27.5.25

Nhớ về Lữ đoàn 596

Đại tá Phạm Duy Tín - nguyên Phó Tham mưu trưởng Binh chủng Thông tin liên lạc

Hình như số phận đã buộc tôi gắn với Hệ thống viễn thông liên kết và Lữ đoàn 596, Từ cuối tháng 3 năm 1975, đang làm Trợ lý Tham mưu Thông tin giúp đóng chí Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng Binh chủng Thông tin Phạm Kim Bạo theo dõi, tổ chức hệ thống thông tin của Bộ Tổng Tham mưu bảo đảm chỉ huy chiến đấu của các cánh quân phía Nam chuẩn bị cho chiến dịch giải phóng Sài Gòn, tôi đã được nghiên cứu các tài liệu chuẩn bị tiếp quản Hệ thống viễn thông liên kết.

Trưa ngày 1 tháng 5 năm 1975, trong đoàn tiếp quản của đồng chí Trịnh Đình Chung, tôi đã có mặt ở Bộ Tổng Tham mưu quân ngụy và đi tiếp quản hệ thống thông tin Vũng Tàu. Tháng 7 năm 1975, tôi đi Pleiku và Buôn Ma Thuột tiếp nhận Trung đoàn 596 (thuộc Đoàn 559) rồi công tác ở Trung đoàn đến hết năm 1978. Sau đó, tôi được điều về Bộ tư lệnh Binh chủng, làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 139 rồi phụ trách Phòng Huấn luyện chiến đấu Bộ Tham mưu Binh chủng. Những tưởng hết duyên nợ với 596, nhưng đầu năm 1984 tôi đang phụ trách Phòng Kế hoạch Bộ Tham mưu Binh chủng đúng lúc Hội đồng Bộ trưởng quyết định: Công trình viễn thông xây dựng mới từ Hà Nội vào Đà Nẵng bằng khí tài của Hệ thống viễn thông liên kết do Bộ Quốc phòng lập Luận chứng kinh tế kỹ thuật - có Tổng cục Bưu điện tham gia, Nhà nước sẽ phê duyệt và xem xét vốn đầu tư trong năm 1984-1985.

Tháng 7 năm 1984, Bộ Quốc phòng chính thức giao nhiệm vụ cho Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc làm chủ đầu tư công trình viba Hà Nội - Đà Nẵng ký hiệu VTH2-84. Tiếp đó, Binh chủng quyết định thành lập Ban quản lý công trình viễn thông do đồng chí Ngô Đức Thọ - Phó tư lệnh Kỹ thuật làm Trưởng ban, tôi làm Phó Trưởng ban (sau này đồng chí Nguyễn Hữu Đăng lên làm Trưởng ban thay đồng chí Ngô Đức Thọ). Ban quản lý công trình viễn thông trực thuộc Tư lệnh có con dấu riêng, chi bộ riêng. Đầu năm 1985, Luận chứng kinh tế kỹ thuật được phê duyệt. Tôi hoàn thành nhiệm vụ. Ngày 19 tháng 4 năm 1985, Bộ Quốc phòng quyết định chuyển Trung đoàn Thông tin viễn thông 596 thành Lữ đoàn 596 có nhiệm vụ quản lý khai thác tuyến viễn thông hiện hành và xây dựng tuyến viễn thông Hà Nội - Đà Nẵng. Tôi lại được điều về làm Lữ đoàn trưởng. Sau khi xây dựng xong đoạn tuyến viba Hà Nội - Vinh và đoạn Đà Nẵng - Huế, từ Lữ đoàn 596 tôi được điều về phụ trách cơ quan Đại diện Bộ tư lệnh tại Tân Sơn Nhất từ tháng 8 năm 1988. Nhưng chưa hết duyên nợ với Hệ thống viễn thông liên kết. Tháng 11 năm 1988, Hội đồng Bộ trưởng quyết định chuyển giao tuyến viba Hà Nội - Đà Nẵng từ Bộ Quốc phòng sang Tổng cục Bưu điện quản lý và thông tuyến vào năm 1989, Bộ tư lệnh thành lập Ban chỉ đạo bàn giao tuyến, tôi lại được chỉ định tham gia Ban chỉ đạo bàn giao tuyến. Cuối năm 1990, làm xong nhiệm vụ này tôi được nghỉ hưu.

Như vậy, trong 15 năm từ năm 1975 cho đến những năm cuối cùng của tôi ở quân ngũ, công việc của tôi gắn liền với Hệ thống viễn thông liên kết, với Lữ đoàn 596.

Những năm công tác ở Lữ đoàn 596, Hệ thống viễn thông liên kết đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm sâu sắc. Tôi xin kể lại:

1. Lập Luận chứng kinh tế kỹ thuật tuyến viba Hà Nội - Đà Nẵng.

Ban quản lý công trình viễn thông có tôi làm Phó Trưởng ban trực tiếp điều hành công việc, đồng chí Nguyễn Thế Đảo, đồng chí Nguyễn Tiến Mỹ, đồng chí Hồ Đắc Thuyên, đồng chí Đỗ Văn Mạo. Đồng chí Lê Văn Lục từ Ban Tài vụ Nhà máy M1 về phụ trách tài chính, đồng chí Phạm Văn Bính ở Phòng Quân lực về phụ trách quân số, đồng chí Đỗ Văn An từ Trường Trung cấp Kỹ thuật về làm công tác cán bộ... Ban đầu, chúng tôi rất bỡ ngỡ với việc lập Luận chứng kinh tế kỹ thuật. Tuy có một văn bản của Tổng cục Bưu điện nhưng chỉ để tham khảo. Chúng tôi phải tìm đọc nhiều nghị định của Nhà nước về những vấn đề có liên quan về xây dựng, về quy hoạch về quan hệ bên A, bên B... Đồng chí Thuyên, đồng chí Mỹ, đồng chí Mạo phụ trách phần luận chứng kỹ thuật; đồng chí Lục phần kinh tế, tôi và đồng chí Đảo phụ trách những vấn đề chung và tổng hợp.

Để thông qua được luận chứng, tôi phải chạy rất nhiều cơ quan, quan hệ với Vụ 1 - một vụ có nhiệm vụ giải quyết các mối quan hệ kinh tế - quốc phòng. Với Vụ 1 Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng, tôi phải giải thích về khả năng khí tài và kỹ thuật của Binh chủng xây dựng tuyến viba; làm việc với Ủy ban Kế hoạch Nhà nước để xin ngân sách, vật tư, xăng dầu, điện lực, đất đai dựng trạm...; làm việc với Vụ 1 Bộ Tài chính, làm việc với Đài Phát thanh và Truyền hình...; ở Bộ Tổng Tham mưu phải làm việc với Cục Quân lực về quân số và trang bị. Vì có liên quan đến làm kinh tế tôi đến làm việc với Ban Kinh tế Bộ Quốc phòng. Sau khi thông qua Luận chứng kinh tế kỹ thuật ở Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Quốc phòng giao cho Thiếu tướng Vũ Xuân Chiêm chỉ đạo công trình này. Tôi đã hai lần đi họp với Ủy ban Hợp tác liên Chính phủ Việt Nam và Cu Ba do đồng chí Vũ Đình Liệu - Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng làm Chủ tịch Ủy ban để đưa việc xây dựng công trình viễn thông này vào chương trình công tác của hai chính phủ tạo thuận lợi cho sau này. Khoản kinh phí ngoại tệ 1 triệu USD để mua linh kiện vật tư điện tử Bộ Quốc phòng đề nghị Hội đồng Bộ trưởng xét điều chỉnh.

Để hoàn chỉnh và lập chính xác Luận chứng kinh tế kỹ thuật, chúng tôi đã nhiều lần rà soát lại các số liệu về đường truyền sóng giữa các trạm, đi thực tế cùng các đồng chí Phòng Kỹ thuật Trung đoàn 596 xem xét thực trạng từng đầu máy tại Trạm Viễn thông. Chúng tôi đã đóng hòm một máy FRC-109 gửi cho Bộ Bưu điện Cu Ba để các bạn cải tiến, thực tế chứng minh dung lượng truyền dẫn như báo cáo trong Luận chứng. Cùng Luận chứng kinh tế kỹ thuật được hoàn thành và gửi đến hàng chục cơ quan có liên quan, đồng chí Nguyễn Thế Đảo đã có nhiều công sức để hoàn thiện nội dung và hình thức của Luận chứng. Luận chứng được đóng thành tập với hàng loạt bản vẽ, bìa cứng, bọc vải, in chữ vàng. Đầu năm 1985, thông qua với nội dung văn bản quyết định của Hội đồng Bộ trưởng phù hợp với ý kiến của Binh chủng, tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ lập Luận chứng kinh tế kỹ thuật - một thành công ban đầu của việc xây dựng tuyến viba Hà Nội - Đà Nẵng với sự nỗ lực của tập thể Ban Quản lý công trình viễn thông.

2. Các nước bạn với Hệ thống viễn thông liên kết - Bộ Bưu điện Cu Ba.

Sau khi ta tiếp quản Hệ thống viễn thông liên kết, một hệ thống thông tin vào loại hiện đại ở Đông Nam Á, các nước bạn cũng rất quan tâm. Hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa đều có đoàn đến tham quan, mỗi đoàn có từ 2 đến 4 người. Liên Xô có 3 đoàn và mỗi đoàn có đến hàng chục người. Đoàn quân đội Bun-ga-ri khá đông do một trung tướng dẫn đầu. Nhiều đoàn hỏi đến hệ thống bảo mật thông tin và máy mật. Đoàn Tiệp Khắc quan tâm nhiều đến hệ thống máy thông tin cấp chiến thuật. Đoàn Hung-ga-ri đến 2 lần; đoàn thứ hai do đồng chí Cục trưởng Cục Thông tin quân đội Hung-ga-ri dẫn đầu. Bạn quan tâm nhiều đến máy FRC-109. Sau này tôi được biết ở Cu Ba các trạm truyền dẫn tín hiệu từ đài vệ tinh mặt đất về Trung tâm La Habana đều dùng máy viba của Hung-ga-ri. Đoàn Cộng hoà Dân chủ Đức yêu cầu ta cho mở hộp đậy ăngten FRC-109 để quan sát bên trong. Chúng ta rất thẳng thắn và cụ thể trong việc giới thiệu hệ thống; mong các bạn, nhất là Liên Xô sang giúp ta trong công tác nghiên cứu kỹ thuật. Ở đài Phú Lâm ta có lắp vào máy FRC-109 một klystron có đặc tính tương đương klystron VE của Mỹ và thiết bị này đã hoạt động bình thường. Trong việc xin viện trợ ta cũng có xin loại klystron này nhưng không được đáp ứng.

Từ năm 1983, đoàn Bộ Bưu điện Cu Ba đã sang khảo sát tuyến viba Hà Nội - Đà Nẵng, nghiên cứu khí tài của Hệ thống viễn thông liên kết để giúp ta xây dựng tuyến viba này với chính khí tài của Hệ thống viễn thông liên kết. Giúp ta xây dựng tuyến viba Hà Nội - Đà Nẵng, các đồng chí Bộ Bưu điện Cu Ba đã coi như nhiệm vụ của chính mình. Ở Việt Nam, đồng chí Ga-tô, đồng chí Li-la được coi như đại diện của Bộ Bưu điện Cu Ba. Nhiều chuyên gia của từng ngành kỹ thuật đã sang giúp ta. Một tổ chuyên gia tính toán lại số liệu đường truyền sóng, các địa điểm đặt trạm. Các đồng chí đã mang máy từ Cu Ba sang đo thử trực tiếp trên hai đoạn tuyến Hà Nội - Cầu Giẽ và Cầu Giẽ - Nam Định để khẳng định chất lượng truyền sóng của toàn tuyến. Một tổ kỹ thuật về máy viba có các đồng chí An-be-to, Ca-si-mi-ro, Hê-ra-dô và nữ đồng chí Đây-si làm máy đo. Các đồng chí đã cải tiến 16 bộ máy FRC-109 để truyền dẫn được 300 kênh thoại, 1 kênh truyền hình, sau này thêm 1 kênh truyền thanh. Các đồng chí cho đấu các máy đã khôi phục và sửa chữa, cải tiến thành 7 trạm tượng trưng từ Hà Nội - Vinh với các bộ suy hao giả định lượng tiêu hao trên đường truyền dẫn và cho phát truyền hình từ trạm đầu đến trạm cuối, đo chỉnh các chỉ tiêu. Kiến trúc vỏ trạm là một nữ đồng chí đã thiết kế nhà Trạm viễn thông Hàm Rồng rồi về nước. Một tổ làm cột cao, cột ăngten do đồng chí Phê-rê phụ trách với một số nhân viên kỹ thuật lắp đặt cột cao. Phụ trách chung là đồng chí Béc-na-đi-ô và công trình sư Xoa-vê-đra. Việc mua linh kiện điện tử cho Hệ thống viễn thông liên kết đối với ta là rất khó khăn, nhưng các bạn Cu Ba bằng các mối liên kết thương mại của mình đã giải quyết được. Một klystron cho FRC-109 năm 1986 có giá là gần 1.000 USD Mỹ. Kinh phí ngoại tệ dự tính 1 triệu USD cũng lấy ở số tiền mà Cu Ba bán hộ tem cho Tổng cục Bưu điện Việt Nam. Thực chất là ta vay tiền của bạn rồi trả dần bằng tiền bạn bán tem cho ta.

Lữ đoàn cũng tạo cho bạn điều kiện làm việc và sinh hoạt thoải mái. Về trạm, xưởng kỹ thuật, đồng chí Hà Thị Tố Nga và Tiểu đoàn 2 kỹ thuật rất sáng tạo, chuyển Trạm Sửa chữa viễn thông Long Bình về Trạm Viba Tân Sơn Nhất và thiết bị lại thành một trung tâm kỹ thuật hoàn chỉnh, đồng bộ để sửa chữa và khôi phục các khí tài viễn thông. Cạnh Trung tâm Kỹ thuật là Trung tâm Quy chuẩn và Sửa chữa máy đo. Công tác tại các trung tâm kỹ thuật này cùng các chuyên gia Cu Ba là những nhân viên kỹ thuật hàng đầu của Hệ thống viễn thông liên kết. Chính ở Trung tâm kỹ thuật này, cán bộ, nhân viên kỹ thuật của Lữ đoàn đã sửa chữa, khôi phục, đồng chỉnh cho hàng chục loại khí tài của một trạm viễn thông. Lần lượt 7 trạm viễn thông từ Hà Nội - Vinh được hồi phục. Các đồng chí Cu Ba đánh giá rất cao tổ hợp kỹ thuật này, nhất là các cán bộ và nhân viên kỹ thuật công tác tại trạm. Riêng tôi cho rằng với việc tổ chức tổ hợp kỹ thuật viễn thông, Lữ đoàn đã làm cho các chuyên gia ngay từ bước đầu tin tưởng ở chúng ta.

Đoạn tuyến Hà Nội - Vinh hoàn thành tháng 12 năm 1986 phục vụ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI. Trong thời gian phục vụ Đại hội, các đồng chí Cu Ba cũng chia ra ở từng trạm cùng các cán bộ, nhân viên kỹ thuật Lữ đoàn bám sát kỹ thuật liên tục 24/24.

Đoạn tuyến viba Vinh - Đà Nẵng được xây dựng năm 1988 sang đầu năm 1989. Máy viba dùng trong đoạn tuyến này trước đây định dùng máy Rel-2600 công suất 10W cải tiến nay bạn đã thiết kế một loại máy khác, với tính năng kỹ thuật bảo đảm dung lượng thông tin của toàn tuyến với tên gọi VC-300. Các đồng chí cán bộ kỹ thuật của ta như: Hồ Đắc Thuyên, Nguyễn Tất Hiển, Nguyễn Tiến Mỹ... đã sang Cu Ba cùng lắp ráp máy với bạn.

Đầu năm 1988, các đồng chí Cu Ba còn đưa tổ chuyên viên cáp biển sang để nghiên cứu, khôi phục tuyến cáp biển nhưng không đủ khả năng.

Các bạn Cu Ba cho rằng hoàn thành tuyến viba Hà Nội - Đà Nẵng là một thành công điển hình của sự hợp tác hai nước Cu Ba và Việt Nam. Đối với chúng ta các bạn đã để lại trong chúng ta những ấn tượng rất sâu sắc. Làm việc với các bạn Cu Ba, cán bộ, nhân viên kỹ thuật của ta được học hỏi và hiểu biết thêm về kỹ thuật viba hiện đại, mở rộng kiến thức để phát triển sau này.

3. Lữ đoàn 596 - Hệ thống viễn thông liên kết.

Lữ đoàn 596 có những đặc điểm riêng mà không đơn vị nào trong Binh chủng có. Lữ đoàn 596 bảo đảm đường trục thông tin trong nửa nước, đồng thời bảo đảm cả thông tin trong khu vực cho nhiều quân binh chủng ở Đà Nẵng, Nha Trang, Thành phố Hồ Chí Minh. Lữ đoàn phải tự đảm bảo vật tư khí tài, tự đảm bảo kỹ thuật cho Hệ thống viễn thông liên kết. Hàng năm, Lữ đoàn phải huấn luyện chiến sĩ khai thác cho nhiều ngành kỹ thuật: viba, tải ba, kiểm liên, nguồn điện, tổng đài tự động. Lữ đoàn có một lực lượng công nhân viên kỹ thuật rất đặc biệt đã là sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ của chế độ cũ. Lữ đoàn đã phát huy được tốt khả năng kỹ thuật của lực lượng này. Từ năm 1985 đến 1989, Lữ đoàn đã vừa đảm bảo tốt thông tin vừa xây dựng tuyến viba mới của nửa nước (Hà Nội – Đà Nẵng) làm vẻ vang cho Binh chủng.

Tôi nhớ về Lữ đoàn 596 - đơn vị gắn với Hệ thống viễn thông liên kết từ tháng 4 năm 1975 đến ngày 1 tháng 6 năm 1998, ngày ngừng hoạt động tuyến viễn thông liên kết sau 23 năm quản lý khai thác hệ thống. Ngày 12 tháng 3 năm 1999, Lữ đoàn quyết định thanh lý khí tài viễn thông. Đồng chí Trần Xuân Lăng đã viết bài "Những cánh buồm còn sót lại" in trong "Ký ức Cựu chiến binh Thông tin" - Tập 1. Có thể coi năm cuối cùng của thế kỷ XX cũng là năm chấm dứt sự hoạt động của Hệ thống viễn thông quân sự. Tôi xin thêm mấy ý kiến sau câu này: "Có thể coi năm cuối cùng của thế kỷ thứ XX cũng là năm chấm dứt sự hoạt động của Hệ thống viễn thông liên kết, thay bằng thiết bị hiện đại hơn. Nhưng những cánh buồm còn để lại là những nhân chứng lịch sử của hệ thống viễn thông - Lữ đoàn 596". Trong phòng truyền thống của Lữ đoàn còn lưu lại những hình ảnh, hiện vật, những sáng kiến cải tiến kỹ thuật trong quá trình chúng ta làm chủ hệ thống này. Riêng tôi có những sự việc đáng nhớ sau:

* Khôi phục hoạt động của Trạm Viễn thông Núi Lớn (Vũng Tàu) năm 1975.

Muốn liên lạc từ Sài Gòn đến tổng đài tự động Vũng Tàu phải qua Trạm Viễn thông Núi Lớn (VT31). Đồng chí Trần Xuân Lăng đã kể lại chính xác việc khôi phục hoạt động của Trạm Viễn thông này qua bài viết vừa nêu trên. Tôi còn nhớ thêm, sau khi các hệ máy trong trạm hoạt động tốt nhưng vẫn không liên lạc được với Trạm Viễn thông Phú Lâm (Sài Gòn). Phân đoạn kiểm tra, cuối cùng nghi ngờ là ống dẫn sóng có sự cố. Đào đất để kiểm tra ống dẫn sóng (đoạn chôn dưới đất) thì thấy rõ trong đoạn này bị đọng nước nên năng lượng bị tiêu hao hết. Sự kiện này đã có tác dụng củng cố niềm tin trong việc khôi phục hoạt động và quản lý khai thác Hệ thống viễn thông liên kết.

* Toàn Hệ thống viễn thông liên kết hoạt động phục vụ chiến đấu ở Tây Nam năm 1978.

Đầu năm 1978, Trung đoàn chỉ khai thác đoạn tuyến từ Phú Bài đến Sài Gòn bằng hệ viba, các trạm đầu cáp, các trạm viễn thông vùng miền Tây Nam Bộ ở chế độ bảo quản. Cuối năm 1978, theo chỉ thị của Bộ, Trung đoàn đã đảm bảo hệ thống đường trục hoạt động thông suốt từ Phú Bài đến các trạm viễn thông miền Tây: Cần Thơ, Long Xuyên, Rạch Giá có vu hồi bằng tuyến cáp biển. Trung đoàn đã khôi phục gần hai chục máy siêu tần số AN/TRC-24 và tổ chức một phân đội AN/TRC-24 tiếp chuyển qua trạm trung gian chuyển tiếp Núi Ông, phát triển theo đội hình của chiến dịch. Hệ thống viễn thông liên kết được kết nối với hệ siêu tần số AN/TRC-24, vô tuyến điện tiếp sức P-401 bảo đảm tốt từ Bộ chỉ huy đến tất cả các đơn vị chiến đấu trên toàn mặt trận.

Bên cạnh đó, Trung đoàn còn bảo đảm tốt thông tin liên lạc trong nội bộ Sở chỉ huy với hàng trăm máy điện thoại lẻ. Trung đoàn đã đảm bảo được tốt thông tin liên lạc đường trục; kết hợp với sự phát triển của các phương tiện thông tin đường nhánh và thông tin liên lạc của Sở chỉ huy trong một nhiệm vụ quân sự có tính chiến lược. Đây là thành tích thể hiện trình độ quản lý khai thác Hệ thống viễn thông liên kết của cán bộ, chiến sĩ, nhân viên kỹ thuật Trung đoàn sau 3 năm tiếp quản.

* Lắp đặt Trạm viễn thông VT25B thay thế Trạm VT25.

Tháng 2 năm 1985, Trung đoàn hoàn thành lắp đặt Trạm VT25B ở vị trí mới để kết nối thuận tiện với Tổng đài Trung tâm A99. Trạm VT25 là một trạm viễn thông đầu cuối có hệ ghép kênh lớn và hệ kiểm liên âm tần cho gần 400 kênh liên lạc. Trạm VT25B đã thông tuyến trên tất cả các kênh liên lạc trong đêm 6 tháng 2 năm 1985. Kỷ niệm sự việc này tác giả Thanh Tú (Võ Đình Cước) đã có bài thơ "Đêm thông tuyến" tặng anh Liêm (nhân viên kỹ thuật phần âm tần và điện báo truyền chữ: "Mức điện kiểm liên trên tuyến đạt tuyệt vời". Việc lắp đặt chính xác, đồng bộ một trạm viễn thông lớn với nhiều hướng, có dung lượng thông tin lớn, chứng tỏ trình độ làm chủ toàn diện kỹ thuật Hệ thống viễn thông liên kết của cán bộ, chiến sĩ, nhân viên kỹ thuật Trung đoàn. Tôi đã trình bày với Vụ 1 Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng việc Trung đoàn lắp đặt VT25B để chứng minh thực tế khả năng xây dựng tuyến viba Hà Nội - Đà Nẵng của Binh chủng Thông tin.

* Xây dựng tuyến viba Hà Nội - Đà Nẵng.

Việc hoàn thành xây dựng tuyến viba Hà Nội – Đà Nẵng là một sự kiện có nhiều ý nghĩa với Binh chủng Thông tin và Lữ đoàn 596. Lịch sử Binh chủng Thông tin có ghi: "Nó là công trình của ý chí, trách nhiệm kết hợp với tinh thần tự chủ, dám nghĩ dám làm của Binh chủng Thông tin, mà nòng cốt là Lữ đoàn 596. Đây là bước trưởng thành mới của Binh chủng và Lữ đoàn về trình độ tổ chức, thiết kế, thi công, xây dựng và quản lý hệ thống thông tin". Tôi nghĩ rằng Lữ đoàn 596 đã xây dựng một tuyến viba kỹ thuật analog để mở đầu cho các tuyến viba số và cáp quang hiện đại.

Công việc xây dựng tuyến viba là một công việc có khối lượng rất lớn và phức tạp, tháo gỡ máy từ các trạm lẻ đưa về Trung tâm kỹ thuật, sửa chữa đảm bảo đúng chỉ tiêu, đồng bộ các khí tài của trạm tại Trung tâm kỹ thuật, chuyên chở vận chuyển đến vị trí đặt trạm (khiêng vác máy, thiết bị lên các trạm ở điểm cao), lắp đặt trạm, thông tuyến... Có nhiều chuyện đáng nhớ xin để các đồng chí cán bộ, nhân viên kỹ thuật trực tiếp làm sẽ kể lại. Trong thời gian tham gia Ban chỉ đạo bàn giao tuyến viễn thông, hàng ngày tôi đạp xe đạp từ nhà đến Trạm VT40 làm việc. Lúc làm việc với đoàn của Tổng cục Bưu điện, lúc làm việc với đồng chí Bùi Đình Tuyển chỉ huy Lữ đoàn 596. Các yêu cầu về nội dung kiểm tra khi bàn giao thật chặt chẽ, tỉ mỉ: từ vỏ trạm, cột ăngten, hệ tiếp đất, từng số liệu đo đạc đường truyền chung đến số liệu đo kiểm từng kênh thông tin (300 kênh)... Phương tiện đo kiểm phải đạt "tiêu chuẩn quốc gia". May mà hệ khí tài đo kiểm của Lữ đoàn khá đủ và được đồng chí cán bộ đại diện Ủy ban khoa học Nhà nước xác nhận là chuẩn. Tôi được đồng chí Tuyển và đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật trên tuyến giúp đỡ tận tình và chủ động đáp ứng yêu cầu của đơn vị tiếp nhận. Việc đo kiểm bàn giao ở từng trạm (18 trạm) làm trong quá trình bảo đảm thông tin liên lạc bình thường, không phải là việc làm có chuẩn bị trước, theo ý của đồng chí Đặng Văn Thân - Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện. Kết quả đo kiểm đã làm hài lòng đơn vị nhận bàn giao với 98,3% đạt chỉ tiêu về tuyến truyền dẫn, vượt chỉ tiêu thiết kế 1,3% và 98% về kênh thông tin.

Đội ngũ cán bộ của Lữ đoàn trừ một số đã tốt nghiệp đại học, còn đại bộ phận trưởng thành lên từ đội ngũ trung cấp kỹ thuật. Nhiều đồng chí đã gắn bó với hệ thống viễn thông liên kết từ ngày tiếp quản. Với ý thức trách nhiệm cao, các đồng chí đã trưởng thành lên từ những bài học thực tế trong quản lý, chỉ huy, khai thác Hệ thống viễn thông liên kết, từ những yêu cầu thực tế đặt ra trong quá trình công tác. Có lẽ chỉ có ở Lữ đoàn 596 mới có những đồng chí cán bộ gắn bó với đơn vị 5 năm, 20 năm, có đồng chí cả tuổi thanh xuân đã đi cùng Hệ thống viễn thông liên kết, không ít đồng chí làm việc ở Lữ đoàn 596 cho đến khi nghỉ hưu. Tôi cho rằng cán bộ công tác ở Lữ đoàn 596 - Hệ thống viễn thông liên kết - đã thể hiện ý thức trách nhiệm cao, có ý chí phấn đấu nỗ lực tự hoàn thiện mình về tư tưởng, về trình độ kỹ thuật, trình độ quản lý để hoàn thành chức trách được giao.

Từ năm 1975 đến năm 1998, 23 năm quản lý khai thác Hệ thống viễn thông liên kết, từng thế hệ cán bộ, chiến sĩ, nhân viên kỹ thuật đã tô thắm thêm truyền thống Lữ đoàn bằng:

- 1 Lẵng hoa của Bác Tôn, Chủ tịch nước tặng năm 1976.

- 1 Huân chương Quân công hạng Ba (1980).

- 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất (1988).

- 1 Huân chương Lao động hạng Nhì (1990).

- 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì (1993).

Phòng Kỹ thuật Xưởng X10 được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Ba.

Anh Đặng Anh Võ được tặng thưởng 1 Huân chương Lao động hạng Ba.

Chúng ta tự hào với những thành tích đã đóng góp cho sự phát triển và hoàn thành nhiệm vụ của Lữ đoàn.

Ở Lữ đoàn 596 - Hệ thống viễn thông liên kết – không thể không nói đến các anh em công nhân viên quốc phòng, rải khắp các đài trên tuyến, ở tất cả các ngành kỹ thuật viễn thông và tập trung nhất ở Phòng Kỹ thuật, Trung tâm kỹ thuật. Các anh đã gắn bó với Trung đoàn, Lữ đoàn 596 từ những ngày đầu Trung đoàn tiếp quản Hệ thống viễn thông liên kết (1975) cho đến sau khi ta hoàn thành tuyến viba Hà Nội - Đà Nẵng (1989), có anh còn đi tiếp cho đến khi ngừng hoạt động tuyến viễn thông liên kết. Các anh là lực lượng kỹ thuật nòng cốt trong việc đảm bảo kỹ thuật khai thác tuyến, kéo dài tuổi thọ của tuyến viễn thông liên kết; là lực lượng chủ công trong xây dựng tuyến viba Hà Nội - Đà Nẵng, giữ cho tuyến có được những chỉ tiêu khai thác tối ưu. Trong những năm đầu mới thành lập Lữ đoàn đã phải chịu đựng và khắc phục nhiều khó khăn vất vả trong cuộc sống, những mặc cảm trong tâm tư. Nhưng với một ý chí và sự nỗ lực của bản thân, các anh đã vượt được lên tất cả để khẳng định chính mình. Với các anh, thời gian công tác ở Lữ đoàn là một giai đoạn có nhiều ý nghĩa trong cuộc sống, có những cống hiến đáng để ghi nhớ, đáng để tự hào. Đồng chí Võ Đình Cước đã viết nên những câu thơ tình cảm "Mãi mãi thương yêu nhau":

Các cao điểm của chiều dài đất nước

Ta đã lên và để lại niềm tin

Khiêng máy, dựng đài nối mạng thông tin

Vô tuyến, kiểm liên, tải ba, nguồn điện

Tiến sĩ, kỹ sư, thợ hàn (thợ ăngten), thợ lạnh

Quấn quýt bên nhau trong công việc hàng ngày.

Xin cho tôi kết thúc những dòng viết "Nhớ về Lữ đoàn 596 - Hệ thống viễn thông liên kết". Xin gửi tới tất cả các đồng chí cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng đã cùng tôi công tác ở Lữ đoàn lời cảm ơn, những tình cảm chân thành và những lời chúc tốt đẹp nhất.

Xin chúc các đồng chí cán bộ, chiến sĩ đang công tác tại Lữ đoàn sức khỏe, hạnh phúc, thành đạt và viết tiếp những trang sử truyền thống của Lữ đoàn.

Tháng 10-2006

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

0 comments:

Đăng nhận xét