị hai tổ lên đường, phát động thi đua, lập lại liên lạc. Thi đua, nhưng lần này hai tổ họp bàn với nhau.

- Nó dùng máy khoa học, thì mình hết cách.

- "Hết cách" không có trong tự vị của Quân đội cách mạng, đặc biệt là trong ngành ta.

- Đúng đấy! Ta đào sâu suy nghĩ, khoa học thì cũng phải phục tùng con người.  Với tinh thần cách mạng, chúng ta nhất định khắc phục được ráo. Nhưng khắc phục thế nào? Nghĩ chưa ra; hội nghị đành tạm thời giải tán, để cá nhân suy nghĩ đã, rồi tối họp lại.

Buổi họp tối, quả thật có được ý kiến mới? Dùng dây đồng, nó không phát hiện được. Chỉ có dây đồng thì không có cao su bọc. Phải hy sinh mấy cái ruột xe đạp mà bọc.

Nhưng lại có ý kiến tài tình hơn. Dùng dây đồng, mới là một cách lấy khoa học trị khoa học. Phải lấy trí cách mạng mà trị trí đế quốc mới được. Thế nào?

Thế này: ta thuốn, làm một đường dây dưới sâu, ngụy trang thật kỹ. Thế rồi gần mặt đường ta làm một đường dây nữa. Đó là đường dây hy sinh, nhưng cũng làm kỹ. Nó đi dò, tất nhiên là dò được. Nó dứt đường trên của mình đi, thì dứt đi.

Địch lại dò đường. Nó phát hiện ra thật! Nó dứt lấy dứt để, miệng sà-lù, cu-soong, rồi đi, yên trí là đã cắt đứt được mạng liên lạc của ta ở chỗ ấy rồi.

Nhưng dây dưới của ta vẫn cứ an toàn làm việc.

Thế là cái trí của ta đã thắng được cái trí của chúng nó, quan liêu và hời hợt.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND) 

25.7.25

Đường Hồ Chí Minh và anh hùng Cầm

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Địa hình nước ta, dài hơn một nghìn bảy trăm cây số. Phía Bắc rộng sáu trăm cây số, phía Nam rộng ba trăm năm mươi cây số. Quãng giữa dài một nghìn cây số, mà có chỗ bề ngang vẻn vẹn năm mươi cây số thôi. Xem thế thì biết đường bộ giữa Nam và Bắc xa biết chừng nào. Trong khoảng đường dài một nghìn cây số ấy, còn tám phần mười là núi, núi ra sát đến tận bể.

Địa thế như vậy, mà trong lúc kháng chiến, địch chiếm vùng Bình - Trị - Thiên, chiếm miền Nam Trung Bộ. Nó lại có bộ binh mạnh, có không quân và hải quân.

Đảng và Chính phủ lãnh đạo toàn quốc kháng chiến. Như thế thì việc liên lạc khó khăn biết nhường nào.

Nhất miền Nam Trung Bộ. Đất bằng chỉ có từng dẻo mong manh và ngắn ngủi. Còn phía Tây, toàn là núi, cao nguyên, rừng rậm, đất đỏ. Đồng bào Thượng ở cao nguyên tốt lắm, nhưng nhiều chỗ bị chúng nó lừa dối, nhất là bị khủng bố dữ dội.

Vùng Quảng Ngãi là một nơi phong trào cách mạng rất mạnh; dù chúng nó đánh từ Thừa Thiên vào, Nha Trang ra, từ Tây Nguyên xuống, mà Quảng Ngãi vẫn vững, vẫn tự túc được vô số thứ, vẫn đánh càng ngày càng mạnh.

Liên lạc từ Bắc vào, qua Cà Roòng, U Bò, đường số 9, động Li Hi An Điềm, vào cho được đến Quảng Ngãi, đã khó lắm rồi. Nhưng từ Quảng Ngãi, tức là Liên khu 5, mà vào tới chiến khu miền Đông Nam Bộ, mới thật là ghê gớm. Những đội liên lạc dùng ghe thuyền của chúng ta, cực kỳ anh dũng, vượt ra khơi, tránh tàu giặc, kéo buồm vào Nam, rồi bất thình lình, tạt vào bờ, lách qua các đội tuần bể, tránh các đèn chiếu của chúng nó, đổ bộ, đem công văn vũ khí chuyển vào chiến khu. Có lần bắt gặp giặc, không làm sao được nữa, thì tự đánh chìm, hy sinh. Có lần bị giặc đuổi, lẩn được thì vào bờ, dìm thuyền giấu tài liệu, vũ khí vào khe đá, nó đi, thì lại mò thuyền tiếp tục đi. Cũng có lần, nó đuổi gấp, thuyền ta lượn qua các tảng đá ngầm, trong khi chúng nó còn tìm cách đổ bộ, bắn đuổi theo, ta khiêng cả thuyền lên. Nó vây ở ngoài, chắc mẩm là liên lạc viên ta nằm trong vó rồi, nhưng suốt đêm ta đã khiêng được thuyền qua núi, thả xuống đằng sau, và tiếp tục hành trình.

Thật là anh dũng tuyệt vời!

Nhưng cũng chỉ chuyển được một số vũ khí và công văn thôi. Đưa cán bộ đường ấy thì may rủi quá.

Chuyển cán bộ và công văn, những vũ khí tinh vi, phải tìm đường khác nữa.

Đường nào? Chỉ còn đường cao nguyên. Ba trăm cây số núi non, trùng trùng điệp điệp, không có đường, người không quen, tiếng không biết. Địch lại luôn luôn chọc vào. Thú dữ cũng ủng hộ chúng nó.

Không có đường, nhưng trên tinh thần, cái dây liên lạc ấy gọi là đường Hồ Chí Minh. Tinh thần Hồ Chí Minh giúp cho liên lạc đặt lấy được từ Khu 5 đến Khu 6, Khu 7.

Ai có gan đảm đương đường này. Trung đoàn tìm một chiến sĩ kỳ cựu nhất, nhất là một chiến sĩ bản chất cốt cán, quen gian lao từ nhỏ tới lớn, từ lúc vào bộ đội đến bây giờ. Đồng chí Cầm. Bé đi ở, lớn làm thợ. Mười tám tuổi đầu quân, đánh quân Anh, quân Nhật, quân Pháp. Mặt trận vỡ. Cầm làm nhiệm vụ vác gạo liền mấy tháng. Đơn vị rút lui, Cầm phụ trách chuyển 9 thương binh nặng, mà giữa rừng mất liên lạc. Hơn một trăm ngày đằng đẵng, không gạo, không muối, không có tiền, lại cũng không dám đi gặp ai, vì sợ lộ, đồng chí đã kiếm rau, kiếm củ nuôi bạn, kiếm củi sưởi lúc đêm đông, nhất là giữ vững được tinh thần anh em cho đến khi tìm được đơn vị.

Sau đó, làm tiểu đội phó trinh sát, lúc địch vây chiến khu, đã luôn luôn bám sát địch, rồi đưa được Ban chỉ huy ra ngoài vòng vây.

Bao nhiêu bài học gian khổ, kinh nghiệm trinh sát, kinh nghiệm lãnh đạo, đã rèn cho đồng chí Cầm, để xứng đáng được đơn vị trao cho nhiệm vụ và vinh dự giữ đường Hồ Chí Minh.

Ba trăm cây số rừng núi - qua những vùng đồng bào hết sức thưa thớt. Giặc đã phái vào đó hoạt động, những tên cáo già trong nghề thuộc địa, chúng nó đã treo giải thưởng lấy đầu bộ đội ta, từ năm trăm đến hai ngàn đồng bạc trắng. Chúng nó phục kích, dử dân, bắt dân đi phục kích, làm cho mấy đồng chí chúng ta đã hy sinh.

Anh em trên đường, một số đâm gờm, thấy người thì chực bắn, sợ bị lộ. Trước đây thực dân đã gây và nuôi mãi những mâu thuẫn giữa người Thượng và người Kinh. Bây giờ mà lại bắn bừa thế, thì thế nào?

Làm cán bộ phụ trách đường, Cầm thấy là mình phải có nhiệm vụ đi công tác với anh em, đã chắc là gian khổ hơn chuyện ở nhà mà tổ chức rồi, nhưng có như thế mới sát anh em; chia phần khó khăn và nắm vững được tình hình nội bộ, thuyết phục được anh em, để tránh những cử động sai lầm.

Cứ kể, đi cật lực, mà đeo nhẹ, thì mỗi chuyến mất chín ngày. Nhưng... ngoài công văn còn chuyển vũ khí. Lại còn đèo chín ngày gạo để ăn đường nữa chứ. Có khi chuyển cả những hòm tiền nặng nữa. Thôi thì gùi, cõng, vác, khiêng, đeo lịu địu quanh mình. Mà lại cứ phải đi đường vòng; đi đường quang, gần làng, lại sợ lộ, địch nó theo dõi. Làm quân nhân, gặp địch, có vũ khí trong tay, mà cứ phải lủi, thật là tức bực; nhưng anh em nhớ nhiệm vụ chuyển vũ khí của người giao thông. Vũ khí này phải chuyển vào cực Nam, hay miền Đông, trao tận tay cho anh em các khu trong đó. Càng đi vòng vào các nẻo sâu, thì lại hay va phải voi, đụng phải cọp. Bụng đói, chỉ một phát đạn thôi cũng no được mấy bữa. Nhưng cứ phải nhịn. Ních chặt dây lưng lại. Gạo một ngày phải để ăn bốn năm ngày. Ăn đói mà lại vác nặng! Có lần tránh địch, phải đi vòng đến mười bốn ngày, đói quá, lả đi. Bốn đồng chí đặt gánh nặng xuống, không đứng lên được nữa, thở hắt ra, nằm lại trên con đường đau khổ nhưng vinh quang của kháng chiến. Chỉ ba ngày nữa là tới đích thôi, mới chua xót chứ.

Làm đội trưởng, Cầm còn mệt hơn mọi người. Lúc này, cái danh nghĩa là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương, đã làm cho đồng chí nhỏm dậy, đi kiếm củ cho anh em ăn đỡ đói mà chờ đấy. Một mình dấn lên, hái lá, gặm vỏ cây, cố đến được đơn vị, để yêu cầu người đi đón chuyến hàng.

Những lần đưa cán bộ, tuy mang nhẹ hơn, nhưng gian nan cũng không kém. Địch lùng càng ráo riết, phần lớn phải đi đêm, bằng những nẻo thật bí mật. Thôi thì vượt suối mùa lũ, đóng bè, xuống ghềnh, qua thác. Tắc vì địch, tắc vì nước lên, có lần chịu đói ở hốc núi sáu, bảy ngày. Cán bộ, phần nhiều yếu, ai nấy dọc đường đều được đồng chí Cầm săn sóc chu đáo.

Công tác khắc khổ đã rèn cho đồng chí Cầm càng thêm vững chắc, mà đồng chí Cầm cũng rèn cho anh em trong đội thành những chiến sĩ xương sắt, da đồng; qua những thử thách trên đường, đồng chí đã nhìn thấy những đức tính tốt đẹp trong mỗi người, đồng chí để tâm tuyên truyền giáo dục, rồi đi đến thành lập được chi bộ, phát triển được đến mười lăm đảng viên.

Lý tưởng của Đảng làm cho công tác của cái chi bộ trên đường ấy, ngày càng phong phú hơn. Bắt đầu gây cơ sở trong đồng bào Tây Nguyên men đường. Trước kia, ai thấy bộ đội cũng chạy. Nhưng đã tranh thủ được mấy người thanh niên, rồi dần dà nói rõ chính sách với nhân dân, đưa những người sơ tán trở lại làng làm ăn. Đồng bào không có nông cụ, anh em xuống tận bờ bể, bẩy đường sắt, đem về cho đồng bào. Suốt dọc đường, thế là có cơ sở. Con đường có dân, từ rày mới thật là đường Hồ Chí Minh.

Địch biết, nó vẫn thường tiến công, cắt đường, nhiều độ cạn lương. Cầm lãnh đạo anh em tăng gia sản xuất, tự túc thứ ăn được đến hai năm, các đoàn cán bộ ra vào, cũng đều được giúp đỡ.

Mười bốn lần, giặc cắt đường, năm lần giặc vây quét. Nhưng đường đứt, đồng chí Cầm lại nối lại; vây quét, anh em lại gây lại cơ sở. Bảy mươi đoàn cán bộ từ Bắc vào, từ Nam ra, đều đi được trót lọt.

Đồng chí Cầm lại được cử lập một đội vũ trang tuyên truyền, hoạt động rộng ra hai bên đường. Bắt đầu bày cho dân sống vệ sinh cho đỡ bệnh tật, rồi tăng gia mạnh cho đời sống đủ no. Từ chỗ chạy Tây, đến đưa dân đi đánh Tây bằng bẫy, bằng tên nỏ thuốc độc, làm ngụy vận, kêu gọi được hơn trăm hội tề và lính dõng về hàng, bắt mấy chục tên phản động. Suốt các xã trên đường, đều đã có tổ chức dân quân.

Con đường liên lạc Nam - Bắc đã mở rộng thênh thang trong lòng nhân dân Tây Nguyên từ đó.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND) 

24.7.25

Các chị giao thông

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Trong kháng chiến, những tỉnh chịu đựng nhất, như Hưng Yên, Thái Bình, rồi Sơn Tây, Bình - Trị - Thiên, Quy Nhơn, Phan Thiết, cả Chợ Lớn - Sài Gòn, bị giặc chiếm đóng gần khắp, có khi khắp cả. Lúc ấy, thì con đường, con sông, thành ra những vách ngăn chặn, những sợi dây ác nghiệt của một cái mạng nhện độc địa, trong đó còn nổi lên những cái nhọt, cái ung, như Quỳnh Lang.

Giặc khoe khoang, vội bôi màu vào những khoảng trên bản đồ nước ta, bao vây những vùng ấy bằng những lô cốt, boong-ke, bằng vòng đai trắng. Trong vòng đai, chúng càn đi quét lại, có khi bằng hàng chục tiểu đoàn, hay đóng đanh vào những đồn, bốt, ăn sâu vào bằng những tháp canh, điếm gác, những tổ chức ngụy quyền. Đem hàng mấy vạn quân đội, vây một, hai, ba vòng, thít dần lại, để giết chóc. Vươn những cánh cung ghê rợn, rồi khép lại. Bắt đầu, giăng ngang từ bờ đê, đẩy dần xuống bể, hay từ trong đánh ra, dồn dân ra bờ sông, trong khi tàu chiến lớn bé quấy nước đục ngầu.

Nhưng địch đi qua, các khu ta lại mở; nó tràn đi đằng trước, khu tự do nổi lên đằng sau. Trên những đám gạch vụn tro tàn, ở lại vẫn có dân quân ta độn thổ; có khi trong một xã ra mặt phản động, vẫn còn có những tấm lòng vàng son.

Rồi xã đội, huyện đội, vẫn họp lại, đại đội và tiểu đoàn, quân vẫn hoạt động; rồi một đêm, mấy trung đoàn, một đại đoàn tiến vào. Cơ sở bên trong, sức mạnh bên ngoài, đã biến đất địch chiếm ra đất ta, bóp chặt những đồn lũy của chúng nó lại.  Một giọt máu nhỏ xuống đất, nảy lên những lực lượng phi thường tốt tươi.

Cái gì đã chắp nối các lực lượng lẻ tẻ, chọc vòng đai, đi đến Trung ương, đón lãnh đạo về.

Đó là những người giao thông của chúng ta, trong đó là những đồng chí nữ giao thông viên của chính quyền địa phương, của đoàn thể, của bưu điện, của quân đội.

Điển hình, là một chị giao thông Hưng Yên, giữ liên lạc từ Hưng Yên sang Hà Đông, bị bắt bảy lần, bị tra tấn thảm khốc, nhưng không xưng gì cả, không mất công văn một chuyến nào.

Chị Phi đưa một cán bộ chuyển đạt đi truyền lệnh. Trên đường 39 miền Tiên - Duyên - Hưng, Thái Bình, khác nào một sợi chỉ căng trên chậu nước, mà gặp ngay một tiểu đội ngụy binh. Đồng chí nam giới đã luống cuống. Phi bảo, anh cứ đi trước, tự nhiên, để tôi đi sau. Đến chỗ gặp bọn ngụy, anh cán bộ nghe thấy chị giao thông nói giọng ấm áp:

- Ra tỉnh, thì anh mua cho em một bánh xà phòng thơm nhé!

Một lần khác, tình hình thật căng thẳng, không còn đường nào đi nữa. Chị Đong giắt lệnh vào mái tóc, kiếm đâu được gánh chè, gánh qua giữa thị xã, bằng con đường phố chính, ngay trước mũi thằng tỉnh trưởng. Lệnh chị mang, đã chuyển được kịp thời.

Ban chỉ huy Trung đoàn sớm dậy, nhìn một vòng, tất cả bốn phía đều có hiệu báo địch đến. Mình lộ mất rồi! Chúng nó giữ được bí mật hành quân! Đồng chí tham mưu trưởng gọi một chị, trao cho phong thư:

- Đồng chí cầm thư này sang sông, đưa cho đơn vị bên ấy. Chúng tôi chắc rằng, đồng chí mà còn, thì thư này được đến nơi. Đồng chí đi.

Chị cầm lấy công văn, ra một chỗ khuất, giấu kín.

Hôm ấy mặt trời chưa lặn, bộ đội ta trong đánh ra, bên kia sông đánh sang. Mấy chỗ, vòng vây địch bị toạc. Bộ đội bạn sang sông, có cả chị giao thông đi theo.

Thế là chị vẫn còn, chị đã hoàn thành nhiệm vụ, công văn đã đưa được đến nơi.

Chị không kể, mà cũng không ai dám hỏi xem chị đã vượt những khó khăn, hy sinh như thế nào, để bảo đảm được kế hoạch tác chiến của đơn vị.

Ở đây, không nói rõ tên chị là gì. Những người anh hùng - không gọi là anh thư - như chị, dân tộc ta vinh dự có rất nhiều. Các chị đã hy sinh tất cả vì nhân dân.

Chúng ta tưởng nhớ những chị đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ, chúng ta chúc những chị đã chiến đấu anh dũng, ngày nay được dự phần xứng đáng trong hạnh phúc xã hội chủ nghĩa, con con, cháu cháu các chị được sung sướng lâu dài.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND) 

Lưới thông tin nhân dân

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Khu tự do trong vùng địch hậu, rộng có mười một cây số. Thế mà, trong đó từ chính quyền nhân dân, công an, bộ đội, cho đến tổ chức đoàn thể, không thiếu thứ gì. Chợ họp đông, giữa ban ngày; tối đến, văn công, lửa trại, họp học tập.

Trên bản đồ của mấy thằng đồn trưởng, các đồn xung quanh, cái khu hình quả trám, tô bút chì đỏ ấy, như chọc vào mắt chúng nó. Phi cơ đã đến thả bom năm bảy dạo, nhưng, góc ruộng, dọc đường, đều có hố cá nhân; vừa có tiếng ù ù, thì gà chíp chíp gọi con vào bờ tre, trâu cũng xuống hầm, cánh đồng bát ngát lặng ngắt. Bom nổ thì đã đành, nhưng thế nào cũng có mấy quả tịt ngòi. Thế là hôm sau, ình oàng trên đường cái, khối thằng chết. Địch cũng rút kinh nghiệm, không tiếp tế mìn cho du kích bằng lối ấy nữa.

Chỉ còn đánh chọc hẳn vào giữa khu. Đã cẩn thận giữ bí mật. Lúc tập họp, lính tráng của chúng mới biết là đi càn. Thế mà đi một mũi, hai mũi, mấy mũi đi nữa, vào cũng chỉ thấy đồng không mông quạnh. Điên tiết lên, đốt nhà, phá lúa, phá được mấy mảnh thì mỏi chân, mà thỉnh thoảng lại có thằng rống lên một cách khủng khiếp vì những bàn chông có ngạnh.

Liều mạng, đánh sâu vào, thì đánh được đấy, có ai ngăn trở gì đâu, nhưng đi đâu cũng chẳng thấy bóng người nào cả, chỉ thấy tiếng trống thùm thùm ngay sau lưng.

Đánh trở ra, nhưng ra mới là cái việc khó; vô số thằng vào thì đi hai chân, nhưng ra thì lại được nằm cáng.

Cơn cớ là như thế này:

Đối diện đồn đằng đông có cây sung cao, xóm ở sát đồn phía Đoài cũng có cây đa cổ thụ. Những cây này biết nói cả. Bà con từ xa, cứ nhìn cây là đủ biết, cái cành cây như mào gà ấy, nó ngả về phía nào là Tây đi về phía ấy đấy.

Đến lúc chúng nó tiến sâu vào, chỗ trực tiếp gặp nó thì nổi trống. Trống là gấp nhất, nghe thấy là ai xuống hầm, xuống ngay, ai đi bố trí, bố trí ngay. Chỗ nào nghe thấy trống thì rung chuông. Thấy tiếng chuông là biết rằng Tây còn ở làng bên cạnh, ta còn tranh thủ làm được đôi việc. Nơi nghe thấy chuông thì hạ mõ. Tiếng mõ báo cho đồng bào hay rằng Tây còn ở cách ít ra là hai làng, nghĩa là vẫn có thể ra đồng, đi làm như thường; có nghe thấy chuông mới phải về chuẩn bị.

Ấy cứ như thế.

Như thế, mà giặc đi đến đâu, cũng chỉ nghe thấy trống, không trông thấy người. Tạt ra hướng nào cũng thế cả, cứ quẩn trong những tiếng trống, tiếng chuông, tiếng mõ, không hiểu đầu đuôi xuôi ngược ra thế nào, tức lên, sặc máu, chân cứ chọc vào chông.

Đêm thì có tù và. Tiếng tù và âm u, tiếng mõ rỏ giọt; với địch thì tẻ ngắt hay rùng rợn, nhưng với đồng bào, thì dù em bé tý cũng biết những tiếng ấy nói gì, những tiếng ấy thông báo tình hình địch, kêu gọi bà con cảnh giác.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND)

23.7.25

Đồng chí Bưu điện Đồn Vàng

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Giặc đánh, nhảy dù, chiếm Đồn Vàng, bất ngờ...

Ông chủ sự phòng Bưu điện vội tháo máy, vớ cái kìm, chạy ra. Phải chạy về phía tỉnh. Nhưng cứ mỗi quãng, ông lại leo lên cột, cắt đôi dây đi về phía địch, rồi nối máy vào đầu kia, báo cáo tình hình về tỉnh.

Địch chiếm thị trấn Đồn Vàng.

Nhưng phòng Bưu điện Đồn Vàng vẫn tiếp tục công tác trên đỉnh Đèo Khế.

Hoan hô đồng chí Bưu điện, người bạn chiến đấu của Binh chủng Thông tin.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND)

22.7.25

Đài vô tuyến điện trong địch hậu

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Đồng chí Ái mang theo một cái máy MK hai cổ và nặng chình chịch, mấy bình ắc quy chì, thêm chiếc máy nổ Béc-na vê đúp không. Phụ việc là cụ Uy, với một chú nhỏ. Đơn vị bạn là một đồng chí mật mã.

Tất cả đi theo Ban chỉ huy đánh giặc. Thấy nói đã có Cục Thông tin, nhưng lúc này thì chưa đợi được trang bị gì mới. Chủ yếu là tự lực.

Đánh giặc trong địch hậu, theo kịp Ban chỉ huy, với các thiết bị như kể trên, đã là một cái nặng. Bữa hai lưng cơm, vụ bốn chín, cứ đánh đu với con sông Luộc; sáng ở Quỳnh Côi, tối đã đặt đài bên Thanh Miện, dạt xuống Thụy Anh, Tiền Hải, nghe thấy tiếng bà cụ gọi trâu, lại vọt lên Phù Cừ.

Ban chỉ huy đi trước, đài còn ở lại, để giải quyết xong điện; khốn nỗi, làm thất thường, đã không thành phiên nữa, cứ phải làm lối gọi chèn. Hôm nay phải lắng tai nghe đài bên Đông Triều; vừa thấy nó lên tiếng, chèn ngay vào. Được cái, các đồng chí bên ấy cũng thông cảm, bỏ dở điện, nghe cho ngay. Đang đánh, thì có tin địch đã đến gần. Cũng phải cho hết điện, để bên ấy đánh gỡ cho. Bỏ dở thì biết bao giờ lại liên lạc được. Chưa hết hiệu báo nhận, súng đã nổ ở đầu ngõ; ôm máy chạy ra, không rút được hết rồi! Nhóm phải hy sinh một người.

Hôm ở Đông Quan, nó quần mãi, mà dùng dằng không dám chôn máy. Chôn máy rồi, thì chiến sĩ vô tuyến điện khác gì anh tản cư. Nhưng lũ chó săn nó nắm được địa điểm mình, phải đem đồ giấu kín vậy. Khổ với cái máy nổ, nó cứ như con lợn sề ấy. Giấu vừa xong thì vòng vây đã khép chặt. Chạy đường nào bây giờ. Cuối cùng thì, nó đi trước, mình cứ vết giày đinh mà đi theo, thế mà thoát, dù nó quây ba vòng, trên đầu bà già còn xè xè.

Bực cái là, hôm quay lại được, tìm nhược xác mới đủ bộ, vì giấu kỹ quá.

Có lúc ở Thần Đầu, Thần Huống, vùng tự do chỉ còn là một mảnh đất; cho cái máy nổ chạy thì chính quyền can thiệp, đồng bào van lơn. Sợ bị oanh tạc. Không cho máy nổ chạy, thì làm việc thế nào? Đành ra đi, tìm cái máy phát điện. Một già một trẻ lên đường thất thểu, đúng như mồm bà con lúc ấy, tả bộ đội:

- Thứ nhất thì thắt lưng da, thứ hai bị rách, thứ ba quần đùi.

Lại như: Thứ nhất thì mọc râu non, thứ hai quần áo gạch non dán bùn.

Quân phục không chính quy như thế, nhưng được bà con thương. Tìm được một chiếc máy điện và đang nghĩ cách quay, thì một đồng bào cho ngay chiếc đĩa xe đạp, với chiếc xích, tháo trong cái xe đạp mới nguyên. Chưa giải quyết được vấn đề phát, nhưng thu ngay được tin chiến thắng Đông Khê, Tây chạy tỉnh Lạng; tuyên truyền ra, nổi nang đình đám, bà con phấn chấn vô cùng.

Những tin chiến thắng đã gắn chặt đài vô tuyến điện với dân, dân bảo vệ cho đài.

Năm mươi mốt, trận càn "Con bạch tuộc"; lực lượng địch rõ ràng nó đã thành hình vòng cung. Không thoát ra cho mau, thì một là máy xuống bể, hai là càng nó khép lại. Cụ Uy, gan, ở lại, đắp chiếu, cho nổi cơn sốt, để giữ máy phát điện; còn Ái, ôm đài ra bờ đê. Tránh chỗ có đèn sáng, ai ngờ nó đứng cả chỗ tối. Suýt nữa mất máy.

Hồi chúng nó càn trận "Cam quýt", gay lắm, mà nhiều điện phải đánh lên Bộ. Đánh cả ban ngày. Nguy hiểm cũng đánh, có thế thì Bộ mới nắm được tình hình. Đánh xong một điện, lại xếp máy vào quang gánh, chạy ve ve. Không còn kịp đào chỗ nào mà giấu nữa. Cuối cùng phải để cả vào cái võng, đắp chiếu, cáng đi. Các bà mẹ, các chị em, dọc đường đi cứ ào ra, người đưa quà, người cho nước, gạt đi không được. Mẹ níu lấy cáng:

- Khốn khổ, để mẹ lau mặt cho anh ấy một tý.

Cứ chực vén chiếu lên.

Chạy cho mau, sang sông, rước đồng chí "thương binh" xuống, đánh điện ngay; nhưng điện chưa hết, đạn đại bác đã nổ ngoài sân, lại phải lê võng chạy. Lại trở lại bên này sông Luộc, đến Hưng Nhân. Luống cuống mất đâu cả bản mật mã. Ôi! Đau khổ! Mà nó lại dồn xuống Duyên Hà. Phải rẽ sang Tiên La, chuồn theo cống. Đại bác địch nã vào chỗ tập kết. Chỗ này chúng ta có sáng kiến, làm cái cầu ngầm ở dưới mặt nước, nhưng hôm ấy cầu trôi. Thanh niên xung phong nhảy ùm xuống nước, giữ cầu cho bộ đội, cho đài vô tuyến điện qua.

Địch tưởng là chúng ta chết hết với đại bác ở chỗ sông rồi. Đến ngồi giữa Trung đoàn 24, Ái mở máy ra nghe, thì nghe thấy địch nó đương huênh hoang khoe là đã diệt hết cái trung đoàn gan dạ ấy của địch hậu rồi.

Đến trận càn "Lạc đà". Càn mãi, nó cũng rút được kinh nghiệm. Chọc ra hướng nào cũng gặp địch, sau không làm sao mà theo kịp Ban chỉ huy được nữa, đài vô tuyến điện hãy tạm đi với một tiểu đoàn, xuôi rồi lại người, vượt lên Khoái Châu, sang Hà Nam, rồi lại trở về. Ngồi trong cái thúng nát, một tay ôm máy, một tay tát nước bằng cái nón rách. Ái thấy qua sông sao mà lâu đến thế! Đai sắt của máy cứ cứa vào ngực.

Nhưng những trận càn đáo để nhất, đã đi trước những thắng lợi huy hoàng nhất và đến đúng mười hai giờ đêm cái hôm tháng 7 ấy, đường hoàng đặt ở cái nhà cao nhất vùng, đài lên tiếng dõng dạc, gọi các đài khác trong khu, chuyển lệnh ngừng bắn, rồi sửa soạn đi tiếp thu thành phố Hải Phòng.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND) 

21.7.25

Thông báo mời họp

Kính gửi: Toàn thể hội viên Hội Truyền thống Bộ đội Thông tin khu vực Hà Nội.

Thường trực Ban liên lạc Hội Truyền thống Bộ đội Thông tin khu vực Hà Nội trân trọng kính mời toàn thể cán bộ, hội viên Hội Truyền thống Bộ đội Thông tin khu vực Hà Nội tới dự buổi Họp mặt Truyền thống của Hội nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công – Quốc khánh 2/9 (02/9/1945 – 02/9/2025); 80 năm Ngày truyền thống vẻ vang của Bộ đội Thông tin liên lạc anh hùng và đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh.

Thời gian: 07h30 – 12h00, ngày 17 tháng 8 năm 2025 (Chủ nhật)

Địa điểm: Sở chỉ huy Binh chủng Thông tin (Số 01, phố Giang Văn Minh, phường Giảng Võ, TP Hà Nội).

Thường trực Ban liên lạc Hội trân trọng được đón tiếp !

Trưởng ban liên lạc

Thiếu tướng: VŨ DƯƠNG NGHI

--------------------------------------------

Ghi chú:

Để công tác đón tiếp được chu đáo, yêu cầu các đ/c chi hội trưởng nắm, báo cáo quân số dự họp mặt vào 2 đợt: đợt 1 vào 05/8/2025 và đợt 2 vào 12/8/2025. Báo cáo số hội viên dự họp mặt qua số điện thoại: Đ/c Thân Ngọc Thúy: 0963 688 253; đ/c Trần Đình Luận: 0913 564 068.

Tiếp liệu

Cố Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy

Không nói chuyện tiếp liệu lối thông thường, như chuyện ra chợ Chờ hay chợ Đại, tìm liên lạc với bọn "thương nhân", đặt mua hàng vùng địch, thứ gì cũng có.

Không nói chuyện mua hàng của bọn "bờ lờ" chung lưng với cánh "đơ bê", chở hàng ngay bằng xe nhà binh Pháp. Tiền, thì cái gì mà chúng nó chả bán. Cũng không kể cả chuyện ra bến Diêm Điền, đặt với thuyền "Tầu Ô" mua ngay đại liên của bộ đội chính quy tụi Tưởng. Bọn này cũng thế, cái gì cũng "mại" được tuốt.

Có khi khó khăn hơn. Mua đồ mà bọn con buôn không biết rõ, hay không đưa được thứ đúng phẩm chất, phải vào tận Hải Phòng hay Hà Nội, chỉ tận nơi cho họ mua đem ra.

Tiếp liệu như vậy, bất đắc dĩ thì phải làm. Có khi được việc, nhưng cũng khi bị lừa. Hơn nữa, có khi, chúng nó theo, tìm biết nhu cầu của mình, hay từ chỗ cơ quan tiếp liệu mà dõi đến chỗ mình không muốn chúng nó đến.

Nhiều lần, nó bịt một vài thứ hàng, mong làm tê liệt một vài thứ hoạt động của ta, hay gây khó khăn cho thị trường ta. Ví dụ dầu hỏa cần cho một số máy chạy. Nó chỉ bán từng chai một. Nhưng quần chúng ta đông, từ em bé đến cụ già, mỗi người ta làm một chai, vẫn đủ hàng trăm gánh. Nó lại thường lợi dụng cái nghiện kỳ cục của những người nghiện xà phòng Gíp của Tây, nghiện bàn chải răng của Mỹ, nghiện vải phin, mà bòn tiền của ta. Ở đây, không kể những chuyện như vậy.

*

Mà kể chuyện tiếp liệu dây điện thoại mềm, bọc cao su. Cái này thì không có "thương nhân" nào dám bán. Mà thấy ai có một ít, là chúng nó bắn ngay. Chúng ta, thì chúng ta cũng không mua.

Mùa mưa là mùa bộ đội thông tin tổng kết các kinh nghiệm đông xuân, học tập tiến lên một trình độ chiến thuật và kỹ thuật mới. Số dây cũ không đủ dùng nữa. Tiểu đoàn triệu tập hai đồng chí tiểu đội Thìn với Riệu quen dân vận:

- Các đồng chí chuẩn bị đi "tiếp liệu" dây chứ.

Hai đồng chí ra đi "tiếp liệu" chẳng mang tiền bạc gì cả, chỉ có một tờ giới thiệu với hai tấm chứng minh thư, ngụy trang, vào địch hậu. Trong mỗi tiểu khu của địch, nhất là trên những đường lớn, các đồn đều có dây điện thoại nối với nhau.

Tiểu khu trên, dây đã tầu tầu rồi. Hàng không được tốt. Phải xuống khu dưới. Ở đây toàn dây mới toanh. Nhất hạng rồi!

Anh em tìm đến nhà đồng chí "chủ tịch", làng tề. Đồng chí chủ tịch không nhận cho ngủ trọ, nhưng anh em cứ nằn nèo mãi, và trong khi nằn nèo, đặt vào lòng tay đồng chí tờ giới thiệu gập làm tám.

- Các đồng chí cần bao nhiêu?

- Càng nhiều càng tốt! Ít nhất cũng hai chục cây.

- Đường bên này có một đôi dây thôi, lấy hai chục một tối, thì không gọn đâu, mà lấy nhiều lần thì không bảo đảm.

Nghĩ một lúc.

- Mấy hôm nay tạnh, đường ráo, chúng nó hay đi "ba tui". Gần đến ngâu rồi. Mưa ngâu, bọn mình làm thì tốt ra ráng!

Chủ tịch đưa hai đồng chí bộ đội sang gửi bên nhà, "hội tề" cho đảm bảo, và dặn cứ ở đây chờ mưa.

Mùa ngâu đến đúng hẹn. Mưa rả rích ba ngày đêm rồi, đường đi nhão nhoét. Diệu về đơn vị, đưa hai thuyền đến bến sông đợi. Phải hoạt động cả hai bên sông, cho chúng nó khó đoán.

Sắp ra đi, Thìn còn dặn:

- Yêu cầu cắt dài trăm thước một. Đừng cắt vụn mà phí của đấy, các đồng chí ạ.

Anh em du kích theo đường dây, hãy tháo hết dây hãm ra đã. Như thế là chúng nó vẫn liên lạc được cho đến lúc cuối cùng, không nghi ngờ gì. Bốn cột đặt một người, dao quắm sẵn sàng. Khi nghe thấy vạc ăn đêm kêu hai tiếng đều đều, là cả hai bên sông cùng hạ thủ, rồi cuộn lấy, cuộn để, ù té chạy ra bến.

Chỉ năm phút sau, trên đồn đã có tiếng súng, cự mã cửa đồn đã thấy đẩy ra một bên, nhưng mấy phát súng đến vừa vặn vào cổng đồn, nhắc chúng nó suy nghĩ kỹ cái đã. Kết quả là hai đồn đối trấn chỉ bắn nhiều loạt đại liên theo đường dây, chớ không làm trò gì hơn nữa.

Dân quân lên thuyền, tiễn bộ đội một thôi đường, như thế nếu mà sáng hôm sau, chúng nó có phát hiện, cũng không theo vết mà vào sục trong làng được.

Thế là xong một chuyến hàng.

Nhưng nhà hàng mến khách. Từ đấy trở đi, đôi ba tháng lại một lần, đồng chí chủ tịch báo cho bộ đội đến chỗ ấy, chỗ nọ, mà mang dây về.

- Đừng có để chậm mà chúng nó nhặt mất, phí của!

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Báo cáo, liên lạc vững” – NXB QĐND)