31.5.25

Thông tin phục vụ chiến dịch Biên giới Tây Nam

Đại tá Đỗ Minh Đính - nguyên Chính ủy Trung đoàn 596

Từ Hà Nội, Tư lệnh Binh chủng Thông tin chỉ thị cho Trung đoàn 596 cử một cán bộ Trung đoàn cùng với cơ quan tham mưu đi khảo sát Núi Ông để chuẩn bị đặt các trạm thông tin. Hôm đó, đồng chí Trung đoàn trưởng đi vắng. Đồng chí Võ Tấn Đường - Trung đoàn phó, trực chỉ huy. Qua hội ý chớp nhoáng, tôi là Chính ủy Trung đoàn, cùng đồng chí Minh Đức, Trợ lý Tiếp sức của cơ quan tham mưu Bộ tư lệnh và anh em lên đường làm nhiệm vụ ngay. Về đường đi, không ai biết, nhưng theo bản đồ và dò hỏi nhân dân chúng tôi cũng đến được vị trí. Núi Ông là một cao điểm độ 200m so với mực nước biển. Ở đây, có căn cứ của Mỹ đã rút chạy trước năm 1975, giáp với Sở Cao su Dầu Tiếng. Qua một buổi nghiên cứu kỹ địa hình, chúng tôi đã lập báo cáo nhanh về Bộ tư lệnh. Tư lệnh Binh chủng quyết định triển khai ngay ở đây một cụm thông tin với các phương tiện thông tin của Quân khu 7 và Trung đoàn 596 để nối thông tin liên lạc với hướng Tây Nam.

Vậy là việc xây dựng các nhà đặt máy và dựng các cột ăngten được bắt đầu. Lần đầu tiên Binh chủng Thông tin sử dụng trực thăng để vận chuyển vật liệu xây dựng và khí tài từ Chơn Thành lên núi. Công việc này do bên không quân đảm nhiệm, còn thi công xây dựng thì Phòng Công trình do đồng chí Võ Trí phụ trách. Công trình được xây dựng với tinh thần "chạy đua với thời gian", nên chỉ trong một thời gian đã hoàn thành. Ngay lập tức, các máy móc thiết bị được lắp đặt, các cột ăngten sừng sững cũng được dựng, trong đó có Trạm thông tin AN/TRC-24 của Trung đoàn 596.

Tiếp đó, Tư lệnh Binh chủng chỉ thị cho Trung đoàn 596 phải tập trung nâng cao chất lượng các thiết bị kỹ thuật của mạng viễn thông nhằm tăng chất lượng phục vụ tốt nhất cho lãnh đạo chỉ huy chiến đấu. Tư lệnh giao thêm hai nhiệm vụ cụ thể:

Một là, tiếp nhận ngay Tiểu đoàn 1 thông tin cơ động của Bộ, tiến hành củng cố tổ chức, bổ sung đủ quân số chiến đấu và các phương tiện khí tài, đưa bộ đội vào trạng thái chiến đấu cao.

Hai là, tổ chức một phân đội AN/TRC-24 với đầy đủ quân số và xe máy, thường trực 24/24 giờ và có thể lên đường chiến đấu bất cứ lúc nào.

Đến lúc này, tuy cấp trên chưa phổ biến nhưng tôi và đồng chí Trung đoàn trưởng Trịnh Đình Chung hội ý và thấy cần phải triệu tập phiên họp bất thường của Đảng ủy nhằm quán triệt nhiệm vụ được giao và để chỉ huy Trung đoàn thông qua quyết tâm cũng như các biện pháp thực hiện. Qua thảo luận, Đảng ủy đã quyết nghị, nhất trí với quyết tâm cũng như các biện pháp của đồng chí Trung đoàn trưởng đã nêu ra. Đảng ủy nhấn mạnh: "Phải làm tốt công tác chính trị, tư tưởng, làm cho bộ đội quán triệt sâu sắc tình hình, nhiệm vụ mới, nêu cao ý chí chiến đấu, không sợ gian khổ, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng, bảo đảm thông tin liên lạc tốt nhất phục vụ cho lãnh đạo chỉ huy chiến đấu thắng lợi".

Khi mọi việc đã được chuẩn bị hoàn tất thì chiến dịch cũng bắt đầu. Lúc này, toàn Trung đoàn, từ Tiểu đoàn 10 ở Đà Nẵng, Tiểu đoàn 11 ở Quy Nhơn, Tiểu đoàn 12 ở Nha Trang, Tiểu đoàn 133 ở Thành phố Hồ Chí Minh, Tiểu đoàn 36 ở Cần Thơ đến Đại đội 16 ở Đà Lạt, Đại đội 17 ở Vũng Tàu đều mở máy 24/24 giờ và trực chiến đấu 100%. Các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật đều cử các đoàn cán bộ xuống kiểm tra, đôn đốc các đơn vị và trực chiến ngày đêm. Sở chỉ huy Trung đoàn thường xuyên nhận được báo cáo và xin ý kiến giải quyết những khó khăn nảy sinh và mọi việc được tháo gỡ nhanh chóng. Thời gian này, Trung đoàn đang có phong trào thi đua lập công được đẩy lên khá sôi nổi, nhờ vậy, tuy số phiên liên lạc tăng gấp đôi, tỷ lệ liên lạc thường xuyên đạt 99% trở lên.

Đối với các đơn vị được lệnh lên đường chiến đấu, không khí càng sôi động hơn. Tiểu đoàn 1 do đồng chí Trần Huỳnh - Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Tuynh – Chính trị viên, đồng chí Đệ - Tiểu đoàn phó, đồng chí Thuận - Chính trị viên phó, cùng phân đội thông tin AN/TRC-24 do đồng chí Lương Xuân Điệu - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 133 làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Sắc - Chính trị viên, đã làm lễ xuất quân, vừa phục vụ chiến đấu, khi đến địa phận Niếc Lương thì đơn vị AN/TRC-24 được lệnh dừng lại chiếm lĩnh một cao điểm trên núi đá, triển khai trạm, đặt máy, dựng ăngten, liên lạc qua cụm thông tin trung gian ở Núi Ông về chỉ huy sở cơ bản ở Tân Sơn Nhất. Còn toàn bộ Tiểu đoàn 1 theo đội hình chiến đấu tiến vào thủ đô Phnôm Pênh, triển khai mạng thông tin ở bên này cầu Mônivông. Sau đó di dời vào trung tâm thành phố, phân chia đóng quân trên một số ngôi nhà vắng chủ, triển khai mạng sóng ngắn liên lạc với tất cả các mặt trận 479, 579, 779, 979 và các đơn vị trực thuộc của Bộ, tỏa mạng hữu tuyến, phục vụ cơ quan tiền phương Bộ Quốc phòng và đoàn chuyên gia giúp bạn.

Riêng Đại đội thông tin tiếp sức 401M của Tiểu đoàn 1 thì triển khai một trạm tại Kông Pông Chàm, một trạm đặt tại ngôi chùa trên núi cao giữa tỉnh Kông Pông Thom, một trạm đặt tại Xêlêampê, một trạm đặt tại Ôămtức ở Kô Công để liên lạc với tiền phương Quân khu 9. Tiếp theo, Trung đoàn 596 triển khai thêm ba trạm thông tin AN/TRC-24, một trạm đặt tại Phnôm Pênh, một trạm đặt tại thị xã Prây Veng, một trạm đặt tại Xiêm Riệp để liên lạc với Mặt trận 479 sát với biên giới Thái Lan.

Quá trình diễn ra chiến dịch Tây Nam cũng đồng thời hình thành cơ quan tiền phương Bộ tư lệnh Thông tin. Do vậy, khi Tiểu đoàn 1 lên đường chiến đấu trên đất bạn cũng là lúc trở về trực thuộc và chịu sự lãnh đạo trực tiếp của tiền phương. Giai đoạn đầu do đồng chí Lương Sĩ Pháp - Tham mưu phó phụ trách quân sự, đồng chí Bùi Văn Toại - Phó Chủ nhiệm chính trị Bộ tư lệnh phụ trách công tác đảng, công tác chính trị. Đảng ủy tiền phương gồm 7 đồng chí do đồng chí Bùi Văn Toại làm Bí thư. Sau đó, các đồng chí lần lượt thay nhau đảm trách. Đồng chí Liên - Phó tư lệnh, đồng chí Chữ, đồng chí Hiệu - Phó Tham mưu trưởng, đồng chí Đỗ Minh Đính - Phó Chủ nhiệm chính trị, đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị, tiếp theo còn một số đồng chí khác. Do tình hình nhiệm vụ ngày càng nặng nề hơn, từ Tiểu đoàn 1 đã phát triển thành Trung đoàn 136 do đồng chí Lê Thành Xếp làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Hữu Chỉnh làm Chính ủy, Trịnh Bá Kể - Trung đoàn phó quân sự, Tống Văn Phú – Trung đoàn phó kỹ thuật..., cho đến khi quân tình nguyện Việt Nam rút về nước.

Tôi là cán bộ sang Cam-pu-chia từ những ngày đầu mới giải phóng. Khi tôi và đồng chí Thứ - Phó Tham mưu trưởng trung đoàn vào Phnôm Pênh khảo sát vị trí đặt trạm thông tin, cả thành phố đều vườn không nhà trống, không có một bóng người dân. Những dấu vết bọn Pôn Pốt lùa hết dân ra khỏi thành phố vẫn còn đó. Nhiều nhà chưa kịp đóng cửa, một bữa cơm đang ăn dang dở, bát đũa còn nguyên. Tôi cũng đã đến các tỉnh Xiêm Riệp, Kôngpông Chưnăng, Kông Pông Thom, Kôngpông Spư, Kông Pông Chàm, Prâyviêng, Kô Công và cảng Xihanúcvin, kể cả những nơi xa xôi, hẻo lánh để thăm hỏi, động viên chiến sĩ ta và kiểm tra thông tin. Do vậy, tôi rất hiểu sự hy sinh và những khó khăn, gian khổ mà bộ đội ta phải chịu đựng. Nhớ lại những ngày đầu tiên mới giải phóng, đi trên đất Cam-pu-chia như đi trên một miền đất chết, tất cả đều là con số không - không trường học, không bệnh viện, không chợ búa, không tiền bạc, không sách báo, không bưu điện thư từ, không tôn giáo... Đi đâu cũng gặp hố chôn người tập thể. Tất cả những người dân mà chúng tôi gặp gỡ, tiếp xúc đều mặc một loại vải đen bạc màu, rách rưới, thân hình gầy guộc, mặt mày phờ phạc, chỉ còn đôi mắt là ánh lên niềm phấn khởi và hy vọng vì họ mới thoát khỏi một thảm họa diệt chủng kinh hoàng.

Trước đây, bộ đội ta đã từng chiến đấu trên đất bạn Lào và Cam-pu-chia. Muốn tồn tại và chiến thắng, nhất thiết phải dựa vào dân. Nhưng giờ đây, do hậu quả của bọn Pôn Pốt để lại, đất nước Cam-pu-chia trở nên xơ xác tiêu điều. Mọi thứ, từ lương thực, thực phẩm, thuốc men, nhu yếu phẩm, vật tư, máy móc, xăng dầu đều phải tiếp tế từ bên nước ta sang, rất xa xôi, cách trở. Ngoài việc phải đối phó với sự quấy phá của bọn tàn quân, cán bộ, chiến sĩ ta còn phải chống chọi với mọi khó khăn đủ bề như: ăn uống thiếu thốn, ốm đau thiếu thuốc men, sách báo, phim ảnh không có, tình cảm thiếu thốn...

Một số trường hợp còn phải trả giá bằng máu, như ở trạm Ôlămtức (Kô Công), hai chiến sĩ ta đã hy sinh vì mìn của địch và một trạm trưởng AN/TRC-24 ở Xiêm Riệp bị thiệt mạng và sau đó một số anh em nữa vì nhiệm vụ mà tiếp tục hy sinh trên đất bạn.

Vì nghĩa vụ quốc tế cao cả, chúng ta tự hào đã góp phần giúp nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi thảm họa diệt chủng của Pôn Pốt - Iêng Xa-ri, đưa đất nước bạn vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc, ấm no và thịnh vượng.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Cuộc chiến đấu vẫn còn tiếp diễn

Đặng Minh Tri

- Báo cáo, Xưởng trưởng có điện thoại của Thủ trưởng Nhứt.

- A lô! Anh Nhứt hả. Em Tri đây.

- Này Tri, 11 giờ trưa nay, mình xuống làm việc chỉ riêng một mình cậu thôi.

- Anh có thể cho biết nội dung để em chuẩn bị.

- Không thể nói trên điện thoại. Vậy nhé!

Với sự nhạy cảm về các sự kiện chính trị mà đi đôi là các chiến dịch, tôi liên hệ ngay: bọn Pôn Pốt ngày càng gây tội ác trắng trợn với nhân dân Việt Nam và Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia. Vậy chắc chắn cuộc chiến đấu vẫn còn tiếp diễn để giúp nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi nạn diệt chủng.

Gặp tôi, anh Nhứt vào đề ngay nhưng có ý thăm dò: Nếu địch đánh phá Đài Viễn liên Nha Trang thì sao?

Tôi trả lời: Đài Nha Trang có bốn hướng liên lạc, phải xem mất hướng nào? Tốt nhất sử dụng đường vu hồi: Đà Lạt - Cam Ranh - Quy Nhơn.

Anh Nhứt lại tiếp: Tại sao Mỹ lại trang bị máy tiếp sức 24 đường cho các đài? Có thể thay thế cho viễn liên được không?

Với sự nhạy cảm trên, tôi chộp hỏi lại anh Nhứt: Có phải Bộ tư lệnh giao cho Lữ đoàn thiết lập trung tâm thông tin để phục vụ cho chiến dịch giải phóng Cam-pu-chia không?

Với sự trung thực sẵn có, anh Nhứt vặn lại: Tại sao cậu biết? Ai nói cho cậu biết?

Tôi cười đáp lại: Vậy là anh thú nhận rồi. Anh đừng giấu tôi vì tôi đã hai lần được cùng với anh Chánh thiết kế và Nhà máy M1 của anh đã lắp đặt trung tâm thông tin cho chiến dịch Mậu Thân và Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Như vậy là anh Nhứt và tôi nhanh chóng thống nhất dùng máy tiếp sức 24 đường AN/TRC-24 của Mỹ để lắp đặt lên 4 xe thành trung tâm thông tin cơ động có thể nối dài cự ly liên lạc theo yêu cầu của chiến dịch.

Anh Nhứt giao cho X10 tự thiết kế lắp đặt hoàn chỉnh 4 xe thông tin với 4 bộ thu phát cùng tải ba có thể chuyển tiếp được đặt trong thùng có máy lạnh đi kèm. Ngoài ra có 3 máy phát điện 5kW việc thiết kế lắp đặt trung tâm thông tin bằng máy tiếp sức 24 đường - là mơ ước lớn nhất, thỏa mãn nhất của một kỹ sư vô tuyến điện như tôi.

Thật vậy, trong kháng chiến chống Mỹ liên lạc bằng thoại chủ yếu dựa vào đường dây vừa khó cơ động vừa hạn chế đường truyền vừa khó bảo đảm thông tin liên lạc và gây khó khăn rất lớn cho chỉ huy, cho cả bộ đội thông tin. Chỉ riêng việc bảo vệ đường dây do địch đánh phá đã làm cho nhiều cán bộ, chiến sĩ hy sinh.

Dùng máy tiếp sức 24 đường đặt trên xe vừa có tính cơ động cao, vừa thỏa mãn yêu cầu thông tin cho chỉ huy và có thể kéo dài cự ly thông tin, theo yêu cầu của chiến dịch.

Trước mắt, X10 phải thực hiện 2 nhiệm vụ nặng nề cho chiến dịch:

1. Sửa chữa và nâng cao chất lượng toàn tuyến viễn liên từ Sài Gòn đi Phú Bài và Sài Gòn đi Phú Quốc - một cánh của chiến dịch.

2. Lắp đặt 3 xe thông tin cho chiến dịch.

Để thực hiện nhiệm vụ sửa chữa và nâng cao chất lượng toàn tuyến viễn liên, chúng tôi phải dốc toàn bộ lực lượng cán bộ kỹ thuật, thiết bị đo lường, vật tư để tổ chức thành 4 đoàn: 2 đoàn ra Bắc, 1 đoàn tại Sài Gòn và 1 đoàn đi vào Rạch Giá.

Tôi lần lượt ra Đà Nẵng và đi Phú Quốc sau cùng.

Từ Phú Quốc về tôi được anh Nhứt báo còn đúng một tháng phải giao 4 xe. Tuy vậy trước đó 10 ngày tôi đã điều đoàn đồng chí Cước - Trưởng xưởng viễn thông về trước để lo nhận máy và tổ chức sửa chữa.

Ngay buổi sáng về đến X10, tôi xuống ngay Xưởng viễn thông thì gặp hai anh Phúc và Thanh đang sửa máy AN/TRC-24 tại hành lang. Anh Phúc cho biết đã sửa được 1 bộ AN/TRC-24 để làm máy mẫu.

Tôi hỏi anh Phúc: Anh đã được học sửa chữa máy AN/TRC-24 chưa?

Anh Phúc cho biết: Trước khi chuyển qua viễn liên anh đã học sửa chữa máy AN/TRC-24 nhưng nay đã lâu quên nhiều. Tôi mừng vì có người biết sửa chữa máy AN/TRC-24 nhưng 20 ngày sửa chữa được 1 máy thì quá chậm, không có máy để lắp lên xe.

Tôi sang xưởng cơ điện gấp, thấy anh em đang tụ tập đánh tiến lên. Tôi gắt hỏi anh Trí xưởng trưởng: "Vì sao giờ này các đồng chí không sửa chữa máy phát điện?". Anh Trí chống chế: "Toàn là máy xăng lại là máy của Mỹ nên anh em không dám sửa, chờ anh Hậu đi Phú Quốc về".

Anh Hậu nói: "Anh em ta ai cũng học máy xăng của Liên Xô, Trung Quốc, máy Mỹ cũng vậy thôi, có làm mới biết ai dạy cho?"

Tôi sang phòng anh Lê Thành Tây, người có thâm niên cao nhất của Xưởng X10 có trình độ cơ khí 5/7. Tôi với anh Tây có 5 năm ở chiến trường Quân khu 5. Tôi xin anh Tây về để thành lập phân xưởng cơ khí nhưng anh Trí cứ lần lữa mãi không thành lập.

Tôi vào đề ngay: "Có việc mới cho anh đây và cũng vô cùng cấp bách, anh chịu trách nhiệm lắp đặt 4 xe thông tin. Mỗi xe có một thùng máy gồm 4 bộ AN/TRC-24, hai máy lạnh và phải có chỗ cho hai nhân viên trực. Theo xe có một rơ-moóc chở 3 máy phát điện 5kW. Thời gian hoàn thành chỉ trong một tháng. Việc trên giao cho anh chịu trách nhiệm".

Anh Tây đáp: "Còn có anh Trí kỹ sư cơ điện và anh em ở xưởng".

Tôi trả lời: "Chỉ một mình anh. Người phụ, phương tiện, vật tư do anh chọn và chỉ huy làm".

Anh ngần ngừ rồi nói thẳng: "Được, một mình tôi tự đo, tự vẽ, tự chỉ huy anh em làm. Khó ở chiếc đầu, chiếc sẽ dễ, còn chờ thiết kế, duyệt, bàn cãi, người khác chỉ huy sẽ không kịp".

Tôi đồng ý và góp ý thêm: "Các khung bắt chặt máy vào thùng phải có đệm cao su để chống sóc, chống rung. Khung cho máy lạnh giao cho phân xưởng lạnh làm luôn. Riêng ăngten được lắp đặt ngoài thùng xe để tháo, lắp cho nhanh. Anh Chơn sẽ bàn trực tiếp với anh. Ngay sáng nay anh vẽ sơ đồ bố trí máy lên hai thùng xe và chiếc rơ-moóc đặt trước nhà Ban chỉ huy để sáng sớm mai giao cho tôi".

Tôi quay về phân xưởng ăngten để gặp Chơn và nói:

- Chọn cho tôi 12 bộ ăngten AN/TRC-24 đầy đủ ăngten, mặt phản xạ, dây phiđơ dây níu cọc níu. Anh cùng với anh Tây nghiên cứu lắp đặt ăngten bên ngoài thùng máy sao cho lắp lên phải nhanh mà tháo cũng phải nhanh. Anh chịu trách nhiệm huấn luyện dựng ăngten thật nhanh và an toàn. Anh giúp anh Tây chạy dây điện, cáp, v.v… trong thùng xe sao cho an toàn và chống nhiễu tốt nhất là chạy dây trong ống sắt, nhớ làm cọc đất cho thùng máy.

Bố trí công việc tạm ổn nhưng biện pháp nào sửa chữa cho nhanh để đủ máy lắp đặt lên xe? Câu hỏi cứ lởn vởn trong đầu tôi. Trằn trọc đến nửa đêm tôi mới tìm ra giải pháp.

Sáng hôm sau, tôi triệu tập cấp ủy mở rộng đến cán bộ phụ trách hai xưởng, tổ kỹ thuật và anh Tây.

Tôi vào đề ngay: Nhiệm vụ sửa chữa nâng cao chất lượng toàn tuyến đã hoàn thành nhanh gọn và chất lượng.

Nhiệm vụ lắp đặt 4 xe thông tin bằng máy AN/TRC-24 chỉ còn một tháng nữa phải hoàn thành, nhưng hiện tại chỉ mới sửa chữa được một bộ AN/TRC-24 để làm máy mẫu, 10 ngày mà chữa được 1 bộ là quá chậm. Máy phát điện, máy lạnh chưa sửa chữa được bộ nào, như vậy khó có thể hoàn thành nhiệm vụ.

Anh Cước - Xưởng trưởng viễn thông chen ngang nói: Tụi tôi đã cố gắng hết khả năng, chúng ta không có nhân viên cho sửa chữa máy này, công việc nào anh giao cũng khó có thể vừa lòng anh.

Tôi bình tĩnh trả lời: Tôi chỉ đề cập trung thực tình hình thôi. Lúc này không phải là lúc đổ trách nhiệm cho nhau mà vấn đề chính là tìm giải pháp nào để có đủ máy lắp đặt lên xe.

Để khắc phục tình hình trên, tôi đề nghị các giải pháp sau:

- Trước mắt tạm dừng việc sửa chữa từng máy vì ta chưa đủ nhân viên sửa chữa mà có sửa chữa cũng không đủ máy cho việc lắp đặt lên xe.

Anh em nhìn tôi rì rầm trao đổi: Không sửa thì sao có máy lắp đặt lên xe.

Không tranh cãi, tôi nói tiếp: Riêng xưởng viễn thông, rút từng khối máy ra dùng chổi lông và giẻ lau vệ sinh cho sạch bụi và mốc, nếu mốc nhiều thì dùng axêtôn rửa sạch rồi tẩm lại bằng êbôxy. Rút tất cả các đèn điện tử ra rồi dùng máy thử đèn kiểm tra chỉ tiêu đèn, đèn nào đạt chỉ tiêu thì cắm vào, đèn nào không đạt chỉ tiêu thì loại bỏ. Sáng mai đem tất cả khối máy ra phơi nắng cho đến 10 - 11 giờ sau đó đem vào để nguội rồi mới cho vào thùng máy.

Xưởng cơ điện cũng vậy: Tháo phần nổ ra riêng xả nhớt cũ thay nhớt mới, dùng xăng, hoặc xăng công nghiệp rửa sạch như mới, phần điện cũng được phơi sấy vệ sinh hoặc tẩm êbôxy khi cần thay mỡ các ổ bi.

Tôi nhắc lại: vệ sinh như mới, các thùng máy cũng được sơn lại như mới.

Bây giờ mới đến công việc chính. Đó là lắp các khối vào và chỉ thực hiện công việc kiểm tra, điều chỉnh theo chỉ tiêu máy, công việc này có thể huấn luyện nhanh, đào tạo nhanh để có nhiều người làm. Tất nhiên phải chọn người có kinh nghiệm.

Khối nào không đạt thì bỏ ra sửa chữa sau, lắp khối khác vào tiếp tục kiểm tra và điều chỉnh để có khối tốt, máy tốt. Riêng máy phát điện phải qua thử tải đạt công suất 3,5kW trở lên.

Với cách làm trên chúng ta đưa vào số nhiều khối để chọn, lựa nhanh ra số khối tốt, máy tốt cần thiết cho việc lắp đặt lên xe. Việc làm trên cũng khắc phục thiếu nhân viên sửa chữa nhưng có thể đào tạo nhanh nhiều người biết kiểm tra và điều chỉnh. Việc vệ sinh như trên đã loại bỏ đèn hư, đèn kém chất lượng, loại bỏ ẩm mốc những nhân tố làm giảm chất lượng máy khó có thể phát hiện.

Giải pháp sửa chữa do tôi đưa ra đã được cấp ủy nhất trí biểu quyết. Cuộc họp còn chấp nhận làm thêm ngoài giờ từ 19 giờ đến 24 giờ và tổ chức việc ăn đêm cho anh em.

Tôi phân công tổ kỹ thuật thay mặt Ban chỉ huy đôn đốc, nắm tình hình sửa chữa để báo cáo giao ban mỗi buổi sáng, thu thập và hoàn chỉnh hồ sơ kỹ thuật máy và xe, chức bàn giao xe cho Lữ đoàn.

Lữ đoàn còn có yêu cầu X10 cung cấp 4 cán bộ kỹ thuật là đảng viên để làm trạm trưởng các đài.

Đến ngày thứ 36 thì chúng tôi bàn giao đủ 6 xe cho Lữ đoàn.

Từ lúc đầu bỡ ngỡ với nhiệm vụ và thiết bị, chúng tôi đã dám nghĩ, dám làm vượt qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ lắp đặt 6 xe thông tin để vừa là trung tâm thông tin, vừa có thể chuyển tiếp để kéo dài cự ly thông tin cho chiến dịch.

Ngày 1-4-2007

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

30.5.25

Những bước chuyển mình của Nhà máy Thông tin Điện tử Z755

Trung tá Quản Thị Bích Ngọc

Nhà máy Thông tin Điện tử Z755 (gọi tắt là Nhà máy Z755) thuộc Binh chủng Thông tin liên lạc đóng tại Thành phố Hồ Chí Minh, được tiếp quản ngay trong những ngày đầu mới giải phóng. Từ một cơ sở kỹ thuật phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn cung ứng vật tư kỹ thuật nước ngoài, sau hơn 30 năm phấn đấu xây dựng, đến nay Nhà máy đã phát triển toàn diện, với cơ sở vật chất kỹ thuật được đầu tư tương đối hiện đại. Đội ngũ cán bộ, công nhân viên có đủ phẩm chất và năng lực sửa chữa, sản xuất khí tài thông tin quân sự, trong đó có những khí tài thông tin công nghệ cao được trang bị trong quân đội. Năng lực sản xuất của Nhà máy được giữ vững và không ngừng phát triển. Giá trị sản lượng hàng hóa thực hiện tăng nhanh hàng năm. Những sản phẩm do Nhà máy sửa chữa, sản xuất đã thiết thực góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu và khả năng chiến đấu của quân đội.

Tại lễ đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba - phần thưởng cao quý do Nhà nước trao tặng nhân dịp kỷ niệm 30 năm Ngày Truyền thống (10/5/1975 – 10/5/2005), Nhà máy Z755 vinh dự được đón đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Như Khánh, Tư lệnh Binh chủng Thông tin về dự. Đồng chí Tư lệnh đã biểu dương thành tích của Nhà máy và nhấn mạnh: "Nhà máy Z755 đã có những bước đột  phá mới rất quan trọng trong tổ chức lực lượng và trong thực hiện nhiệm vụ chính trị trung tâm. Trong những năm đầu thế kỷ mới, Nhà máy năng động, sáng tạo trong sản xuất kinh doanh, hòa nhập vào nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Nội bộ đoàn kết thống nhất, ra sức khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ sửa chữa khí tài thông tin liên lạc và những trang bị kỹ thuật quân sự được giao, phục vụ đắc lực nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng của quân đội và nhiệm vụ quốc tế vẻ vang”.

Cán bộ, công nhân viên Nhà máy Z755 phấn khởi tự hào với sự đánh giá và nhận xét của đồng chí Tư lệnh, bởi trong những năm qua, cùng với các doanh nghiệp quốc phòng trong toàn quân thực hiện đường lối đổi mới đất nước, Nhà máy Z755 đã nỗ lực vượt lên những thử thách khắc nghiệt của giai đoạn chuyển đổi tổ chức lực lượng, đổi mới tư duy kinh tế.

Để giải quyết khó khăn về việc làm và thu nhập của người lao động, Đảng ủy - Ban Giám đốc Nhà máy đã động viên trí tuệ tập thể, phát huy nguồn lực, tìm kiếm mặt hàng tích cực nghiên cứu, cải tiến, hợp lý hóa sản xuất, hoàn thiện các quy trình công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm. Như máy thông tin sóng cực ngắn PRC-25 được cải tiến góp phần vào việc duy trì sử dụng một số lượng rất lớn loại máy này cho đảm bảo thông tin cấp chiến thuật trong quân đội. Hàng trăm bộ khí tài thông tin trên xe tăng được sửa chữa, lắp đặt đồng bộ cùng sản phẩm "mũ thông thoại" cho các chiến sĩ tăng thiết giáp và nhiều mặt hàng mang nhãn hiệu Z755 góp phần làm phong phú thêm sản phẩm phục vụ quốc phòng và quốc kế dân sinh. Đó là những sản phẩm như: máy tĩnh điện ION cải tiến, máy giảm đau, hộp cáp điện thoại, ăngten viba...

Vượt lên thử thách, trụ vững trong cơ chế thị trường Nhà máy bước vào giai đoạn phát triển mới, từng bước tạo được thế chủ động trong sản xuất kinh doanh. Nhiệm vụ sản xuất quốc phòng đặt ra những yêu cầu mới. Quá trình hiện đại hóa hệ thống thông tin và trang bị khí tài thông tin quân sự đòi hỏi Nhà máy phải tạo được những chuyển biến về chất, tiến nhanh trên con đường hiện đại hóa.

Từ năm 1996, Nhà máy được đầu tư chiều sâu, hệ thống nhà xưởng được quy hoạch nâng cấp; trang bị một số dây chuyền công nghệ và thiết bị mới như: máy đo, dây chuyền sơn tĩnh điện, máy phay CNC, máy ép nhựa...

Đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân được bồi dưỡng đào tạo lại và đi tham quan học tập kinh nghiệm các nhà máy sản xuất ở nước ngoài (Nga, Trung Quốc, Đài Loan, Xing-ga-po...) nhằm nâng cao trình độ kỹ thuật, quản lý tổ chức sản xuất của Nhà máy, từng bước đáp ứng yêu cầu "Công nghệ - Chính quy - An toàn - Chất lượng". Kết quả là đã có nhiều đề tài kỹ thuật cấp Bộ Quốc phòng và Binh chủng được ứng dụng và đưa vào sản xuất.

Cùng với việc hoàn thiện, nâng cao chất lượng sửa chữa những khí tài thông tin hệ 2, nâng cấp chất lượng máy P-158, cải tiến công nghệ bán dẫn máy PRC-25, nghiên cứu thành công đưa vào sản xuất 13 loại hộp mạch máy PRC-25 (A11, A12, A13, A14, A15, A17, A19, A21, A22, A23, A24, A25, A29) và những sản phẩm như máy ICOM, máy thông tin trên tàu săn ngầm cho Hải quân, các loại bo mạch điện tử, các loại ăngten tự đứng cao 12m đến 65m cho các ngành điện lực, viễn thông và bộ đội biên phòng, máy ép rơm, máy băm cỏ, máy tĩnh điện ION hẹn giờ, máy cân bằng ION, giá máy nổ, các sản phẩm cơ khí, sơn tĩnh điện... Những sản phẩm do Nhà máy Z755 chế tạo và sản xuất ngày càng được khách hàng tín nhiệm.

Máy ép rơm - một trong những sáng tạo kỹ thuật có ý nghĩa trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, nó ép rơm, cỏ rối thành các bánh vuông để xếp dỡ, vận chuyển dễ dàng tạo năng suất gấp nhiều lần, góp phần tận thu nguồn nguyên liệu rơm sau mùa thu hoạch của vùng lúa đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung và miền Đông Nam Bộ, dự trữ thức ăn cho trâu bò khi mùa nước nổi rất tốt, và như thế góp phần giảm chi phí rất nhiều cho các cơ sở chăn nuôi làm kinh tế.

Máy tĩnh điện ION - một sản phẩm truyền thống của Nhà máy duy trì và phát triển hơn 25 năm qua đã và đang được khách hàng tín nhiệm cao. Sản phẩm làm ra không đủ cung cấp cho nhà phân phối đưa đến tay người dân cần chăm sóc sức khỏe trong cả nước và đang mở rộng thị trường ra nước ngoài. Đã có hàng trăm lá thư từ khắp mọi miền Tổ quốc gửi về Nhà máy Z755 với những lời khen ngợi, góp ý về máy chữa bệnh tĩnh điện ION, những lời xúc động chân tình cảm ơn người lính thợ Nhà máy Z755 đã góp phần cải thiện sức khỏe cho nhiều người làm ra sản phẩm phấn khởi, tự tin xen chút tự hào. Tại Hội thi sáng tạo khoa học kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh năm 2004: Máy ép rơm đoạt giải Nhì; Máy chữa bệnh tĩnh điện ION đoạt giải Ba. Năm 2006 tại giải Tuổi trẻ sáng tạo Binh chủng Thông tin, sản phẩm Máy tĩnh điện ION cải tiến đã đoạt giải Nhì.

Máy ép rơm và Máy ION đã làm nên thương hiệu Nhà máy Thông tin Điện tử Z755, được khách hàng trong Nam, ngoài Bắc khen ngợi.

Nhờ thực hiện chủ trương của Đảng, của quân đội về xây dựng kinh tế, mức tăng trưởng trong sản xuất kinh doanh của Nhà máy Z755 năm sau luôn cao hơn năm trước. Nếu như năm 2003 tổng giá trị sản lượng hàng hoá đạt 24,6 tỷ đồng, trong đó hàng kinh tế đạt 17,3 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 68% thì năm 2004 tổng giá trị sản lượng hàng hoá là 27,6% tỷ đồng - hàng kinh tế 20,7 tỷ - chiếm tỷ trọng 75%. Đến năm 2005 giá trị sản lượng hàng hoá đạt 36,5 tỷ đồng - trong đó doanh thu hàng kinh tế là 29,6 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 81%. Năm 2006 tiếp tục tăng trưởng với doanh số đạt trên 50 tỷ đồng - tăng 35%, trong đó giá trị sản lượng hàng kinh tế cao hơn tổng giá trị sản lượng hàng hoá của cả năm 2005. Đó cũng là mức đạt cao nhất từ trước tới nay.

Nhà máy Z755 thực sự là một điểm sáng văn hoá của Binh chủng Thông tin liên lạc. Không chỉ sản xuất giỏi, quản lý tốt, Nhà máy Z755 còn là đơn vị xuất sắc trong thực hiện cuộc vận động xây dựng môi trường văn hoá tốt, phong phú, lành mạnh, là nơi nuôi dưỡng những tâm hồn trong sáng, nhân ái, bao dung.

Trong các cuộc vận động của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể và chính quyền địa phương, cán bộ, công nhân viên Nhà máy Z755 hưởng ứng tích cực bằng hành động thiết thực, hiệu quả như: phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, trợ cấp suốt đời Mẹ liệt sĩ, xây tặng Nhà tình nghĩa, xây tặng Nhà tình thương...

Trong 5 năm qua, Nhà máy đã đóng góp trên 300 triệu đồng để chi vào các hoạt động: trợ cấp gia đình liệt sĩ, 10 suất học bổng tặng cho trẻ em nghèo hiếu học F15, ủng hộ các quỹ xoá đói giảm nghèo, quỹ vì người nghèo, quỹ vì trẻ thơ, thăm hỏi giúp đỡ gia đình, cá nhân cán bộ, công nhân viên Nhà máy khó khăn, hoạn nạn. Giúp đỡ mọi mặt việc duy trì hoạt động Câu lạc bộ Truyền thống Nhà máy Z755 và Hội Cựu chiến binh Thông tin khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Hàng năm đến ngày truyền thống 10 tháng 5 và 9 tháng 9 các đồng chí từng công tác tại Nhà máy đã nghỉ hoặc chuyển công tác đến sinh hoạt với Câu lạc bộ rất phấn khởi.

Có được những thành tích, chiến công và sự trưởng thành, trước hết là do Nhà máy đã được Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng mà trực tiếp là Đảng ủy Tổng cục Kỹ thuật trước đây; là Đảng ủy Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc ngày nay, thường xuyên lãnh đạo, chỉ huy; tạo điều kiện thuận lợi về vật chất và tinh thần để Nhà máy thực hiện tốt nhiệm vụ tổ chức sửa chữa khí tài; sản xuất kinh doanh làm kinh tế có hiệu quả.

Những chiến công và bước trưởng thành của Nhà máy gắn liền với sự nỗ lực, phấn đấu của các thế hệ cán bộ công nhân viên đã chiến đấu, lao động không mệt mỏi, xây đắp nên những giá trị tinh thần, văn hoá, trở thành truyền thống tiêu biểu của Nhà máy Z755. Đó là tinh thần kiên định, vững vàng, vượt mọi khó khăn, làm chủ kỹ thuật, năng động, sáng tạo, dũng cảm chiến đấu, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Nhớ Trường Báo vụ

Nguyễn Tất Thắng

Ra trường hai vạn hạ sĩ quan

Sứ mệnh hoàn thành thật vẻ vang

Tám tấm huân chương ngời công trạng

Một thiên lịch sử thắm từng trang

Trường xưa phiên hiệu không còn nữa

Nghĩa cũ anh em vẫn vẹn toàn

Thiết thực giúp nhau trong cuộc sống

Lời thề thứ bẩy mãi ngân vang!

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)

29.5.25

Nhà máy tôi yêu (tặng Nhà máy Thông tin M3)

Lương Toán - nguyên Bí thư Đảng ủy Nhà máy M3

Ai lên Ba Vì Khoang Xanh

Thăm Nhà máy bên Xuân Khanh núi Đùm

Nhớ về một thời đạn bom

Bàn tay người thợ lấp san núi đồi

Tay súng tay máy không rời

Lúc xây dựng, lúc ngồi chòi phòng không

Người ra tiền tuyến lập công

Người ở lại đã gắng xong công trình...

Vui sao chim đậu đất lành

Khu sản xuất, khu gia đình khang trang

Đường vào Nhà máy thênh thang

Xưởng em, xưởng chị nhịp nhàng báo công

GK3 - GK12 vừa xong

A263 cùng vạn năng ra đời

Dây dã chiến, cáp nhiều đôi

TA57 cùng thời lên ngôi

Cáp quang có mặt khắp nơi

Đời sống người thợ đổi đời từ đây...

Bõ công trăn trở bao ngày

Chậm lương, chờ việc ta rày trách nhau...

Thực ra chẳng tại ai đâu

Tại trong bao cấp... cái đầu chưa ra

 

Từ ngày sản phẩm vươn xa

Nhà máy phát triển nhà nhà ấm êm

Chị em như trẻ đẹp thêm

Áo dài truyền thống mỏng mềm, thướt tha

Vải thiều, hồng xiêm thêm hoa

Đài phun nước vẫn tia xa cầu vồng

Dưới trên hiểu ý, thuận lòng

Trong dòng truyền thống cờ hồng vẫn bay

Bốn mươi năm mấy đổi thay

Em Ba (M3) đẹp trong vòng tay bạn bè...

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Lá cờ Bác trao

Đại tá Nguyễn Xuân Thái – nguyên Bí thư Đảng ủy Nhà máy M1

Vinh dự lớn đến với Nhà máy khi được Bác Hồ trao cờ thưởng luân lưu thêu 6 chữ vàng "Quyết tâm làm tròn nhiệm vụ" khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vừa kết thúc. Hơn nửa thế kỷ qua, các thế hệ cán bộ, đảng viên, công nhân viên của Nhà máy bằng tinh thần đoàn kết, hăng say lao động và sáng tạo, đã bền bỉ phấn đấu xây dựng Nhà máy trưởng thành, cùng với toàn quân, toàn dân ta hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng trong sự nghiệp đổi mới.

Tự hào với truyền thống của các thế hệ cha anh đã xây dựng nên, cán bộ, công nhân Nhà máy hôm nay đang bước vào thời kỳ hiện đại hoá hệ thống thông tin quân sự. Mang trong mình truyền thống "Quyết tâm làm tròn nhiệm vụ", đứng trước yêu cầu nhiệm vụ mới, tuy còn nhiều khó khăn thử thách, nhưng Đảng bộ và toàn Nhà máy luôn đồng sức, đồng lòng vươn lên đáp ứng nhiệm vụ trên giao, xứng đáng với niềm tin yêu, kỳ vọng của các thế hệ đi trước.

Có thể nói rằng, từ khi Nhà máy được thành lập cho đến nay, trong hoàn cảnh lịch sử rất khó khăn, nhưng những người thợ Nhà máy Thông tin đã cho ra đời những chiếc máy thông tin mà sản phẩm đó chính là sự kết tinh của tinh thần dám nghĩ, dám làm, tinh thần chủ động, sáng tạo, vươn lên làm chủ khoa học kỹ thuật. Dấu ấn của những chiếc máy mang tên SXA-1, SXA-2, Võ Thị Sáu, Giải Phóng... đến những chiếc máy: P-50, P-15 sau này như sợi chỉ đỏ xuyên suốt đánh dấu quá trình trưởng thành từ công nghệ đến trình độ tổ chức của Nhà máy.

Những năm vừa qua, đặc biệt là từ năm 2000 trở lại đây, bước vào giai đoạn phát triển mới, Nhà máy đã và đang được Bộ Quốc phòng, Bộ tư lệnh Thông tin giao thực hiện phương án lắp ráp các máy thông tin cấp chiến thuật, sản xuất các trang bị đồng bộ và tham gia dự án thông tin cơ động.

Vượt lên những thách thức trở ngại, cả Nhà máy khẩn trương bước vào công tác chuẩn bị, những lớp huấn luyện kỹ thuật cho cán bộ kỹ sư, cho công nhân được tổ chức, các đoàn đi nước bạn tiếp thu công nghệ được thành lập. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề bắt tay vào thiết kế, chế tạo các thiết bị công nghệ, cải tạo sắp xếp lại mặt bằng nhà xưởng. Trong một thời gian không dài một dây truyền lắp ráp khí tài mới được hình thành với các trang thiết bị lần đầu tiên được sử dụng theo chỉ tiêu công nghệ quân sự. Bên cạnh những thiết bị được đầu tư mua sắm như tủ thử nghiệm môi trường có chức năng kiểm tra khí tài trong môi trường nhiệt độ và độ ẩm khắc nghiệt, máy hàn dán áp mặt, máy đo lường có tính năng hiện đại... rồi những thiết bị tự tạo do chính đội ngũ cán bộ kỹ thuật và cán bộ, công nhân Nhà máy làm ra như lò luyện khí hậu nhiệt đới, sten chuyên dùng, thiết bị kiểm tra va đập, kín nước... đã góp phần đồng bộ trang bị cho yêu cầu kiểm tra đánh giá chất lượng khí tài. Quá trình làm việc khẩn trương, chủ động và nghiêm túc của toàn Nhà máy đã bảo đảm hoàn thành tốt mục tiêu của dự án, những sản phẩm máy thông tin mang nhãn hiệu M1 ra đời đến với các đơn vị toàn quân, kịp thời phục vụ cho nhiệm vụ huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu, góp phần bảo đảm thông tin liên lạc vững chắc trong mọi tình huống.

Nhớ lời Bác dặn "quyết tâm làm tròn nhiệm vụ", lớp cán bộ, công nhân Nhà máy hôm nay như đang thầm hứa với Người sẽ nỗ lực không ngừng, phát huy tính chủ động sáng tạo, đoàn kết khắc phục khó khăn, đưa Nhà máy ngày một trưởng thành, xứng đáng là một đơn vị luôn luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

28.5.25

Một quản đốc năng động

Đại tá Nguyễn Đức Hoạt - nguyên Giám đốc Nhà máy M1

Ngày 15 tháng 12 năm 1989 Bộ Quốc phòng quyết định chuyển Nhà máy M1 về khu vực An Khánh, với nhiệm vụ sửa chữa lớn, sản xuất các thiết bị thông tin và nguồn điện. Chân ướt chân ráo, chuyển từ Phú Thọ về cần nhanh chóng ổn định nơi ăn ở để triển khai nhiệm vụ kế hoạch trong năm của Bộ giao. Việc khó khăn nhất lúc bấy giờ là giải quyết công ăn việc làm cho trên 500 cán bộ, công nhân viên của hai nhà máy kết hợp lại với quân số định biên của Bộ chỉ đảm bảo công việc cho 300 công nhân, quân số dôi dư là 200 người, bằng nhiều biện pháp như: Những cán bộ, công nhân đủ niên hạn thì giải quyết chế độ, chuyển công tác theo nguyện vọng để dần dần đạt được quân số theo định biên. Trong lúc khó khăn, lãnh đạo, chỉ huy đang băn khoăn lo lắng giải quyết công ăn việc làm cho số người dôi dư thì đồng chí Nguyễn Tiến Dũng, một kỹ sư cơ khí tình nguyện nhận một số công nhân thành lập tổ kinh tế tự lo công việc và đời sống cho anh em. Lúc đầu chỉ có 8 người và xin Nhà máy sử dụng một số thiết bị thô sơ như máy cắt, máy hàn, máy khoan, bệ lò rèn... Tổ sẽ hạch toán độc lập, tự lo lương và trả khấu hao thiết bị cho Nhà máy.

Với ý nghĩ này, tư duy lúc bấy giờ chưa được mọi người đồng tình ủng hộ, trong cơ chế bao cấp, chỉ muốn tập trung một đầu mối. Tổ kinh tế phải dưới sự quản lý tập trung của Phòng Kế hoạch Nhà máy điều hành. Bước đầu trình độ khả năng quản lý có hạn nên gặp nhiều khó khăn, kém hiệu quả, không thực hiện được. Thấy trước vấn đề đó, Giám đốc đồng tình ủng hộ thành lập tổ kinh tế trực thuộc Giám đốc giao cho đồng chí Nguyễn Tiến Dũng chỉ huy, điều hành. Với một ý nghĩ đơn giản là: hoạt động của tổ kinh tế phải đạt được 3 lợi ích, có doanh thu và đưa lại lợi nhuận cho Nhà máy; tổ phải phát triển lớn mạnh; công nhân cán bộ phải có thu nhập, cuộc sống ổn định. Cùng với hai kỹ sư là đồng chí Cao Sơn và đồng chí Phan Anh, người tổ trưởng năng động Nguyễn Tiến Dũng đã lo tìm việc làm cho anh em, có thu nhập, dần dần từ tổ kinh tế tự lo lương, quân số tăng lên 20 rồi 30 công nhân, doanh thu năm 1992 đạt 400 triệu đồng, rồi 500, 1 tỷ, rồi 1,5 tỷ đồng, năm 2000 doanh thu đạt đến 4 tỷ đồng. Từ tổ kinh tế nay đã phát triển thành phân xưởng.

Trong thời kỳ đổi mới, phân xưởng đã có tới trên 50 cán bộ, công nhân với ban quản lý gọn nhẹ làm việc có khoa học và hiệu suất cao. Phân xưởng chuyên nhận các công trình lớn như xây lắp các cột ăngten viba, tháp truyền hình, cột ăngten điện thoại di động cho Viettel trên khắp mọi miền Tổ quốc, từ đồng bằng đến núi cao, vùng sâu, vùng núi non hiểm trở, hải đảo và vượt xa sang cả nước bạn Lào.

Tay nghề công nhân ngày càng được nâng cao, sản phẩm đạt chất lượng ISO-2000, có sản phẩm ngang tầm quốc tế. Có tín nhiệm với nhiều bạn hàng, doanh thu đạt hàng chục tỷ đồng, chiếm 50% doanh thu hàng kinh tế của Nhà máy. Điều quan trọng là đã thu hút thêm nhiều lực lượng trẻ và cán bộ kỹ thuật có trình độ công nghệ cao, đã gây một phong trào làm kinh tế cải thiện đời sống ở các phân xưởng trong Nhà máy. Phân xưởng đã mở ra mối quan hệ đối ngoại rộng khắp, công nghệ mới được áp dụng, góp phần đáp ứng cho việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng.

Được như ngày nay phải nói đến công sức và lòng nhiệt tình của đồng chí Quản đốc Nguyễn Tiến Dũng và Phó Quản đốc Phan Anh, những con người sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, vì Nhà máy, vì đồng đội.

Thật đáng khâm phục. Điều ấn tượng sâu sắc, tâm đắc của người chỉ huy lãnh đạo, tôi không bao giờ quên.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Xưởng Sản xuất Máy thông tin vô tuyến điện

Vũ Văn Xuân

Một trong hai công trình chào mừng 61 năm ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, 60 năm ngày Quốc khánh mùng 2 tháng 9 được Bộ Quốc phòng gắn biển, đó là công trình "Xưởng Sản xuất máy thông tin vô tuyến điện" của Nhà máy Thông tin M1, là niềm tự hào của cán bộ, công nhân viên Nhà máy trong thời kỳ đổi mới. Việc hoàn thành xuất sắc một công trình có ý nghĩa chiến lược đã một lần nữa khẳng định truyền thống "Quyết tâm làm tròn nhiệm vụ" mà Bác Hồ kính yêu đã tuyên dương Nhà máy.

Nhân kỷ niệm 60 năm thành lập Nhà máy, là một người có tham gia thiết kế, lắp đặt công trình, tôi xin tóm tắt kể lại cố gắng nỗ lực của bộ phận cán bộ, công nhân viên Phòng Kỹ thuật và Phân xưởng Cơ khí chế tạo. Để đảm bảo kịp thời tiến độ chung của công trình, trong điều kiện thiếu thốn kinh phí, nhiều hạng mục công trình lẽ ra phải nhập ngoại thì nay nhà máy tự thiết kế và chế tạo. Những hạng mục này thật ra là vượt quá khả năng của Nhà máy về trình độ công nghệ và thiết kế, bởi Nhà máy M1 là nhà máy sửa chữa sản xuất khí tài thông tin liên lạc chứ không phải là nhà máy cơ khí. Thế nhưng trong một thời gian ngắn, nhiều trang thiết bị được chế tạo và lắp đặt ở đây. Ví dụ: thiết bị bàn quay, thiết bị nâng hàng, tủ luyện máy, hệ thống chiếu sáng, hệ thống khí nén... Được sự lãnh đạo sâu sát tỉ mỉ của Đảng ủy, Ban Giám đốc, nên Phòng Kỹ thuật đã không kể ngày đêm vừa thiết kế, vừa thông qua thiết kế, vừa chế tạo, lắp đặt. Có thể nói trong những ngày này, tại Nhà máy lúc nào cũng tấp nập như một công trường. Ngay từ lúc được giao nhiệm vụ, anh chị em Phòng Kỹ thuật xác định quyết tâm ai vào việc đó. Những phương án thiết kế lần lượt được đưa ra để đồng chí Giám đốc duyệt và góp ý kiến. Sau nhiều lần chọn lọc và điều chỉnh, cuối cùng các phương án tối ưu được chọn. Cần nhấn mạnh rằng đây là khâu quyết định bởi thời gian rất ngắn, chỉ trong vòng 6 tháng, vừa thiết kế vừa thi công, nên nếu một thiết kế công trình hạng mục nào sai đều có thể dẫn đến chậm tiến độ của toàn bộ công trình, ảnh hưởng đến Nhà máy và thiệt hại về kinh tế. Người xưa có câu: "cái khó bó cái khôn". Nhưng tại Nhà máy M1 từ trước đến nay, mỗi khi gặp cái khó thì cái khôn lại xuất hiện. Giai đoạn này cũng vậy, trong khi kinh phí ít ỏi, thời gian bị khống chế cũng ít ỏi, song vì có tinh thần tập cao nên trong thiết kế mỗi kỹ sư, trung cấp, công nhân đều tham gia sôi nổi. Có lúc sự tranh luận diễn ra khá gay gắt, nhưng cuối cùng đều chọn được phương án thống nhất. Ví dụ khi chọn phương án thiết kế thang nâng hàng nên chọn phương án nâng buồng thang bằng tời kéo một chiều hay dùng đối trọng hai chiều? Đồng chí Thảo - Phó phòng đã trăn trở và cùng nhân viên của mình đi thị sát thực tế thị trường và các đơn vị bạn để thu thập các thông tin kỹ thuật và khả năng cung cấp vật tư.

Cuối cùng một phương án phù hợp được lựa chọn, đó là phương án đối trọng hai chiều. Với phương án này tiết kiệm cho kinh phí thiết kế chế tạo thang nâng hàng được giảm đi 4 lần mà chất lượng lại được cấp trên và chuyên gia khen ngợi. Với công trình "bàn quay" là một trang bị khó đòi hỏi kỹ thuật cao. Đó là băng chuyền chạy trên mặt nghiêng 20 độ và phải cua gấp với bán kính đường ray nhỏ hơn 200 ly. Băng chuyền lại phải chạy với vận tốc phù hợp với các loại bảng mạch khác nhau. Các bảng mạch phải được tháo lắp vào băng chuyền một cách dễ dàng. Bàn quay có chiều dài tới 12m, rộng 2,5m nên phải thiết kế thành từng mô-đun để có thể tháo rời vận chuyển, lắp đặt trên tầng 2. Thật là khó, vì kinh phí hạn hẹp, giá chào hàng của thiết bị này gần 500 triệu mà Nhà máy cho phép chỉ chi dưới 100 triệu. Nhưng do chọn phương án thiết kế đúng và sự nỗ lực phấn đấu khắc phục khó khăn của anh em cán bộ, công nhân nên công trình bàn quay đã hoàn thành. Nghĩ lại thật tự hào, bởi quá trình chế tạo thiết bị này có quá nhiều gay go, có lúc tưởng như thất bại, khi thì xích tải không thẳng do quá dài lại phải kéo 12 xe vận chuyển bảng mạch nên có xu hướng gồng lên tuột khỏi nhông xích. Có lúc do phải cua gấp nên các bánh xe tuột khỏi đường ray. Một số người đã có ý nản lòng, nhưng rồi tất cả các nguyên nhân đã được tìm ra. Đó là do việc chế tạo bằng thủ công thiếu độ chính xác. Lúc này tập thể cán bộ, công nhân lại chụm đầu bàn bạc tìm biện pháp khắc phục, gia công, lắp đặt, chạy thử, cứ như vậy và trước một ngày công trình đã hoàn thành đúng hẹn. Phương án chọn đã đúng, tinh thần quyết tâm của anh em lại càng cao, nên đã thành công mỹ mãn. Lại nói đến thiết bị tủ luyện, một công trình không kém phần quan trọng cũng đã được tổ chức thiết kế thi công trong một thời gian ngắn, không khí ở đây cũng sôi động. Đồng chí Đỗ Thị Thoa, trung cấp cơ khí được giao đảm nhận công trình này. Được sự hỗ trợ của anh chị em trong phòng và công nhân Phân xưởng Cơ khí nên công trình đã kịp thời hoàn thành với giá trị kinh tế hàng trăm triệu đồng. Ngoài ra các hệ thống khí nén, hút độc, hệ thống chiếu sáng, chống sét trong thời gian này cũng được cán bộ, công nhân phòng kỹ thuật thiết kế và chỉ đạo thi công nhịp nhàng, hoàn hảo. Tất cả mọi người đều thể hiện tính tự lực, tự cường rất cao, họ đã phát huy truyền thống anh hùng, tinh thần quyết tâm góp phần cùng Nhà máy hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Công trình đã được gắn biển "Công trình chào mừng 60 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam".

Từ sau công trình này, Nhà máy một lần nữa tự khẳng định mình bởi ngoài đảm bảo nhiệm vụ sửa chữa trang thiết bị thông tin, từ nay Nhà máy còn có khả năng thiết kế chế tạo và lắp đặt trang bị công nghệ mới, chuẩn bị cho thời kỳ phát triển rực rỡ của Nhà máy và vai trò của cơ khí trong Nhà máy Vô tuyến điện là không thể thiếu.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

27.5.25

Nhớ về Lữ đoàn 596

Đại tá Phạm Duy Tín - nguyên Phó Tham mưu trưởng Binh chủng Thông tin liên lạc

Hình như số phận đã buộc tôi gắn với Hệ thống viễn thông liên kết và Lữ đoàn 596, Từ cuối tháng 3 năm 1975, đang làm Trợ lý Tham mưu Thông tin giúp đóng chí Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Binh chủng Thông tin Phạm Kim Bạo theo dõi, tổ chức hệ thống thông tin của Bộ Tổng Tham mưu bảo đảm chỉ huy chiến đấu của các cánh quân phía Nam chuẩn bị cho chiến dịch giải phóng Sài Gòn, tôi đã được nghiên cứu các tài liệu chuẩn bị tiếp quản Hệ thống viễn thông liên kết.

Trưa ngày 1 tháng 5 năm 1975, trong đoàn tiếp quản của đồng chí Trịnh Đình Chung, tôi đã có mặt ở Bộ Tổng Tham mưu quân ngụy và đi tiếp quản hệ thống thông tin Vũng Tàu. Tháng 7 năm 1975, tôi đi Pleiku và Buôn Ma Thuột tiếp nhận Trung đoàn 596 (thuộc Đoàn 559) rồi công tác ở Trung đoàn đến hết năm 1978. Sau đó, tôi được điều về Bộ tư lệnh Binh chủng, làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 139 rồi phụ trách Phòng Huấn luyện chiến đấu Bộ Tham mưu Binh chủng. Những tưởng hết duyên nợ với 596, nhưng đầu năm 1984 tôi đang phụ trách Phòng Kế hoạch Bộ Tham mưu Binh chủng đúng lúc Hội đồng Bộ trưởng quyết định: Công trình viễn thông xây dựng mới từ Hà Nội vào Đà Nẵng bằng khí tài của Hệ thống viễn thông liên kết do Bộ Quốc phòng lập Luận chứng kinh tế kỹ thuật - có Tổng cục Bưu điện tham gia, Nhà nước sẽ phê duyệt và xem xét vốn đầu tư trong năm 1984-1985.

Tháng 7 năm 1984, Bộ Quốc phòng chính thức giao nhiệm vụ cho Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc làm chủ đầu tư công trình viba Hà Nội - Đà Nẵng ký hiệu VTH2-84. Tiếp đó, Binh chủng quyết định thành lập Ban quản lý công trình viễn thông do đồng chí Ngô Đức Thọ - Phó tư lệnh Kỹ thuật làm Trưởng ban, tôi làm Phó Trưởng ban (sau này đồng chí Nguyễn Hữu Đăng lên làm Trưởng ban thay đồng chí Ngô Đức Thọ). Ban quản lý công trình viễn thông trực thuộc Tư lệnh có con dấu riêng, chi bộ riêng. Đầu năm 1985, Luận chứng kinh tế kỹ thuật được phê duyệt. Tôi hoàn thành nhiệm vụ. Ngày 19 tháng 4 năm 1985, Bộ Quốc phòng quyết định chuyển Trung đoàn Thông tin viễn thông 596 thành Lữ đoàn 596 có nhiệm vụ quản lý khai thác tuyến viễn thông hiện hành và xây dựng tuyến viễn thông Hà Nội - Đà Nẵng. Tôi lại được điều về làm Lữ đoàn trưởng. Sau khi xây dựng xong đoạn tuyến viba Hà Nội - Vinh và đoạn Đà Nẵng - Huế, từ Lữ đoàn 596 tôi được điều về phụ trách cơ quan Đại diện Bộ tư lệnh tại Tân Sơn Nhất từ tháng 8 năm 1988. Nhưng chưa hết duyên nợ với Hệ thống viễn thông liên kết. Tháng 11 năm 1988, Hội đồng Bộ trưởng quyết định chuyển giao tuyến viba Hà Nội - Đà Nẵng từ Bộ Quốc phòng sang Tổng cục Bưu điện quản lý và thông tuyến vào năm 1989, Bộ tư lệnh thành lập Ban chỉ đạo bàn giao tuyến, tôi lại được chỉ định tham gia Ban chỉ đạo bàn giao tuyến. Cuối năm 1990, làm xong nhiệm vụ này tôi được nghỉ hưu.

Như vậy, trong 15 năm từ năm 1975 cho đến những năm cuối cùng của tôi ở quân ngũ, công việc của tôi gắn liền với Hệ thống viễn thông liên kết, với Lữ đoàn 596.

Những năm công tác ở Lữ đoàn 596, Hệ thống viễn thông liên kết đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm sâu sắc. Tôi xin kể lại:

1. Lập Luận chứng kinh tế kỹ thuật tuyến viba Hà Nội - Đà Nẵng.

Ban quản lý công trình viễn thông có tôi làm Phó Trưởng ban trực tiếp điều hành công việc, đồng chí Nguyễn Thế Đảo, đồng chí Nguyễn Tiến Mỹ, đồng chí Hồ Đắc Thuyên, đồng chí Đỗ Văn Mạo. Đồng chí Lê Văn Lục từ Ban Tài vụ Nhà máy M1 về phụ trách tài chính, đồng chí Phạm Văn Bính ở Phòng Quân lực về phụ trách quân số, đồng chí Đỗ Văn An từ Trường Trung cấp Kỹ thuật về làm công tác cán bộ... Ban đầu, chúng tôi rất bỡ ngỡ với việc lập Luận chứng kinh tế kỹ thuật. Tuy có một văn bản của Tổng cục Bưu điện nhưng chỉ để tham khảo. Chúng tôi phải tìm đọc nhiều nghị định của Nhà nước về những vấn đề có liên quan về xây dựng, về quy hoạch về quan hệ bên A, bên B... Đồng chí Thuyên, đồng chí Mỹ, đồng chí Mạo phụ trách phần luận chứng kỹ thuật; đồng chí Lục phần kinh tế, tôi và đồng chí Đảo phụ trách những vấn đề chung và tổng hợp.

Để thông qua được luận chứng, tôi phải chạy rất nhiều cơ quan, quan hệ với Vụ 1 - một vụ có nhiệm vụ giải quyết các mối quan hệ kinh tế - quốc phòng. Với Vụ 1 Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng, tôi phải giải thích về khả năng khí tài và kỹ thuật của Binh chủng xây dựng tuyến viba; làm việc với Ủy ban Kế hoạch Nhà nước để xin ngân sách, vật tư, xăng dầu, điện lực, đất đai dựng trạm...; làm việc với Vụ 1 Bộ Tài chính, làm việc với Đài Phát thanh và Truyền hình...; ở Bộ Tổng Tham mưu phải làm việc với Cục Quân lực về quân số và trang bị. Vì có liên quan đến làm kinh tế tôi đến làm việc với Ban Kinh tế Bộ Quốc phòng. Sau khi thông qua Luận chứng kinh tế kỹ thuật ở Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Quốc phòng giao cho Thiếu tướng Vũ Xuân Chiêm chỉ đạo công trình này. Tôi đã hai lần đi họp với Ủy ban Hợp tác liên Chính phủ Việt Nam và Cu Ba do đồng chí Vũ Đình Liệu - Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng làm Chủ tịch Ủy ban để đưa việc xây dựng công trình viễn thông này vào chương trình công tác của hai chính phủ tạo thuận lợi cho sau này. Khoản kinh phí ngoại tệ 1 triệu USD để mua linh kiện vật tư điện tử Bộ Quốc phòng đề nghị Hội đồng Bộ trưởng xét điều chỉnh.

Để hoàn chỉnh và lập chính xác Luận chứng kinh tế kỹ thuật, chúng tôi đã nhiều lần rà soát lại các số liệu về đường truyền sóng giữa các trạm, đi thực tế cùng các đồng chí Phòng Kỹ thuật Trung đoàn 596 xem xét thực trạng từng đầu máy tại Trạm Viễn thông. Chúng tôi đã đóng hòm một máy FRC-109 gửi cho Bộ Bưu điện Cu Ba để các bạn cải tiến, thực tế chứng minh dung lượng truyền dẫn như báo cáo trong Luận chứng. Cùng Luận chứng kinh tế kỹ thuật được hoàn thành và gửi đến hàng chục cơ quan có liên quan, đồng chí Nguyễn Thế Đảo đã có nhiều công sức để hoàn thiện nội dung và hình thức của Luận chứng. Luận chứng được đóng thành tập với hàng loạt bản vẽ, bìa cứng, bọc vải, in chữ vàng. Đầu năm 1985, thông qua với nội dung văn bản quyết định của Hội đồng Bộ trưởng phù hợp với ý kiến của Binh chủng, tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ lập Luận chứng kinh tế kỹ thuật - một thành công ban đầu của việc xây dựng tuyến viba Hà Nội - Đà Nẵng với sự nỗ lực của tập thể Ban Quản lý công trình viễn thông.

2. Các nước bạn với Hệ thống viễn thông liên kết - Bộ Bưu điện Cu Ba.

Sau khi ta tiếp quản Hệ thống viễn thông liên kết, một hệ thống thông tin vào loại hiện đại ở Đông Nam Á, các nước bạn cũng rất quan tâm. Hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa đều có đoàn đến tham quan, mỗi đoàn có từ 2 đến 4 người. Liên Xô có 3 đoàn và mỗi đoàn có đến hàng chục người. Đoàn quân đội Bun-ga-ri khá đông do một trung tướng dẫn đầu. Nhiều đoàn hỏi đến hệ thống bảo mật thông tin và máy mật. Đoàn Tiệp Khắc quan tâm nhiều đến hệ thống máy thông tin cấp chiến thuật. Đoàn Hung-ga-ri đến 2 lần; đoàn thứ hai do đồng chí Cục trưởng Cục Thông tin quân đội Hung-ga-ri dẫn đầu. Bạn quan tâm nhiều đến máy FRC-109. Sau này tôi được biết ở Cu Ba các trạm truyền dẫn tín hiệu từ đài vệ tinh mặt đất về Trung tâm La Habana đều dùng máy viba của Hung-ga-ri. Đoàn Cộng hoà Dân chủ Đức yêu cầu ta cho mở hộp đậy ăngten FRC-109 để quan sát bên trong. Chúng ta rất thẳng thắn và cụ thể trong việc giới thiệu hệ thống; mong các bạn, nhất là Liên Xô sang giúp ta trong công tác nghiên cứu kỹ thuật. Ở đài Phú Lâm ta có lắp vào máy FRC-109 một klystron có đặc tính tương đương klystron VE của Mỹ và thiết bị này đã hoạt động bình thường. Trong việc xin viện trợ ta cũng có xin loại klystron này nhưng không được đáp ứng.

Từ năm 1983, đoàn Bộ Bưu điện Cu Ba đã sang khảo sát tuyến viba Hà Nội - Đà Nẵng, nghiên cứu khí tài của Hệ thống viễn thông liên kết để giúp ta xây dựng tuyến viba này với chính khí tài của Hệ thống viễn thông liên kết. Giúp ta xây dựng tuyến viba Hà Nội - Đà Nẵng, các đồng chí Bộ Bưu điện Cu Ba đã coi như nhiệm vụ của chính mình. Ở Việt Nam, đồng chí Ga-tô, đồng chí Li-la được coi như đại diện của Bộ Bưu điện Cu Ba. Nhiều chuyên gia của từng ngành kỹ thuật đã sang giúp ta. Một tổ chuyên gia tính toán lại số liệu đường truyền sóng, các địa điểm đặt trạm. Các đồng chí đã mang máy từ Cu Ba sang đo thử trực tiếp trên hai đoạn tuyến Hà Nội - Cầu Giẽ và Cầu Giẽ - Nam Định để khẳng định chất lượng truyền sóng của toàn tuyến. Một tổ kỹ thuật về máy viba có các đồng chí An-be-to, Ca-si-mi-ro, Hê-ra-dô và nữ đồng chí Đây-si làm máy đo. Các đồng chí đã cải tiến 16 bộ máy FRC-109 để truyền dẫn được 300 kênh thoại, 1 kênh truyền hình, sau này thêm 1 kênh truyền thanh. Các đồng chí cho đấu các máy đã khôi phục và sửa chữa, cải tiến thành 7 trạm tượng trưng từ Hà Nội - Vinh với các bộ suy hao giả định lượng tiêu hao trên đường truyền dẫn và cho phát truyền hình từ trạm đầu đến trạm cuối, đo chỉnh các chỉ tiêu. Kiến trúc vỏ trạm là một nữ đồng chí đã thiết kế nhà Trạm viễn thông Hàm Rồng rồi về nước. Một tổ làm cột cao, cột ăngten do đồng chí Phê-rê phụ trách với một số nhân viên kỹ thuật lắp đặt cột cao. Phụ trách chung là đồng chí Béc-na-đi-ô và công trình sư Xoa-vê-đra. Việc mua linh kiện điện tử cho Hệ thống viễn thông liên kết đối với ta là rất khó khăn, nhưng các bạn Cu Ba bằng các mối liên kết thương mại của mình đã giải quyết được. Một klystron cho FRC-109 năm 1986 có giá là gần 1.000 USD Mỹ. Kinh phí ngoại tệ dự tính 1 triệu USD cũng lấy ở số tiền mà Cu Ba bán hộ tem cho Tổng cục Bưu điện Việt Nam. Thực chất là ta vay tiền của bạn rồi trả dần bằng tiền bạn bán tem cho ta.

Lữ đoàn cũng tạo cho bạn điều kiện làm việc và sinh hoạt thoải mái. Về trạm, xưởng kỹ thuật, đồng chí Hà Thị Tố Nga và Tiểu đoàn 2 kỹ thuật rất sáng tạo, chuyển Trạm Sửa chữa viễn thông Long Bình về Trạm Viba Tân Sơn Nhất và thiết bị lại thành một trung tâm kỹ thuật hoàn chỉnh, đồng bộ để sửa chữa và khôi phục các khí tài viễn thông. Cạnh Trung tâm Kỹ thuật là Trung tâm Quy chuẩn và Sửa chữa máy đo. Công tác tại các trung tâm kỹ thuật này cùng các chuyên gia Cu Ba là những nhân viên kỹ thuật hàng đầu của Hệ thống viễn thông liên kết. Chính ở Trung tâm kỹ thuật này, cán bộ, nhân viên kỹ thuật của Lữ đoàn đã sửa chữa, khôi phục, đồng chỉnh cho hàng chục loại khí tài của một trạm viễn thông. Lần lượt 7 trạm viễn thông từ Hà Nội - Vinh được hồi phục. Các đồng chí Cu Ba đánh giá rất cao tổ hợp kỹ thuật này, nhất là các cán bộ và nhân viên kỹ thuật công tác tại trạm. Riêng tôi cho rằng với việc tổ chức tổ hợp kỹ thuật viễn thông, Lữ đoàn đã làm cho các chuyên gia ngay từ bước đầu tin tưởng ở chúng ta.

Đoạn tuyến Hà Nội - Vinh hoàn thành tháng 12 năm 1986 phục vụ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI. Trong thời gian phục vụ Đại hội, các đồng chí Cu Ba cũng chia ra ở từng trạm cùng các cán bộ, nhân viên kỹ thuật Lữ đoàn bám sát kỹ thuật liên tục 24/24.

Đoạn tuyến viba Vinh - Đà Nẵng được xây dựng năm 1988 sang đầu năm 1989. Máy viba dùng trong đoạn tuyến này trước đây định dùng máy Rel-2600 công suất 10W cải tiến nay bạn đã thiết kế một loại máy khác, với tính năng kỹ thuật bảo đảm dung lượng thông tin của toàn tuyến với tên gọi VC-300. Các đồng chí cán bộ kỹ thuật của ta như: Hồ Đắc Thuyên, Nguyễn Tất Hiển, Nguyễn Tiến Mỹ... đã sang Cu Ba cùng lắp ráp máy với bạn.

Đầu năm 1988, các đồng chí Cu Ba còn đưa tổ chuyên viên cáp biển sang để nghiên cứu, khôi phục tuyến cáp biển nhưng không đủ khả năng.

Các bạn Cu Ba cho rằng hoàn thành tuyến viba Hà Nội - Đà Nẵng là một thành công điển hình của sự hợp tác hai nước Cu Ba và Việt Nam. Đối với chúng ta các bạn đã để lại trong chúng ta những ấn tượng rất sâu sắc. Làm việc với các bạn Cu Ba, cán bộ, nhân viên kỹ thuật của ta được học hỏi và hiểu biết thêm về kỹ thuật viba hiện đại, mở rộng kiến thức để phát triển sau này.

3. Lữ đoàn 596 - Hệ thống viễn thông liên kết.

Lữ đoàn 596 có những đặc điểm riêng mà không đơn vị nào trong Binh chủng có. Lữ đoàn 596 bảo đảm đường trục thông tin trong nửa nước, đồng thời bảo đảm cả thông tin trong khu vực cho nhiều quân binh chủng ở Đà Nẵng, Nha Trang, Thành phố Hồ Chí Minh. Lữ đoàn phải tự đảm bảo vật tư khí tài, tự đảm bảo kỹ thuật cho Hệ thống viễn thông liên kết. Hàng năm, Lữ đoàn phải huấn luyện chiến sĩ khai thác cho nhiều ngành kỹ thuật: viba, tải ba, kiểm liên, nguồn điện, tổng đài tự động. Lữ đoàn có một lực lượng công nhân viên kỹ thuật rất đặc biệt đã là sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ của chế độ cũ. Lữ đoàn đã phát huy được tốt khả năng kỹ thuật của lực lượng này. Từ năm 1985 đến 1989, Lữ đoàn đã vừa đảm bảo tốt thông tin vừa xây dựng tuyến viba mới của nửa nước (Hà Nội – Đà Nẵng) làm vẻ vang cho Binh chủng.

Tôi nhớ về Lữ đoàn 596 - đơn vị gắn với Hệ thống viễn thông liên kết từ tháng 4 năm 1975 đến ngày 1 tháng 6 năm 1998, ngày ngừng hoạt động tuyến viễn thông liên kết sau 23 năm quản lý khai thác hệ thống. Ngày 12 tháng 3 năm 1999, Lữ đoàn quyết định thanh lý khí tài viễn thông. Đồng chí Trần Xuân Lăng đã viết bài "Những cánh buồm còn sót lại" in trong "Ký ức Cựu chiến binh Thông tin" - Tập 1. Có thể coi năm cuối cùng của thế kỷ XX cũng là năm chấm dứt sự hoạt động của Hệ thống viễn thông quân sự. Tôi xin thêm mấy ý kiến sau câu này: "Có thể coi năm cuối cùng của thế kỷ thứ XX cũng là năm chấm dứt sự hoạt động của Hệ thống viễn thông liên kết, thay bằng thiết bị hiện đại hơn. Nhưng những cánh buồm còn để lại là những nhân chứng lịch sử của hệ thống viễn thông - Lữ đoàn 596". Trong phòng truyền thống của Lữ đoàn còn lưu lại những hình ảnh, hiện vật, những sáng kiến cải tiến kỹ thuật trong quá trình chúng ta làm chủ hệ thống này. Riêng tôi có những sự việc đáng nhớ sau:

* Khôi phục hoạt động của Trạm Viễn thông Núi Lớn (Vũng Tàu) năm 1975.

Muốn liên lạc từ Sài Gòn đến tổng đài tự động Vũng Tàu phải qua Trạm Viễn thông Núi Lớn (VT31). Đồng chí Trần Xuân Lăng đã kể lại chính xác việc khôi phục hoạt động của Trạm Viễn thông này qua bài viết vừa nêu trên. Tôi còn nhớ thêm, sau khi các hệ máy trong trạm hoạt động tốt nhưng vẫn không liên lạc được với Trạm Viễn thông Phú Lâm (Sài Gòn). Phân đoạn kiểm tra, cuối cùng nghi ngờ là ống dẫn sóng có sự cố. Đào đất để kiểm tra ống dẫn sóng (đoạn chôn dưới đất) thì thấy rõ trong đoạn này bị đọng nước nên năng lượng bị tiêu hao hết. Sự kiện này đã có tác dụng củng cố niềm tin trong việc khôi phục hoạt động và quản lý khai thác Hệ thống viễn thông liên kết.

* Toàn Hệ thống viễn thông liên kết hoạt động phục vụ chiến đấu ở Tây Nam năm 1978.

Đầu năm 1978, Trung đoàn chỉ khai thác đoạn tuyến từ Phú Bài đến Sài Gòn bằng hệ viba, các trạm đầu cáp, các trạm viễn thông vùng miền Tây Nam Bộ ở chế độ bảo quản. Cuối năm 1978, theo chỉ thị của Bộ, Trung đoàn đã đảm bảo hệ thống đường trục hoạt động thông suốt từ Phú Bài đến các trạm viễn thông miền Tây: Cần Thơ, Long Xuyên, Rạch Giá có vu hồi bằng tuyến cáp biển. Trung đoàn đã khôi phục gần hai chục máy siêu tần số AN/TRC-24 và tổ chức một phân đội AN/TRC-24 tiếp chuyển qua trạm trung gian chuyển tiếp Núi Ông, phát triển theo đội hình của chiến dịch. Hệ thống viễn thông liên kết được kết nối với hệ siêu tần số AN/TRC-24, vô tuyến điện tiếp sức P-401 bảo đảm tốt từ Bộ chỉ huy đến tất cả các đơn vị chiến đấu trên toàn mặt trận.

Bên cạnh đó, Trung đoàn còn bảo đảm tốt thông tin liên lạc trong nội bộ Sở chỉ huy với hàng trăm máy điện thoại lẻ. Trung đoàn đã đảm bảo được tốt thông tin liên lạc đường trục; kết hợp với sự phát triển của các phương tiện thông tin đường nhánh và thông tin liên lạc của Sở chỉ huy trong một nhiệm vụ quân sự có tính chiến lược. Đây là thành tích thể hiện trình độ quản lý khai thác Hệ thống viễn thông liên kết của cán bộ, chiến sĩ, nhân viên kỹ thuật Trung đoàn sau 3 năm tiếp quản.

* Lắp đặt Trạm viễn thông VT25B thay thế Trạm VT25.

Tháng 2 năm 1985, Trung đoàn hoàn thành lắp đặt Trạm VT25B ở vị trí mới để kết nối thuận tiện với Tổng đài Trung tâm A99. Trạm VT25 là một trạm viễn thông đầu cuối có hệ ghép kênh lớn và hệ kiểm liên âm tần cho gần 400 kênh liên lạc. Trạm VT25B đã thông tuyến trên tất cả các kênh liên lạc trong đêm 6 tháng 2 năm 1985. Kỷ niệm sự việc này tác giả Thanh Tú (Võ Đình Cước) đã có bài thơ "Đêm thông tuyến" tặng anh Liêm (nhân viên kỹ thuật phần âm tần và điện báo truyền chữ: "Mức điện kiểm liên trên tuyến đạt tuyệt vời". Việc lắp đặt chính xác, đồng bộ một trạm viễn thông lớn với nhiều hướng, có dung lượng thông tin lớn, chứng tỏ trình độ làm chủ toàn diện kỹ thuật Hệ thống viễn thông liên kết của cán bộ, chiến sĩ, nhân viên kỹ thuật Trung đoàn. Tôi đã trình bày với Vụ 1 Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng việc Trung đoàn lắp đặt VT25B để chứng minh thực tế khả năng xây dựng tuyến viba Hà Nội - Đà Nẵng của Binh chủng Thông tin.

* Xây dựng tuyến viba Hà Nội - Đà Nẵng.

Việc hoàn thành xây dựng tuyến viba Hà Nội – Đà Nẵng là một sự kiện có nhiều ý nghĩa với Binh chủng Thông tin và Lữ đoàn 596. Lịch sử Binh chủng Thông tin có ghi: "Nó là công trình của ý chí, trách nhiệm kết hợp với tinh thần tự chủ, dám nghĩ dám làm của Binh chủng Thông tin, mà nòng cốt là Lữ đoàn 596. Đây là bước trưởng thành mới của Binh chủng và Lữ đoàn về trình độ tổ chức, thiết kế, thi công, xây dựng và quản lý hệ thống thông tin". Tôi nghĩ rằng Lữ đoàn 596 đã xây dựng một tuyến viba kỹ thuật analog để mở đầu cho các tuyến viba số và cáp quang hiện đại.

Công việc xây dựng tuyến viba là một công việc có khối lượng rất lớn và phức tạp, tháo gỡ máy từ các trạm lẻ đưa về Trung tâm kỹ thuật, sửa chữa đảm bảo đúng chỉ tiêu, đồng bộ các khí tài của trạm tại Trung tâm kỹ thuật, chuyên chở vận chuyển đến vị trí đặt trạm (khiêng vác máy, thiết bị lên các trạm ở điểm cao), lắp đặt trạm, thông tuyến... Có nhiều chuyện đáng nhớ xin để các đồng chí cán bộ, nhân viên kỹ thuật trực tiếp làm sẽ kể lại. Trong thời gian tham gia Ban chỉ đạo bàn giao tuyến viễn thông, hàng ngày tôi đạp xe đạp từ nhà đến Trạm VT40 làm việc. Lúc làm việc với đoàn của Tổng cục Bưu điện, lúc làm việc với đồng chí Bùi Đình Tuyển chỉ huy Lữ đoàn 596. Các yêu cầu về nội dung kiểm tra khi bàn giao thật chặt chẽ, tỉ mỉ: từ vỏ trạm, cột ăngten, hệ tiếp đất, từng số liệu đo đạc đường truyền chung đến số liệu đo kiểm từng kênh thông tin (300 kênh)... Phương tiện đo kiểm phải đạt "tiêu chuẩn quốc gia". May mà hệ khí tài đo kiểm của Lữ đoàn khá đủ và được đồng chí cán bộ đại diện Ủy ban khoa học Nhà nước xác nhận là chuẩn. Tôi được đồng chí Tuyển và đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật trên tuyến giúp đỡ tận tình và chủ động đáp ứng yêu cầu của đơn vị tiếp nhận. Việc đo kiểm bàn giao ở từng trạm (18 trạm) làm trong quá trình bảo đảm thông tin liên lạc bình thường, không phải là việc làm có chuẩn bị trước, theo ý của đồng chí Đặng Văn Thân - Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện. Kết quả đo kiểm đã làm hài lòng đơn vị nhận bàn giao với 98,3% đạt chỉ tiêu về tuyến truyền dẫn, vượt chỉ tiêu thiết kế 1,3% và 98% về kênh thông tin.

Đội ngũ cán bộ của Lữ đoàn trừ một số đã tốt nghiệp đại học, còn đại bộ phận trưởng thành lên từ đội ngũ trung cấp kỹ thuật. Nhiều đồng chí đã gắn bó với hệ thống viễn thông liên kết từ ngày tiếp quản. Với ý thức trách nhiệm cao, các đồng chí đã trưởng thành lên từ những bài học thực tế trong quản lý, chỉ huy, khai thác Hệ thống viễn thông liên kết, từ những yêu cầu thực tế đặt ra trong quá trình công tác. Có lẽ chỉ có ở Lữ đoàn 596 mới có những đồng chí cán bộ gắn bó với đơn vị 5 năm, 20 năm, có đồng chí cả tuổi thanh xuân đã đi cùng Hệ thống viễn thông liên kết, không ít đồng chí làm việc ở Lữ đoàn 596 cho đến khi nghỉ hưu. Tôi cho rằng cán bộ công tác ở Lữ đoàn 596 - Hệ thống viễn thông liên kết - đã thể hiện ý thức trách nhiệm cao, có ý chí phấn đấu nỗ lực tự hoàn thiện mình về tư tưởng, về trình độ kỹ thuật, trình độ quản lý để hoàn thành chức trách được giao.

Từ năm 1975 đến năm 1998, 23 năm quản lý khai thác Hệ thống viễn thông liên kết, từng thế hệ cán bộ, chiến sĩ, nhân viên kỹ thuật đã tô thắm thêm truyền thống Lữ đoàn bằng:

- 1 Lẵng hoa của Bác Tôn, Chủ tịch nước tặng năm 1976.

- 1 Huân chương Quân công hạng Ba (1980).

- 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất (1988).

- 1 Huân chương Lao động hạng Nhì (1990).

- 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì (1993).

Phòng Kỹ thuật Xưởng X10 được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Ba.

Anh Đặng Anh Võ được tặng thưởng 1 Huân chương Lao động hạng Ba.

Chúng ta tự hào với những thành tích đã đóng góp cho sự phát triển và hoàn thành nhiệm vụ của Lữ đoàn.

Ở Lữ đoàn 596 - Hệ thống viễn thông liên kết – không thể không nói đến các anh em công nhân viên quốc phòng, rải khắp các đài trên tuyến, ở tất cả các ngành kỹ thuật viễn thông và tập trung nhất ở Phòng Kỹ thuật, Trung tâm kỹ thuật. Các anh đã gắn bó với Trung đoàn, Lữ đoàn 596 từ những ngày đầu Trung đoàn tiếp quản Hệ thống viễn thông liên kết (1975) cho đến sau khi ta hoàn thành tuyến viba Hà Nội - Đà Nẵng (1989), có anh còn đi tiếp cho đến khi ngừng hoạt động tuyến viễn thông liên kết. Các anh là lực lượng kỹ thuật nòng cốt trong việc đảm bảo kỹ thuật khai thác tuyến, kéo dài tuổi thọ của tuyến viễn thông liên kết; là lực lượng chủ công trong xây dựng tuyến viba Hà Nội - Đà Nẵng, giữ cho tuyến có được những chỉ tiêu khai thác tối ưu. Trong những năm đầu mới thành lập Lữ đoàn đã phải chịu đựng và khắc phục nhiều khó khăn vất vả trong cuộc sống, những mặc cảm trong tâm tư. Nhưng với một ý chí và sự nỗ lực của bản thân, các anh đã vượt được lên tất cả để khẳng định chính mình. Với các anh, thời gian công tác ở Lữ đoàn là một giai đoạn có nhiều ý nghĩa trong cuộc sống, có những cống hiến đáng để ghi nhớ, đáng để tự hào. Đồng chí Võ Đình Cước đã viết nên những câu thơ tình cảm "Mãi mãi thương yêu nhau":

Các cao điểm của chiều dài đất nước

Ta đã lên và để lại niềm tin

Khiêng máy, dựng đài nối mạng thông tin

Vô tuyến, kiểm liên, tải ba, nguồn điện

Tiến sĩ, kỹ sư, thợ hàn (thợ ăngten), thợ lạnh

Quấn quýt bên nhau trong công việc hàng ngày.

Xin cho tôi kết thúc những dòng viết "Nhớ về Lữ đoàn 596 - Hệ thống viễn thông liên kết". Xin gửi tới tất cả các đồng chí cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng đã cùng tôi công tác ở Lữ đoàn lời cảm ơn, những tình cảm chân thành và những lời chúc tốt đẹp nhất.

Xin chúc các đồng chí cán bộ, chiến sĩ đang công tác tại Lữ đoàn sức khỏe, hạnh phúc, thành đạt và viết tiếp những trang sử truyền thống của Lữ đoàn.

Tháng 10-2006

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

Mã vùng 069 và những tổng đài kỹ thuật số quân sự đầu tiên

Trung tướng Nguyễn Chiến - nguyên Tư lệnh Binh chủng Thông tin liên lạc

Mạng thông tin kỹ thuật số quân sự đã được Binh chủng Thông tin liên lạc đưa vào khai thác, sử dụng 20 năm nay. Nhớ lại những ngày đầu tiên tổ chức, triển khai thực hiện kế hoạch số hoá mạng thông tin quân sự đã để lại trong tôi những kỷ niệm sâu sắc, nhất là mỗi lần cầm tổ hợp ấn mã vùng 069.

Những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, khi nguồn viện trợ quân sự của Liên Xô cũ cho quân đội ta không còn, các cơ sở đào tạo đội ngũ cán bộ thông tin quân sự cho Việt Nam tại Liên Xô tạm dừng. Đây cũng là thời điểm đầu của công cuộc đổi mới đất nước, thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Song ở thời điểm này, Hoa Kỳ vẫn duy trì cấm vận kinh tế đối với nước ta. Vì vậy, việc mua sắm trang thiết bị khí tài thông tin quân sự gặp rất nhiều khó khăn. Trong khi đó khoa học công nghệ, nhất là lĩnh vực viễn thông bước đầu phát triển mạnh, với chiến lược tăng tốc đi thẳng vào kỹ thuật hiện đại - kỹ thuật số.

Từ tình hình chung của đất nước và quân đội, đối với thông tin quân sự vẫn phải duy trì và thực hiện phương châm: cải tiến, giữ tốt dùng bền các trang bị hiện có (thế hệ kỹ thuật tương tự - analog) và từng bước hiện đại trang bị khi điều kiện đầu tư cho phép. Những năm đó, mỗi năm Binh chủng chỉ được dành từ 5 đến 7% ngân sách cho toàn ngành vào việc đầu tư mua sắm trang bị kỹ thuật thông tin; thật quá ít so với yêu cầu đổi mới trang bị. Trong khi nhiệm vụ bảo đảm thông tin đặt ra đối với Binh chủng rất lớn; vừa phải bảo đảm thông tin phục vụ lãnh đạo, chỉ huy thường xuyên từ Bộ Tổng Tham mưu và Bộ Quốc phòng đến các đơn vị thông tin toàn quân, vừa phải thực hiện những nhiệm vụ đột xuất (kế hoạch A, A2, A3...) trong điều kiện chất lượng hệ thống hạn chế, khí tài lạc hậu, không đồng bộ, nhiều chủng loại.

Trong kế hoạch công tác năm 1992, tập thể Đảng ủy và Thủ trưởng Bộ tư lệnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành phát huy năng lực, tính chủ động, sáng tạo của lực lượng thông tin trực thuộc và toàn quân; tạo được sự nhất trí cao trong quá trình tổ chức thực hiện. Tận dụng các điều kiện thuận lợi, từng bước khắc phục khó khăn để xây dựng Binh chủng và hệ thống thông tin quân sự ngày càng phát triển toàn diện.

Tôi còn nhớ, vào một ngày đầu xuân năm 1992, tôi được thay mặt lãnh đạo, chỉ huy Binh chủng, trực tiếp báo cáo đồng chí Bộ trưởng Đoàn Khuê và cơ quan Bộ Tổng Tham mưu - Bộ Quốc phòng về quyết tâm bảo đảm thông tin liên lạc của Binh chủng Thông tin; trong đó có kế hoạch đổi mới trang thiết bị, từng bước tiến hành hiện đại hóa hệ thống thông tin quân sự. Được đồng chí Bộ trưởng và các cơ quan Bộ Quốc phòng nhất trí, đánh giá cao quyết tâm của Binh chủng và chỉ đạo các cơ quan Bộ Tổng Tham mưu - Bộ Quốc phòng tăng cường đầu tư cho Binh chủng Thông tin để thực hiện kế hoạch, cùng Binh chủng xin ngân sách Nhà nước.

Đầu xuôi thì đuôi lọt, tôi nghĩ thế, nhưng trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ cũng không hề đơn giản, nhất là trong việc mua sắm trang bị mới. Làm thế nào để chọn được loại trang bị hiện đại đáp ứng yêu cầu quân sự vừa bảo đảm trước mắt, vừa đáp ứng nhiệm vụ phát triển của hệ thống lâu dài. Trong điều kiện nước ta còn nghèo, đầu tư cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng còn hạn chế; không thể ngay một lúc có thể thay thế một thế hệ khí tài thông tin quân sự được (kể cả những nước có tiềm lực cũng khó vì trang bị khí tài quân sự rất đắt).

Tại thời điểm này, lãnh đạo, chỉ huy Binh chủng đã xác định: Tập trung đổi mới hệ thống thông tin cố định, cơ động, bảo đảm thông tin liên lạc cho Bộ Tổng Tham mưu Bộ Quốc phòng chỉ huy các cấp chiến lược, chiến dịch và khả năng sẵn sàng chiến đấu cho các đơn vị làm nhiệm vụ A2, A3. Đi ngay vào kỹ thuật tiên tiến (kỹ thuật số); tranh thủ nguồn đầu tư của Bộ Quốc phòng và của Nhà nước. Phát huy tối đa hệ thống thông tin Nhà nước phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, xây dựng mạng thông tin quân sự độc lập tương đối phù hợp với nhiệm vụ được giao trong thời bình và sẵn sàng bảo đảm khi có chiến tranh xảy ra.

Nhiều vấn đề được đặt ra trong tổ chức thực hiện phải tính toán thật kỹ, chọn loại khí tài, công nghệ gì, đối tác nào để đầu tư cho hệ thống thông tin cố định hay thông tin cơ động cho phù hợp và mức độ đầu tư như thế nào trong lúc kinh nghiệm của chúng ta còn hạn chế, đội ngũ cán bộ kỹ thuật sâu về chuyên ngành chưa nhiều.

Đề án cải tạo, nâng cấp, hiện đại hoá trang thiết bị thông tin quân sự đã được Bộ Quốc phòng phê duyệt. Với hệ thống thông tin cố định, Binh chủng tập trung triển khai 3 tổng đài kỹ thuật số trung tâm đầu tiên tại 3 khu vực: miền Bắc (Sở chỉ huy thường xuyên Bộ Tổng Tham mưu Bộ Quốc phòng thành Hoàng Diệu), miền Nam (Sở chỉ huy Bộ Quốc phòng Tân Sơn Nhất), miền Trung (Đà Nẵng). Chọn hãng Alcatel của Pháp và hãng Siemens của Đức là 2 đối tác có công nghệ tiên tiến phù hợp với sự phát triển chung của mạng lưới thông tin quốc gia, nhiệm vụ thông tin quân sự trước mắt cũng như lâu dài.

Tại Hà Nội, Binh chủng chọn tổng đài kỹ thuật số đầu tiên của hãng Alcatel (Pháp). Việc đặt tổng đài ở đâu cũng cần phải cân nhắc vì lúc đó A40 đặt ở ngoài Thành - xa sở chỉ huy thường xuyên của Bộ Tổng Tham mưu Bộ Quốc phòng. Nhưng nếu lắp đặt tại khu A (trong Thành Hoàng Diệu), thời gian đầu do chuyên gia kỹ thuật của hãng Alcatel lắp đặt nên cũng có một số cơ quan Bộ Quốc phòng phân vân... Tuy Bộ Tổng Tham mưu nhất trí về vị trí lắp đặt, nhưng trong buổi làm việc, Trung tướng Nguyễn Thế Bôn - Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam phụ trách nội bộ Thành có nói: các đồng chí phải tính kỹ nhé, có thể sau 10 năm nữa là phải di chuyển đấy (năm 2003, Sở chỉ huy Bộ Tổng Tham mưu Bộ Quốc phòng đã di chuyển sang khu vực hiện nay). Binh chủng đã chọn vị trí lắp đặt tổng đài kỹ thuật số tại khu làm việc của Tiểu đoàn 75 thuộc Lữ đoàn 205 hiện nay trong khu A (Sở chỉ huy thường xuyên Bộ Tổng Tham mưu Bộ Quốc phòng).

Với chủ trương vừa làm, vừa học, coi quá trình triển khai là quá trình chuyển giao công nghệ, Binh chủng đã cử các kỹ sư trẻ sang Pháp học tập, nghiên cứu tài liệu, thiết kế kỹ thuật. Khi về nước đã theo sát chuyên gia Pháp trong quá trình lắp đặt, cài đặt chương trình. Tổ chức học tập bổ sung trong quá trình khai thác sử dụng, quản lý sau này. Tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình vận hành, khai thác tổng đài. Chính vì vậy tổng đài kỹ thuật số đầu tiên đã được đưa vào sử dụng đúng thời gian, chất lượng tốt.

Trong quá trình triển khai lắp đặt tổng đài kỹ thuật số đầu tiên tại Hà Nội, một yếu tố rất quan trọng nữa là sự phối hợp và tranh thủ sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Tổng cục Bưu điện. Về cơ bản trong quá trình triển khai thuận lợi, nhưng cũng có lúc chúng tôi phải trao đổi và thảo luận nhiều lần về những vấn đề kỹ thuật cụ thể. Nhất là những yêu cầu khi đấu nối hoà mạng vào hệ thống tổng đài kỹ thuật số hiện hành của Tổng cục Bưu điện. Tổng đài kỹ thuật số của quân đội phải tương thích đáp ứng được yêu cầu hiện tại và phát triển của hệ thống thông tin quốc gia sau này. Riêng về sử dụng "Kho số” lúc đầu cơ quan Tổng cục Bưu điện chưa đồng ý cho ta sử dụng mã vùng riêng, mà yêu cầu tổng đài quân sự khu vực nào thì sử dụng mã vùng của tỉnh, thành phố ở khu vực gần nhất (thuộc kho số của tỉnh). Điều này sẽ hạn chế về sử dụng cùng sự phát triển hệ thống thông tin quân sự sau này.

Một ngày trước khi khánh thành đưa vào khai thác sử dụng tổng đài kỹ thuật số tại Thành Hoàng Diệu, đồng chí Mai Liêm Trực (khi đó là Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện) mới đồng ý cho quân sự sử dụng mã vùng riêng 069 như mã vùng của tỉnh trong hệ thống chung của Nhà nước như Binh chủng đề xuất, mà hiện nay vẫn đang sử dụng.

Sau khi triển khai lắp đặt tổng đài ở Hà Nội xong, Binh chủng chuẩn bị lắp đặt 2 tổng đài trung tâm ở miền Trung và miền Nam. Để giải quyết khó khăn về ngân sách, Binh chủng đã mời đồng chí Nguyễn Sinh Hùng (Bộ trưởng Bộ Tài chính) vào thăm, báo cáo về tình hình, kế hoạch triển khai lắp đặt tổng đài của cả 3 khu vực và mong có sự chi viện của Bộ Tài chính về ngân sách. Đồng chí Nguyễn Sinh Hùng đã gợi ý Bộ Quốc phòng nếu đồng ý sẽ cho Binh chủng Thông tin "vay" tiền, tạo điều kiện để Binh chủng triển khai lắp đặt hai tổng đài trung tâm kỹ thuật số ở 2 khu vực còn lại. Kết quả, Binh chủng Thông tin đã hoàn thành nhiệm vụ sớm hơn kế hoạch dự kiến 1 năm. Sau này nhiều lần làm việc gặp lại đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, anh vẫn nhắc vui tôi: "Anh Chiến còn nợ tôi đấy nhé".

Tôi chỉ biết cười và cảm ơn về sự giúp đỡ kịp thời có hiệu quả của anh đối với Binh chủng Thông tin liên lạc; tạo điều kiện cho Binh chủng hoàn thành triển khai hệ thống thông tin quân sự kỹ thuật số cố định, nâng cao năng lực đảm bảo thông tin liên lạc kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn phục vụ Đảng, Nhà nước và quân đội trong mọi tình huống.

Song song với việc triển khai 3 tổng đài kỹ thuật số ở 3 trung tâm Bắc - Trung - Nam hoà mạng với hệ thống thông tin quốc gia và các tổng đài vệ tinh cấp chiến lược, chiến dịch; thông tin thường xuyên quân sự đã có bước nhảy vọt về chất.

Cùng với hệ thống thông tin quân sự cố định, Binh chủng cũng tổ chức mua sắm một số khí tài kỹ thuật số phục vụ cho nhiệm vụ cơ động sẵn sàng chiến đấu, trang bị được đưa ra sử dụng thử nghiệm cho các đơn vị làm nhiệm vụ theo kế hoạch A3. Chuẩn bị đề án nhập dây chuyền lắp ráp thiết bị thông tin cơ động quân sự báo cáo Bộ Quốc phòng.

Qua công việc trên đã tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật của Binh chủng nhanh chóng tiếp cận làm chủ trang bị kỹ thuật mới, ngày càng tiến bộ trưởng thành, trở thành lực lượng nòng cốt trong lĩnh vực điện tử viễn thông tin học của một binh chủng kỹ thuật trong quân đội, góp phần hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, quân đội giao cho Binh chủng.

Mỗi một chặng đường đã qua, mỗi một công việc đã làm đều để lại trong tôi và trong mỗi cán bộ, chiến sĩ Binh chủng Thông tin liên lạc những kỷ niệm sâu sắc khó quên. Tôi trân trọng ghi lại những dòng ký ức đáng nhớ này về một thời được phục vụ và trưởng thành trong Binh chủng Thông tin liên lạc anh hùng.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2")