Nhà văn Nguyễn Đình Tú
Khi được các đồng chí ở Phòng Tuyên huấn Bộ tư lệnh Thông
tin giới thiệu về Nhà máy M3, tôi "rủ" nhà phê bình văn học Hồng Diệu
"làm một chuyến thâm nhập thực tế" tới những người lính thợ đang được
tôn vinh qua Đại hội Thi đua Quyết thắng toàn quân.
Khi chiếc xe đưa chúng tôi đến cổng Nhà máy M3, chúng
tôi được Đại tá Nguyễn Văn Lực - Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Nhà máy đón và mời
vào phòng làm việc. Tại đây chúng tôi được biết:
Đầu những năm 70 của thế kỷ trước, khi cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta bước vào giai đoạn quyết liệt. Để đáp ứng
yêu cầu phát triển của chiến trường, các đơn vị thông tin liên lạc toàn quân đã
được tăng cường trang bị kỹ thuật đặc biệt. Các loại thiết bị thông tin tải ba
nhiều đường được trang bị rộng rãi trên mạng thông tin chiến lược. Nhu cầu đảm
bảo kỹ thuật, sửa chữa trang bị khí tài thông tin, nhất là khí tài tải ba hiện đại
ngày một tăng lên, đòi hỏi phải có một cơ sở sửa chữa hiện đại, quy mô tương đối
lớn. Chính vì vậy ngày 19 tháng 12 năm 1971, Bộ Tổng Tham mưu đã ra quyết định thành
lập Nhà máy Thông tin M3, với nhiệm vụ sửa chữa nâng cao chất lượng các loại
trang bị hữu tuyến điện và các thiết bị tải ba, góp phần đảm bảo cho bộ đội
thông tin toàn quân chiến đấu và chiến thắng. Nhà máy được Chính phủ và nhân
dân Hung-ga-ri viện trợ xây dựng và trang bị kỹ thuật đồng bộ...
- Như vậy có thể nói Nhà máy của chúng ta ra đời trong
chiến tranh, đáp ứng yêu cầu của chiến tranh, và đến khi chiến tranh kết thúc,
theo lẽ thông thường Nhà máy sẽ được tặng sáu chữ: "hoàn thành sứ mệnh lịch
sử" và...
- Và chuyển sang một giai đoạn trưởng thành mới - Đại tá
Nguyễn Văn Lực tiếp lời tôi - chúng tôi lấy cái mốc mười năm (1978-1988) đánh dấu
cho giai đoạn đầu trong quá trình phát triển của Nhà máy sau chiến tranh. Thời gian
này Nhà máy sản xuất theo kế hoạch, tiến hành hạch toán kinh tế. Bám sát thực
tiễn phát triển quân đội, chúng tôi nghiên cứu chế thử, sản xuất một số khí tài
hữu tuyến điện phục vụ các đơn vị ở cấp chiến dịch, chiến thuật. Đầu những năm
80, chúng tôi nghiên cứu lắp ráp đồng hồ vạn năng cho máy thông tin tải ba 3 đường
GK3 kích thước thu gọn, rồi lắp ráp máy tải ba 3 đường, 12 đường đặt trên xe phục
cơ động sẵn sàng chiến đấu. Chặng đầu tiên đó có thể nói Nhà máy từng bước thực
hiện hạch toán kinh tế, hợp lý hoá sản xuất, hoàn thiện quy trình công nghệ,
nâng cao chất lượng sản phẩm. Nhiều sản phẩm do Nhà máy sản xuất đã được không
chỉ quân đội mà các ngành kinh tế - xã hội cũng sử dụng rộng rãi như các loại đồng
hồ đo điện, các phụ tùng xe ô tô, các mặt hàng nhựa ép, các loại máy mật, máy
đo độ ẩm, máy đo độ mặn. Một số sản phẩm được xuất sang các nước Đông Âu, Cu Ba
và một số nước trong khu vực.
- Mười năm ấy có vẻ như Nhà máy vẫn đang phát triển theo
hai hướng mà nó được xác định ngay từ khi ra đời. Còn giai đoạn thứ 2? - Tôi hỏi
cắt ngang.
Đại tá Nguyễn Văn Lực gật đầu:
- Vâng có thể nói mười năm (1990-2000) là giai đoạn phát
triển thứ hai. Đây mới thực là giai đoạn vô cùng khó khăn mà Nhà máy chúng tôi
phải vượt qua để đứng vững và phát triển. Giai đoạn này tình hình trong nước và
quốc tế diễn biến phức tạp, nguồn viện trợ quân sự từ nước ngoài không còn, nguồn
hàng quốc phòng giảm, nguồn hàng kinh tế gặp nhiều khó khăn. Yêu cầu mới đặt ra
là kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng và nhiệm vụ kinh tế. Nhà máy bắt tay vào việc
sắp xếp lại sản xuất, tinh giản biên chế, tổ chức lại lực lượng, tăng cường tiếp
thị, đổi mới công nghệ, bồi dưỡng đào tạo lại đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật,
đẩy mạnh liên doanh liên kết với các cơ sở sản xuất và khoa học kỹ thuật, nâng
cao chất lượng sản phẩm, từng bước giải quyết những vấn đề của đời sống đặt ra.
Nhiều đề tài khoa học có ý nghĩa kinh tế - kỹ thuật cao được nghiên cứu ứng dụng
thành công trong giai đoạn này như chương trình nghiên cứu KC-01, nghiên cứu sản
xuất tổng đài điện tử 16 số, cải tiến, sản xuất điện thoại TA57B, rồi các đề
tài khác như: "Phốt phát hoá bề mặt kim loại", "Thiết bị tự ngắt
máy bện dây"... Ngoài những mặt hàng truyền thống như: sửa chữa lắp ráp
máy tải ba, tổng đài, điện thoại, đồng hồ vạn năng, Nhà máy còn tổ chức sản xuất
nhiều sản phẩm mới như: dây và máy điện thoại dã chiến, cáp thông tin nhiều
đôi, tổng đài điện tử đa năng, hộp đấu dây đầu cáp, ăngten viba, ăngten máy thu
hình, nhóm sản phẩm công tơ điện, sản phẩm thông tin tín hiệu đường sắt, sản phẩm
phục vụ ngành giáo dục, sản phẩm gỗ phục vụ quốc phòng và xuất khẩu... Tới năm
1994, Nhà máy đã cơ bản vượt qua thử thách gay gắt, tạo được thế chủ động trong
sản xuất kinh doanh. Những năm sau đó, Nhà máy đã được Nhà nước, Bộ và Binh chủng
tăng cường đầu tư chiều sâu, hoạt động sản xuất kinh doanh của chúng tôi từng
bước phát triển trong cơ chế mới. Đến năm 1998, chúng tôi đã có những con số tổng
kết đáng mừng: Doanh thu tăng gần 4 lần, lương bình quân gần 3 lần, nộp ngân
sách tăng 3,5 lần so với năm trước (1993).
- Thời điểm chúng tôi đang ngồi đây, có thể gọi đây là
giai đoạn phát triển thứ ba của Nhà máy sau chiến tranh, liệu có thể gọi là
giai đoạn cất cánh được chưa? - Tôi đưa ra câu hỏi với Đại tá Nguyễn Văn Lực.
Anh Lực đứng dậy:
- Tôi giới thiệu về Nhà máy như thế cũng đã nhiều rồi.
Bây giờ mời các anh đến với từng phân xưởng để tìm hiểu kỹ hơn về công việc của
những người lính thợ...
Quả là trăm nghe không bằng một thấy. Trước mắt tôi là
miên man nhà xưởng với những cỗ máy đang vận hành: xưởng Hữu tuyến điện, xưởng
Cơ khí, xưởng Dây – Cáp thông tin, xưởng Hoá nhựa, xưởng Cơ điện - Dụng cụ... Tại
xưởng sản xuất dây dã chiến, chúng tôi nhìn thấy máy bện dây cáp như những chiếc
càng cua khổng lồ đang được những người công nhân vận hành để tạo ra các sản phẩm
cáp. Những sợi dây đồng trước khi được đưa vào máy bện
phải qua máy chuốt đồng trước khi được bọc nhựa và đưa qua máy xoắn... Mỗi công
đoạn được kiểm tra các thông số kỹ thuật sao cho đảm bảo chất lượng mới được
chuyển sang công đoạn tiếp theo. "Hàng quốc phòng không được phép loại
hai, chiến tranh không chấp nhận sai số!". Câu nói này tôi được nghe nhiều
lần từ những người công nhân đang đứng máy. Nếu cứ nghĩ rằng Nhà máy M3 có nhiều
nhà xưởng máy móc và công nhân rất đông đúc thì sẽ nhầm. Chỉ hơn 6.000m2
nhà xưởng thôi, và trong nhà xưởng đó, ngoài các máy càng cua khổng lồ, cơ bản
là những máy móc nhỏ gọn. Công nhân cũng rất thưa thớt. Cả cái xưởng rộng mênh
mông chỉ có khoảng dăm bảy người đứng máy. Máy móc đã giúp con người làm mọi thứ,
công nhân cần có trình độ và tay nghề cao để điều khiển máy móc chứ không cần
đông.
Tại xưởng 2 của phân xưởng Dây - Cáp thông tin hầu hết
là nữ công nhân đang trực máy. Chị Khúc Thị Liên từng có thâm niên 25 năm trong
nghề đang đứng điều khiển máy bện cáp 100 đôi rất nhiệt tình giới thiệu cho chúng
tôi quá trình ra lò của một sản phẩm cáp từ đầu vào cho đến đầu ra, tất cả chỉ
"đi hết" một quãng đường là... vòng quanh xưởng (khoảng 50m). Những
người công nhân ở đây có vẻ tự tin và yêu công việc của mình. Mỗi ngày đi kíp 6
tiếng, lương bình quân hơn 1 triệu rưỡi một tháng, có thể gọi là thu nhập cao
so với mặt bằng giá cả sinh hoạt tại địa phương mà Nhà máy đứng chân. Đó là thu
nhập bình quân, còn thu nhập cụ thể của chị Liên là bao nhiêu? Nghe tôi hỏi vậy
chị Liên e thẹn trả lời: "Em được triệu tư một tháng thôi, ít ấy mà".
"Vậy công nhân ở xưởng nào thu nhập cao hơn".
- Các anh ở xưởng Cơ điện - Dụng cụ ấy mà phải hơn hai
triệu một tháng.
Tôi từng được nghe ở Nhà máy M3 có hai "bàn tay
vàng" trong hội thi giỏi toàn quân vừa qua là Lê Thạc Quỳnh - thợ tiện 6/7
và Nguyễn Văn Đường - thợ nguội 7/7, nay hỏi ra mới biết cả hai đều là công
nhân của phân xưởng Cơ điện - Dụng cụ. Phân xưởng Cơ điện - Dụng cụ có diện
tích nhỏ hơn các phân xưởng khác, nhưng lại tập trung những tay nghề cao nhất của
Nhà máy, có nhiệm vụ sửa chữa cơ và sản xuất các khuôn mẫu. Trung tá Nguyễn Huấn,
quản đốc phân xưởng cho biết lương của công nhân ở đây cao nhất Nhà máy, điều ấy
phản ánh đúng hiệu quả chất xám mà họ bỏ ra. Số nữ ở phân xưởng này không nhiều,
nhưng đều đã qua đào tạo cơ bản, có tay nghề cao, có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ
thuật đem lại lợi ích cho Nhà máy. Ngoài lương ra, công nhân còn được tiền ăn
ca (4 ngàn đồng/bữa). Nhìn chung qua tiếp xúc với công nhân các phân xưởng, cảm
nhận của tôi là những người lính thợ ở đây hài lòng với những gì họ đang được
hưởng từ bàn tay và khối óc của mình.
Tuy nhiên chúng tôi băn khoăn một điều, rằng cái "chất"
cơ khí, "chất" nhà xưởng, "chất" cồng kềnh có vẻ vẫn như là
chủ đạo ở Nhà máy này. Cái sự công nghệ cao nó nằm ở đâu, "chất" kinh
tế tri thức, "chất" tinh xảo gọn nhẹ, hiện đại nó nằm ở đâu? Nghe tôi
trình bày những suy nghĩ của mình, Đại tá Nguyễn Văn Lực bảo: "Tôi hiểu ý
anh rồi. Anh muốn nhìn thấy những phòng nghiên cứu khoa học bề thế, những xưởng
sản xuất hiện đại với những máy móc tinh vi, những sản phẩm hàng hóa gọn nhẹ mà
có giá trị kinh tế cao chứ gì? Đó là điều mà Nhà máy chúng tôi đang hướng tới.
Tuy nhiên phát triển theo hướng nào còn nằm trong chiến lược chung của Bộ và Binh
chủng. Cái mà anh kỳ vọng, ví dụ như sản xuất điện thoại di động chẳng hạn, có
thể được trên giao cho đơn vị khác đảm nhiệm. Hướng chính của chúng tôi là hữu
tuyến điện. Bây giờ mời anh qua phân xưởng Hữu tuyến điện".
Phân xưởng Hữu tuyến điện đúng là có vẻ "sạch sẽ"
hơn. Cách tổ chức sắp xếp ngăn nắp: tổ tổng đài, tổ tải ba, tổ điện thoại...
Các phòng có máy lạnh, có quy chế ra vào, làm việc rõ ràng. Có một sản phẩm được
treo biển "Công trình chào mừng 60 năm thành lập Binh chủng Thông tin".
Đó là những chiếc máy điện thoại quân sự được đặt trong những chiếc hộp xinh xắn.
Đại tá Lực cho biết đó là những chiếc điện thoại TA57B được cải tiến từ chiếc
điện thoại TA57 của Liên Xô trước đây. Tôi hỏi: "Cái sự cải tiến ấy nó nằm
ở chỗ nào?". Anh Lực chỉ vào từng chi tiết trên chiếc điện thoại: "Tất
cả các chi tiết này Nhà máy đều tự sản xuất được, không phải nhập ngoại, nguồn
điện cũng được cải tiến từ 9 vôn xuống còn 3 vôn, ngoài ra để đồng bộ với nó,
chúng tôi còn nghiên cứu chế tạo tổng đài quân sự đa năng 24 số, 48 số bằng
công nghệ kỹ thuật số có ghép luồng, cáp thông tin 30 đến 100 đôi, cáp truyền
tín hiệu, truyền số dữ liệu cao tần, cáp quang dã chiến... Đây là những sản phẩm
quốc phòng rất được các đơn vị trong toàn quân ưa chuộng".
Cũng đã đến lúc phải chia tay với những người thợ ở Nhà
máy Thông tin M3, tôi đặt câu hỏi cuối cùng với đại tá Nguyễn Văn Lực:
- Theo anh, những khó khăn mà Nhà máy đang gặp phải hiện
nay là gì?
Không cần suy nghĩ, anh Lực đáp ngay:
- Thứ nhất là thiếu nhân lực có trình độ cao. Thứ hai
là không theo kịp tốc độ thay đổi công nghệ chóng mặt của thế giới và khu vực.
Thứ ba là những tác động trái chiều của cơ chế nửa bao cấp nửa hạch toán kinh tế
gây khó khăn về tổ chức lực lượng và biên chế. Những điều này đã được Đảng ủy,
Ban Giám đốc chúng tôi xác định rõ và cũng đề ra những giải pháp khắc phục
trong thời gian tới.
Những khó khăn trên có vẻ như là một ẩn số chung đối với
các doanh nghiệp trong toàn quân. Một đơn vị biết nhìn ra những điểm hạn chế sẽ
là đơn vị mạnh. Nhưng tại sao lại thiếu những nhân lực có trình độ cao nhỉ? Bậc
thợ bình quân của Nhà máy là 5,5/7 kia mà? Đội ngũ kỹ sư và học viên tốt nghiệp
của trường kỹ thuật quân sự hằng năm đâu, sao không lấy về? Nghe tôi nói vậy
anh Lực cười: "Đội ngũ thợ mà anh vừa nói ấy có độ tuổi trung bình khá cao,
còn kỹ sư ở Nhà máy chỉ chiếm 15%, lấy sinh viên tốt nghiệp các ngành kỹ thuật ở
ngoài vào phải tính chế độ cho họ thế nào đây khi Nhà máy là một đơn vị quân đội,
mỗi thành viên Nhà máy không chỉ là một người thợ mà còn là một người lính? Còn
học viên các trường kỹ thuật của quân đội đào tạo ra đều do trên phân bổ, số
này rất ít, hầu như chỉ tiêu không về đến Nhà máy chúng tôi. Đấy là những cái
khó mà chúng tôi đang giải quyết. Tất nhiên phải từng bước và có sự giúp đỡ
cùng tháo gỡ từ trên Bộ và Binh chủng".
- Chỉ xin nói riêng về nhân lực thôi, các anh đã có
cách giải quyết như thế nào?
- Trước mắt chúng tôi tuyển chính con cái của những người
công nhân vào làm việc tại Nhà máy. Tất nhiên họ phải qua đào tạo rồi. Sau khi
vào làm việc họ sẽ được chọn đi học tiếp những ngành nghề mà Nhà máy cần ở
trình độ cao hơn. Những người này được Nhà máy bao cấp toàn bộ tiền học hành.
Và cứ một công nhân già nghỉ hưu thì một công nhân trẻ sẽ được thay thế vào suất
biên chế đó. Đây là cách tạo nguồn hiệu quả nhất trong tình trạng hiện nay, còn
thu hút nhân lực trình độ cao (kỹ sư) vào ngay thì điều kiện Nhà máy chưa đáp ứng
được việc thỏa mãn chế độ cho những đối tượng này, nhất là sắp xếp biên chế, quân
hàm, lương bổng...
Cũng như những người lính ngoài thao trường, thực tiễn
luôn đặt ra những khó khăn mới cho những người lính nói chung, lính thợ ở Nhà
máy M3 Thông tin nói riêng. Nhưng nhìn vào chỉ số tăng trưởng của Nhà máy trong
những năm qua, chúng ta hoàn toàn có thể yên tâm, tin tưởng vào bản lĩnh của những
người lính thợ trước thử thách của cuộc sống. Nhà máy đã được trung tâm chứng nhận
phù hợp tiêu chuẩn QUACERT, cấp chứng chỉ hệ thống quản lý chất lượng quốc tế
ISO 9001-2000. Từ tháng 11 năm 2003, Nhà máy đã áp dụng thực hiện vận hành có
hiệu quả hệ thống này, tạo bước đột phá quan trọng giúp mở thị trường, giảm chi
phí, tăng lợi nhuận nhờ sử dụng hợp lý các nguồn lực. Các chỉ tiêu kế hoạch đều
đạt 100 đến 136%/năm, tốc độ tăng trưởng sản xuất bình quân 20,1%/năm. Nếu năm
2000 doanh thu là hơn 20 tỷ đồng thì năm 2004 đã nâng lên hơn 46 tỷ đồng. Lương
bình quân công nhân năm 2000 là hơn 900 ngàn đồng thì năm 2004 đã tăng lên hơn
1 triệu 500 ngàn đồng.
Đó là con số ấn tượng đối với một doanh nghiệp quốc phòng
như Nhà máy Thông tin M3. Khi chúng tôi rời nhà máy cũng là lúc kẻng tan tầm
vang lên. Những người lính thợ trong bộ đồ bảo hộ lao động từ các phân xưởng đổ
ra cổng Nhà máy. Tôi tự hỏi, không biết những giọt mồ hôi đang rịn trên trán
người lính thợ kia có khác gì giọt mồ hôi của những người lính đang luyện tập
ngoài thao trường?
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)
0 comments:
Đăng nhận xét