Đại tá Phạm Duy Tín - nguyên Phó Tham mưu trưởng Binh
chủng Thông tin liên lạc
Hình như số phận đã buộc tôi gắn với Hệ thống viễn thông
liên kết và Lữ đoàn 596, Từ cuối tháng 3 năm 1975, đang làm Trợ lý Tham mưu
Thông tin giúp đóng chí Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Binh chủng Thông tin Phạm
Kim Bạo theo dõi, tổ chức hệ thống thông tin của Bộ Tổng Tham mưu bảo đảm chỉ
huy chiến đấu của các cánh quân phía Nam chuẩn bị cho chiến dịch giải phóng Sài
Gòn, tôi đã được nghiên cứu các tài liệu chuẩn bị tiếp quản Hệ thống viễn thông
liên kết.
Trưa ngày 1 tháng 5 năm 1975, trong đoàn tiếp quản của
đồng chí Trịnh Đình Chung, tôi đã có mặt ở Bộ Tổng Tham mưu quân ngụy và đi tiếp
quản hệ thống thông tin Vũng Tàu. Tháng 7 năm 1975, tôi đi Pleiku và Buôn Ma Thuột
tiếp nhận Trung đoàn 596 (thuộc Đoàn 559) rồi công tác ở Trung đoàn đến hết năm
1978. Sau đó, tôi được điều về Bộ tư lệnh Binh chủng, làm Trung đoàn trưởng Trung
đoàn 139 rồi phụ trách Phòng Huấn luyện chiến đấu Bộ Tham mưu Binh chủng. Những
tưởng hết duyên nợ với 596, nhưng đầu năm 1984 tôi đang phụ trách Phòng Kế hoạch
Bộ Tham mưu Binh chủng đúng lúc Hội đồng Bộ trưởng quyết định: Công trình viễn
thông xây dựng mới từ Hà Nội vào Đà Nẵng bằng khí tài của Hệ thống viễn thông
liên kết do Bộ Quốc phòng lập Luận chứng kinh tế kỹ thuật - có Tổng cục
Bưu điện tham gia, Nhà nước sẽ phê duyệt và xem xét vốn đầu tư trong năm
1984-1985.
Tháng 7 năm 1984, Bộ Quốc phòng chính thức giao nhiệm
vụ cho Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc làm chủ đầu tư công trình viba Hà Nội - Đà
Nẵng ký hiệu VTH2-84. Tiếp đó, Binh chủng quyết định thành lập Ban quản lý công
trình viễn thông do đồng chí Ngô Đức Thọ - Phó tư lệnh Kỹ thuật làm Trưởng ban,
tôi làm Phó Trưởng ban (sau này đồng chí Nguyễn Hữu Đăng lên làm Trưởng ban thay
đồng chí Ngô Đức Thọ). Ban quản lý công trình viễn thông trực thuộc Tư lệnh có
con dấu riêng, chi bộ riêng. Đầu năm 1985, Luận chứng kinh tế kỹ thuật được
phê duyệt. Tôi hoàn thành nhiệm vụ. Ngày 19 tháng 4 năm 1985, Bộ Quốc phòng quyết
định chuyển Trung đoàn Thông tin viễn thông 596 thành Lữ đoàn 596 có nhiệm vụ
quản lý khai thác tuyến viễn thông hiện hành và xây dựng tuyến viễn thông Hà Nội
- Đà Nẵng. Tôi lại được điều về làm Lữ đoàn trưởng. Sau khi xây dựng xong đoạn
tuyến viba Hà Nội - Vinh và đoạn Đà Nẵng - Huế, từ Lữ đoàn 596 tôi được điều về
phụ trách cơ quan Đại diện Bộ tư lệnh tại Tân Sơn Nhất từ tháng 8 năm 1988.
Nhưng chưa hết duyên nợ với Hệ thống viễn thông liên kết. Tháng 11 năm 1988, Hội
đồng Bộ trưởng quyết định chuyển giao tuyến viba Hà Nội - Đà Nẵng từ Bộ Quốc
phòng sang Tổng cục Bưu điện quản lý và thông tuyến vào năm 1989, Bộ tư lệnh
thành lập Ban chỉ đạo bàn giao tuyến, tôi lại được chỉ định tham gia Ban chỉ đạo
bàn giao tuyến. Cuối năm 1990, làm xong nhiệm vụ này tôi được nghỉ hưu.
Như vậy, trong 15 năm từ năm 1975 cho đến những năm cuối
cùng của tôi ở quân ngũ, công việc của tôi gắn liền với Hệ thống viễn thông
liên kết, với Lữ đoàn 596.
Những năm công tác ở Lữ đoàn 596, Hệ thống viễn thông
liên kết đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm sâu sắc. Tôi xin kể lại:
1. Lập Luận chứng kinh tế kỹ thuật tuyến viba Hà Nội -
Đà Nẵng.
Ban quản lý công trình viễn thông có tôi làm Phó Trưởng
ban trực tiếp điều hành công việc, đồng chí Nguyễn Thế Đảo, đồng chí Nguyễn Tiến
Mỹ, đồng chí Hồ Đắc Thuyên, đồng chí Đỗ Văn Mạo. Đồng chí Lê Văn Lục từ Ban Tài
vụ Nhà máy M1 về phụ trách tài chính, đồng chí Phạm Văn Bính ở Phòng Quân lực về
phụ trách quân số, đồng chí Đỗ Văn An từ Trường Trung cấp Kỹ thuật về làm công
tác cán bộ... Ban đầu, chúng tôi rất bỡ ngỡ với việc lập Luận chứng kinh tế
kỹ thuật. Tuy có một văn bản của Tổng cục Bưu điện nhưng chỉ để tham khảo.
Chúng tôi phải tìm đọc nhiều nghị định của Nhà nước về những vấn đề có liên
quan về xây dựng, về quy hoạch về quan hệ bên A, bên B... Đồng chí Thuyên, đồng
chí Mỹ, đồng chí Mạo phụ trách phần luận chứng kỹ thuật; đồng chí Lục phần kinh
tế, tôi và đồng chí Đảo phụ trách những vấn đề chung và tổng hợp.
Để thông qua được luận chứng, tôi phải chạy rất nhiều cơ
quan, quan hệ với Vụ 1 - một vụ có nhiệm vụ giải quyết các mối quan hệ kinh tế
- quốc phòng. Với Vụ 1 Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng, tôi phải giải thích về khả
năng khí tài và kỹ thuật của Binh chủng xây dựng tuyến viba; làm việc với Ủy
ban Kế hoạch Nhà nước để xin ngân sách, vật tư, xăng dầu, điện lực, đất đai dựng
trạm...; làm việc với Vụ 1 Bộ Tài chính, làm việc với Đài Phát thanh và Truyền hình...; ở Bộ Tổng Tham mưu phải làm việc với Cục Quân lực về quân số và trang bị. Vì có
liên quan đến làm kinh tế tôi đến làm việc với Ban Kinh tế Bộ Quốc phòng. Sau
khi thông qua Luận chứng kinh tế kỹ thuật ở Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Tham
mưu, Bộ Quốc phòng giao cho Thiếu tướng Vũ Xuân Chiêm chỉ đạo công trình này.
Tôi đã hai lần đi họp với Ủy ban Hợp tác liên Chính phủ Việt Nam và Cu Ba do đồng
chí Vũ Đình Liệu - Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng làm Chủ tịch Ủy ban để đưa
việc xây dựng công trình viễn thông này vào chương trình công tác của hai chính
phủ tạo thuận lợi cho sau này. Khoản kinh phí ngoại tệ 1 triệu USD để mua linh
kiện vật tư điện tử Bộ Quốc phòng đề nghị Hội đồng Bộ trưởng xét điều chỉnh.
Để hoàn chỉnh và lập chính xác Luận chứng kinh tế kỹ
thuật, chúng tôi đã nhiều lần rà soát lại các số liệu về đường truyền sóng
giữa các trạm, đi thực tế cùng các đồng chí Phòng Kỹ thuật Trung đoàn 596 xem
xét thực trạng từng đầu máy tại Trạm Viễn thông. Chúng tôi đã đóng hòm một máy
FRC-109 gửi cho Bộ Bưu điện Cu Ba để các bạn cải tiến, thực tế chứng minh dung
lượng truyền dẫn như báo cáo trong Luận chứng. Cùng Luận chứng kinh tế kỹ thuật
được hoàn thành và gửi đến hàng chục cơ quan có liên quan, đồng chí Nguyễn Thế
Đảo đã có nhiều công sức để hoàn thiện nội dung và hình thức của Luận chứng. Luận
chứng được đóng thành tập với hàng loạt bản vẽ, bìa cứng, bọc vải, in chữ vàng.
Đầu năm 1985, thông qua với nội dung văn bản quyết định của Hội đồng Bộ trưởng
phù hợp với ý kiến của Binh chủng, tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ lập Luận chứng
kinh tế kỹ thuật - một thành công ban đầu của việc xây dựng tuyến viba Hà Nội -
Đà Nẵng với sự nỗ lực của tập thể Ban Quản lý công trình viễn thông.
2. Các nước bạn với Hệ thống viễn thông liên kết - Bộ Bưu
điện Cu Ba.
Sau khi ta tiếp quản Hệ thống viễn thông liên kết, một
hệ thống thông tin vào loại hiện đại ở Đông Nam Á, các nước bạn cũng rất quan
tâm. Hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa đều có đoàn đến tham quan, mỗi đoàn có từ
2 đến 4 người. Liên Xô có 3 đoàn và mỗi đoàn có đến hàng chục người. Đoàn quân
đội Bun-ga-ri khá đông do một trung tướng dẫn đầu. Nhiều đoàn hỏi đến hệ thống
bảo mật thông tin và máy mật. Đoàn Tiệp Khắc quan tâm nhiều đến hệ thống máy
thông tin cấp chiến thuật. Đoàn Hung-ga-ri đến 2 lần; đoàn thứ hai do đồng chí
Cục trưởng Cục Thông tin quân đội Hung-ga-ri dẫn đầu. Bạn quan tâm nhiều đến
máy FRC-109. Sau này tôi được biết ở Cu Ba các trạm truyền dẫn tín hiệu từ đài
vệ tinh mặt đất về Trung tâm La Habana đều dùng máy viba của Hung-ga-ri. Đoàn Cộng
hoà Dân chủ Đức yêu cầu ta cho mở hộp đậy ăngten FRC-109 để quan sát bên trong.
Chúng ta rất thẳng thắn và cụ thể trong việc giới thiệu hệ thống; mong các bạn,
nhất là Liên Xô sang giúp ta trong công tác nghiên cứu kỹ thuật. Ở đài Phú Lâm
ta có lắp vào máy FRC-109 một klystron có đặc tính tương đương klystron VE của
Mỹ và thiết bị này đã hoạt động bình thường. Trong việc xin viện trợ ta cũng có
xin loại klystron này nhưng không được đáp ứng.
Từ năm 1983, đoàn Bộ Bưu điện Cu Ba đã sang khảo sát
tuyến viba Hà Nội - Đà Nẵng, nghiên cứu khí tài của Hệ thống viễn thông liên kết
để giúp ta xây dựng tuyến viba này với chính khí tài của Hệ thống viễn thông
liên kết. Giúp ta xây dựng tuyến viba Hà Nội - Đà Nẵng, các đồng chí Bộ Bưu điện
Cu Ba đã coi như nhiệm vụ của chính mình. Ở Việt Nam, đồng chí Ga-tô, đồng chí
Li-la được coi như đại diện của Bộ Bưu điện Cu Ba. Nhiều chuyên gia của từng
ngành kỹ thuật đã sang giúp ta. Một tổ chuyên gia tính toán lại số liệu đường
truyền sóng, các địa điểm đặt trạm. Các đồng chí đã mang máy từ Cu Ba sang đo
thử trực tiếp trên hai đoạn tuyến Hà Nội - Cầu Giẽ và Cầu Giẽ - Nam Định để khẳng
định chất lượng truyền sóng của toàn tuyến. Một tổ kỹ thuật về máy viba có các
đồng chí An-be-to, Ca-si-mi-ro, Hê-ra-dô và nữ đồng chí Đây-si làm máy đo. Các
đồng chí đã cải tiến 16 bộ máy FRC-109 để truyền dẫn được 300 kênh thoại, 1
kênh truyền hình, sau này thêm 1 kênh truyền thanh. Các đồng chí cho đấu các
máy đã khôi phục và sửa chữa, cải tiến thành 7 trạm tượng trưng từ Hà Nội -
Vinh với các bộ suy hao giả định lượng tiêu hao trên đường truyền dẫn và cho phát
truyền hình từ trạm đầu đến trạm cuối, đo chỉnh các chỉ tiêu. Kiến trúc vỏ trạm
là một nữ đồng chí đã thiết kế nhà Trạm viễn thông Hàm Rồng rồi về nước. Một tổ
làm cột cao, cột ăngten do đồng chí Phê-rê phụ trách với một số nhân viên kỹ
thuật lắp đặt cột cao. Phụ trách chung là đồng chí Béc-na-đi-ô và công trình sư
Xoa-vê-đra. Việc mua linh kiện điện tử cho Hệ thống viễn thông liên kết đối với
ta là rất khó khăn, nhưng các bạn Cu Ba bằng các mối liên kết thương mại của
mình đã giải quyết được. Một klystron cho FRC-109 năm 1986 có giá là gần 1.000 USD
Mỹ. Kinh phí ngoại tệ dự tính 1 triệu USD cũng lấy ở số tiền mà Cu Ba bán hộ
tem cho Tổng cục Bưu điện Việt Nam. Thực chất là ta vay tiền của bạn rồi trả dần
bằng tiền bạn bán tem cho ta.
Lữ đoàn cũng tạo cho bạn điều kiện làm việc và sinh hoạt
thoải mái. Về trạm, xưởng kỹ thuật, đồng chí Hà Thị Tố Nga và Tiểu đoàn 2 kỹ
thuật rất sáng tạo, chuyển Trạm Sửa chữa viễn thông Long Bình về Trạm Viba Tân Sơn
Nhất và thiết bị lại thành một trung tâm kỹ thuật hoàn chỉnh, đồng bộ để sửa chữa
và khôi phục các khí tài viễn thông. Cạnh Trung tâm Kỹ thuật là Trung tâm Quy chuẩn
và Sửa chữa máy đo. Công tác tại các trung tâm kỹ thuật này cùng các chuyên gia
Cu Ba là những nhân viên kỹ thuật hàng đầu của Hệ thống viễn thông liên kết.
Chính ở Trung tâm kỹ thuật này, cán bộ, nhân viên kỹ thuật của Lữ đoàn đã sửa
chữa, khôi phục, đồng chỉnh cho hàng chục loại khí tài của một trạm viễn thông.
Lần lượt 7 trạm viễn thông từ Hà Nội - Vinh được hồi phục. Các đồng chí Cu Ba đánh
giá rất cao tổ hợp kỹ thuật này, nhất là các cán bộ và nhân viên kỹ thuật công
tác tại trạm. Riêng tôi cho rằng với việc tổ chức tổ hợp kỹ thuật viễn thông, Lữ
đoàn đã làm cho các chuyên gia ngay từ bước đầu tin tưởng ở chúng ta.
Đoạn tuyến Hà Nội - Vinh hoàn thành tháng 12 năm 1986 phục
vụ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI. Trong thời gian phục vụ Đại hội, các đồng
chí Cu Ba cũng chia ra ở từng trạm cùng các cán bộ, nhân viên kỹ thuật Lữ đoàn bám
sát kỹ thuật liên tục 24/24.
Đoạn tuyến viba Vinh - Đà Nẵng được xây dựng năm 1988
sang đầu năm 1989. Máy viba dùng trong đoạn tuyến này trước đây định dùng máy
Rel-2600 công suất 10W cải tiến nay bạn đã thiết kế một loại máy khác, với tính
năng kỹ thuật bảo đảm dung lượng thông tin của toàn tuyến với tên gọi VC-300.
Các đồng chí cán bộ kỹ thuật của ta như: Hồ Đắc Thuyên, Nguyễn Tất Hiển, Nguyễn
Tiến Mỹ... đã sang Cu Ba cùng lắp ráp máy với bạn.
Đầu năm 1988, các đồng chí Cu Ba còn đưa tổ chuyên viên
cáp biển sang để nghiên cứu, khôi phục tuyến cáp biển nhưng không đủ khả năng.
Các bạn Cu Ba cho rằng hoàn thành tuyến viba Hà Nội - Đà
Nẵng là một thành công điển hình của sự hợp tác hai nước Cu Ba và Việt Nam. Đối
với chúng ta các bạn đã để lại trong chúng ta những ấn tượng rất sâu sắc. Làm
việc với các bạn Cu Ba, cán bộ, nhân viên kỹ thuật của ta được học hỏi và hiểu
biết thêm về kỹ thuật viba hiện đại, mở rộng kiến thức để phát triển sau này.
3. Lữ đoàn 596 - Hệ thống viễn thông liên kết.
Lữ đoàn 596 có những đặc điểm riêng mà không đơn vị nào
trong Binh chủng có. Lữ đoàn 596 bảo đảm đường trục thông tin trong nửa nước, đồng
thời bảo đảm cả thông tin trong khu vực cho nhiều quân binh chủng ở Đà Nẵng,
Nha Trang, Thành phố Hồ Chí Minh. Lữ đoàn phải tự đảm bảo vật tư khí tài, tự đảm
bảo kỹ thuật cho Hệ thống viễn thông liên kết. Hàng năm, Lữ đoàn phải huấn luyện
chiến sĩ khai thác cho nhiều ngành kỹ thuật: viba, tải ba, kiểm liên, nguồn điện,
tổng đài tự động. Lữ đoàn có một lực lượng công nhân viên kỹ thuật rất đặc biệt
đã là sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ của chế độ cũ. Lữ đoàn đã phát huy được tốt
khả năng kỹ thuật của lực lượng này. Từ năm 1985 đến 1989, Lữ đoàn đã vừa đảm bảo
tốt thông tin vừa xây dựng tuyến viba mới của nửa nước (Hà Nội – Đà Nẵng) làm vẻ
vang cho Binh chủng.
Tôi nhớ về Lữ đoàn 596 - đơn vị gắn với Hệ thống viễn thông
liên kết từ tháng 4 năm 1975 đến ngày 1 tháng 6 năm 1998, ngày ngừng hoạt động
tuyến viễn thông liên kết sau 23 năm quản lý khai thác hệ thống. Ngày 12 tháng
3 năm 1999, Lữ đoàn quyết định thanh lý khí tài viễn thông. Đồng chí Trần Xuân
Lăng đã viết bài "Những cánh buồm còn sót lại" in trong "Ký ức
Cựu chiến binh Thông tin" - Tập 1. Có thể coi năm cuối cùng của thế kỷ
XX cũng là năm chấm dứt sự hoạt động của Hệ thống viễn thông quân sự. Tôi xin
thêm mấy ý kiến sau câu này: "Có thể coi năm cuối cùng của thế kỷ thứ
XX cũng là năm chấm dứt sự hoạt động của Hệ thống viễn thông liên kết, thay bằng
thiết bị hiện đại hơn. Nhưng những cánh buồm còn để lại là những nhân chứng lịch
sử của hệ thống viễn thông - Lữ đoàn 596". Trong phòng truyền thống của
Lữ đoàn còn lưu lại những hình ảnh, hiện vật, những sáng kiến cải tiến kỹ thuật
trong quá trình chúng ta làm chủ hệ thống này. Riêng tôi có những sự việc đáng
nhớ sau:
* Khôi phục hoạt động của Trạm Viễn thông Núi Lớn (Vũng
Tàu) năm 1975.
Muốn liên lạc từ Sài Gòn đến tổng đài tự động Vũng Tàu
phải qua Trạm Viễn thông Núi Lớn (VT31). Đồng chí Trần Xuân Lăng đã kể lại
chính xác việc khôi phục hoạt động của Trạm Viễn thông này qua bài viết vừa nêu
trên. Tôi còn nhớ thêm, sau khi các hệ máy trong trạm hoạt động tốt nhưng vẫn
không liên lạc được với Trạm Viễn thông Phú Lâm (Sài Gòn). Phân đoạn kiểm tra,
cuối cùng nghi ngờ là ống dẫn sóng có sự cố. Đào đất để kiểm tra ống dẫn sóng
(đoạn chôn dưới đất) thì thấy rõ trong đoạn này bị đọng nước nên năng lượng bị
tiêu hao hết. Sự kiện này đã có tác dụng củng cố niềm tin trong việc khôi phục
hoạt động và quản lý khai thác Hệ thống viễn thông liên kết.
* Toàn Hệ thống viễn thông liên kết hoạt động phục vụ chiến
đấu ở Tây Nam năm 1978.
Đầu năm 1978, Trung đoàn chỉ khai thác đoạn tuyến từ Phú
Bài đến Sài Gòn bằng hệ viba, các trạm đầu cáp, các trạm viễn thông vùng miền
Tây Nam Bộ ở chế độ bảo quản. Cuối năm 1978, theo chỉ thị của Bộ, Trung đoàn đã
đảm bảo hệ thống đường trục hoạt động thông suốt từ Phú Bài đến các trạm viễn
thông miền Tây: Cần Thơ, Long Xuyên, Rạch Giá có vu hồi bằng tuyến cáp biển. Trung
đoàn đã khôi phục gần hai chục máy siêu tần số AN/TRC-24 và tổ chức một phân đội
AN/TRC-24 tiếp chuyển qua trạm trung gian chuyển tiếp Núi Ông, phát triển theo
đội hình của chiến dịch. Hệ thống viễn thông liên kết được kết nối với hệ siêu
tần số AN/TRC-24, vô tuyến điện tiếp sức P-401 bảo đảm tốt từ Bộ chỉ huy đến tất
cả các đơn vị chiến đấu trên toàn mặt trận.
Bên cạnh đó, Trung đoàn còn bảo đảm tốt thông tin liên
lạc trong nội bộ Sở chỉ huy với hàng trăm máy điện thoại lẻ. Trung đoàn đã đảm
bảo được tốt thông tin liên lạc đường trục; kết hợp với sự phát triển của các
phương tiện thông tin đường nhánh và thông tin liên lạc của Sở chỉ huy trong một
nhiệm vụ quân sự có tính chiến lược. Đây là thành tích thể hiện trình độ quản
lý khai thác Hệ thống viễn thông liên kết của cán bộ, chiến sĩ, nhân viên kỹ thuật
Trung đoàn sau 3 năm tiếp quản.
* Lắp đặt Trạm viễn thông VT25B thay thế Trạm VT25.
Tháng 2 năm 1985, Trung đoàn hoàn thành lắp đặt Trạm
VT25B ở vị trí mới để kết nối thuận tiện với Tổng đài Trung tâm A99. Trạm VT25
là một trạm viễn thông đầu cuối có hệ ghép kênh lớn và hệ kiểm liên âm tần cho gần
400 kênh liên lạc. Trạm VT25B đã thông tuyến trên tất cả các kênh liên lạc
trong đêm 6 tháng 2 năm 1985. Kỷ niệm sự việc này tác giả Thanh Tú (Võ Đình Cước)
đã có bài thơ "Đêm thông tuyến" tặng anh Liêm (nhân viên kỹ
thuật phần âm tần và điện báo truyền chữ: "Mức điện kiểm liên trên tuyến đạt
tuyệt vời". Việc lắp đặt chính xác, đồng bộ một trạm viễn thông lớn với nhiều
hướng, có dung lượng thông tin lớn, chứng tỏ trình độ làm chủ toàn diện kỹ thuật
Hệ thống viễn thông liên kết của cán bộ, chiến sĩ, nhân viên kỹ thuật Trung
đoàn. Tôi đã trình bày với Vụ 1 Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng việc Trung đoàn lắp
đặt VT25B để chứng minh thực tế khả năng xây dựng tuyến viba Hà Nội - Đà Nẵng của
Binh chủng Thông tin.
* Xây dựng tuyến viba Hà Nội - Đà Nẵng.
Việc hoàn thành xây dựng tuyến viba Hà Nội – Đà Nẵng
là một sự kiện có nhiều ý nghĩa với Binh chủng Thông tin và Lữ đoàn 596. Lịch sử
Binh chủng Thông tin có ghi: "Nó là công trình của ý chí, trách nhiệm kết
hợp với tinh thần tự chủ, dám nghĩ dám làm của Binh chủng Thông tin, mà nòng cốt
là Lữ đoàn 596. Đây là bước trưởng thành mới của Binh chủng và Lữ đoàn về trình
độ tổ chức, thiết kế, thi công, xây dựng và quản lý hệ thống thông tin".
Tôi nghĩ rằng Lữ đoàn 596 đã xây dựng một tuyến viba kỹ thuật analog để mở đầu
cho các tuyến viba số và cáp quang hiện đại.
Công việc xây dựng tuyến viba là một công việc có khối
lượng rất lớn và phức tạp, tháo gỡ máy từ các trạm lẻ đưa về Trung tâm kỹ thuật,
sửa chữa đảm bảo đúng chỉ tiêu, đồng bộ các khí tài của trạm tại Trung tâm kỹ
thuật, chuyên chở vận chuyển đến vị trí đặt trạm (khiêng vác máy, thiết bị lên
các trạm ở điểm cao), lắp đặt trạm, thông tuyến... Có nhiều chuyện đáng nhớ xin
để các đồng chí cán bộ, nhân viên kỹ thuật trực tiếp làm sẽ kể lại. Trong thời gian
tham gia Ban chỉ đạo bàn giao tuyến viễn thông, hàng ngày tôi đạp xe đạp từ nhà
đến Trạm VT40 làm việc. Lúc làm việc với đoàn của Tổng cục Bưu điện, lúc làm việc
với đồng chí Bùi Đình Tuyển chỉ huy Lữ đoàn 596. Các yêu cầu về nội dung kiểm
tra khi bàn giao thật chặt chẽ, tỉ mỉ: từ vỏ trạm, cột ăngten, hệ tiếp đất, từng
số liệu đo đạc đường truyền chung đến số liệu đo kiểm từng kênh thông tin (300
kênh)... Phương tiện đo kiểm phải đạt "tiêu chuẩn quốc gia". May mà hệ
khí tài đo kiểm của Lữ đoàn khá đủ và được đồng chí cán bộ đại diện Ủy ban khoa
học Nhà nước xác nhận là chuẩn. Tôi được đồng chí Tuyển và đội ngũ cán bộ, nhân
viên kỹ thuật trên tuyến giúp đỡ tận tình và chủ động đáp ứng yêu cầu của đơn vị
tiếp nhận. Việc đo kiểm bàn giao ở từng trạm (18 trạm) làm trong quá trình bảo
đảm thông tin liên lạc bình thường, không phải là việc làm có chuẩn bị trước,
theo ý của đồng chí Đặng Văn Thân - Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện. Kết quả
đo kiểm đã làm hài lòng đơn vị nhận bàn giao với 98,3% đạt chỉ tiêu về tuyến
truyền dẫn, vượt chỉ tiêu thiết kế 1,3% và 98% về kênh thông tin.
Đội ngũ cán bộ của Lữ đoàn trừ một số đã tốt nghiệp đại
học, còn đại bộ phận trưởng thành lên từ đội ngũ trung cấp kỹ thuật. Nhiều đồng
chí đã gắn bó với hệ thống viễn thông liên kết từ ngày tiếp quản. Với ý thức
trách nhiệm cao, các đồng chí đã trưởng thành lên từ những bài học thực tế
trong quản lý, chỉ huy, khai thác Hệ thống viễn thông liên kết, từ những yêu cầu
thực tế đặt ra trong quá trình công tác. Có lẽ chỉ có ở Lữ đoàn 596 mới có những
đồng chí cán bộ gắn bó với đơn vị 5 năm, 20 năm, có đồng chí cả tuổi thanh xuân
đã đi cùng Hệ thống viễn thông liên kết, không ít đồng chí làm việc ở Lữ đoàn
596 cho đến khi nghỉ hưu. Tôi cho rằng cán bộ công tác ở Lữ đoàn 596 - Hệ thống
viễn thông liên kết - đã thể hiện ý thức trách nhiệm cao, có ý chí phấn đấu nỗ
lực tự hoàn thiện mình về tư tưởng, về trình độ kỹ thuật, trình độ quản lý để
hoàn thành chức trách được giao.
Từ năm 1975 đến năm 1998, 23 năm quản lý khai thác Hệ
thống viễn thông liên kết, từng thế hệ cán bộ, chiến sĩ, nhân viên kỹ thuật đã
tô thắm thêm truyền thống Lữ đoàn bằng:
- 1 Lẵng hoa của Bác Tôn, Chủ tịch nước tặng năm 1976.
- 1 Huân chương Quân công hạng Ba (1980).
- 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất (1988).
- 1 Huân chương Lao động hạng Nhì (1990).
- 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì (1993).
Phòng Kỹ thuật Xưởng X10 được tặng thưởng 1 Huân chương
Chiến công hạng Ba.
Anh Đặng Anh Võ được tặng thưởng 1 Huân chương Lao động
hạng Ba.
Chúng ta tự hào với những thành tích đã đóng góp cho sự
phát triển và hoàn thành nhiệm vụ của Lữ đoàn.
Ở Lữ đoàn 596 - Hệ thống viễn thông liên kết – không thể
không nói đến các anh em công nhân viên quốc phòng, rải khắp các đài trên tuyến,
ở tất cả các ngành kỹ thuật viễn thông và tập trung nhất ở Phòng Kỹ thuật,
Trung tâm kỹ thuật. Các anh đã gắn bó với Trung đoàn, Lữ đoàn 596 từ những ngày
đầu Trung đoàn tiếp quản Hệ thống viễn thông liên kết (1975) cho đến sau khi ta
hoàn thành tuyến viba Hà Nội - Đà Nẵng (1989), có anh còn đi tiếp cho đến khi
ngừng hoạt động tuyến viễn thông liên kết. Các anh là lực lượng kỹ thuật nòng cốt
trong việc đảm bảo kỹ thuật khai thác tuyến, kéo dài tuổi thọ của tuyến viễn
thông liên kết; là lực lượng chủ công trong xây dựng tuyến viba Hà Nội - Đà Nẵng,
giữ cho tuyến có được những chỉ tiêu khai thác tối ưu. Trong những năm đầu mới thành
lập Lữ đoàn đã phải chịu đựng và khắc phục nhiều khó khăn vất vả trong cuộc sống,
những mặc cảm trong tâm tư. Nhưng với một ý chí và sự nỗ lực của bản thân, các
anh đã vượt được lên tất cả để khẳng định chính mình. Với các anh, thời gian
công tác ở Lữ đoàn là một giai đoạn có nhiều ý nghĩa trong cuộc sống, có những
cống hiến đáng để ghi nhớ, đáng để tự hào. Đồng chí Võ Đình Cước đã viết nên những
câu thơ tình cảm "Mãi mãi thương yêu nhau":
Các cao điểm của chiều dài đất nước
Ta đã lên và để lại niềm tin
Khiêng máy, dựng đài nối mạng thông tin
Vô tuyến, kiểm liên, tải ba, nguồn điện
Tiến sĩ, kỹ sư, thợ hàn (thợ ăngten), thợ lạnh
Quấn quýt bên nhau trong công việc hàng ngày.
Xin cho tôi kết thúc những dòng viết "Nhớ về Lữ đoàn
596 - Hệ thống viễn thông liên kết". Xin gửi tới tất cả các đồng chí cán bộ,
chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng đã cùng tôi công tác ở Lữ đoàn lời cảm ơn,
những tình cảm chân thành và những lời chúc tốt đẹp nhất.
Xin chúc các đồng chí cán bộ, chiến sĩ đang công tác tại
Lữ đoàn sức khỏe, hạnh phúc, thành đạt và viết tiếp những trang sử truyền thống
của Lữ đoàn.
Tháng 10-2006
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn
“Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)