Đại tá Nguyễn Xuân Thái - Bí thư Đảng ủy Nhà máy M1
Một ngày cuối tháng 12 năm 1989, trời mưa nặng hạt, bầu
trời vần vũ những đám mây của đợt gió mùa đông bắc, chiếc xe con đưa đồng chí
Giám đốc Nguyễn Đức Hoạt và một số cán bộ cơ quan từ Nhà máy ở Phú Thọ về đang
len lỏi đi vào con đường đá dẫn vào khu doanh trại của Viện Khảo sát Thiết kế -
Binh đoàn 12 ở thôn Phú Thứ xã Tây Mỗ huyện Từ Liêm.
Xe dừng trước ngôi nhà cấp 4, vốn là chỉ huy sở của
đơn vị bạn trước đây, nay là "đại bản doanh" của số anh em làm công
tác bảo vệ, trông coi khu đất. Sau ít phút thăm hỏi nắm tình hình, đồng chí
Giám đốc dẫn chúng tôi đi thị sát toàn bộ dãy nhà cấp 4 hiện đang bỏ trống và một
kế hoạch sơ bộ được Giám đốc vạch ra: Bộ đã quyết định chuyển M1 về sáp nhập với
M2, việc quan trọng lúc này là phải có phương án ổn định nơi ăn ở cho công
nhân, chưa giải quyết được khâu này, cũng có nghĩa là chưa di chuyển được Nhà
máy. Như muốn chúng tôi ý thức được đầy đủ hơn về tầm quan trọng của công việc
này, Giám đốc Hoạt chậm rãi:
Theo hồ sơ, khu đất này rộng hơn 2 hécta, có cả thảy
20 dãy nhà cấp 4. Tuy nhà cũ, tường mái có nứt vỡ, xô xệch nhưng tổ chức cải tạo
khẩn trương vẫn có thể giải quyết được chỗ ở cho 70 hộ gia đình, nhưng cái khó
chính là ở chỗ này không có điện, không có nước.
Từ các hộ gia đình ở Phú Thọ, đang sẵn có những cơ ngơi
đàng hoàng, tươm tất, nào nhà ngói hiên tây, nào sân vườn, ao, chuồng trại. Mỗi
nhà có một khoảng trời riêng, nay phải di chuyển về đây, trong điều kiện thiếu
thốn thế này... Chúng tôi như đọc được sự trăn trở, bức xúc qua một thoáng trầm
ngâm của Giám đốc, nhưng ông nở một nụ cười, khuôn mặt trở nên bình thản, đúng
như tính cách của ông, của một người từng trải, ông khoát một vòng tay như thu
gọn khu tập thể vào lòng rồi khái quát: Với số dãy nhà cấp 4 hiện có, ta sửa chữa
lại, xây vách ngăn, làm thêm chỗ đun nấu, cấp cho mỗi hộ một gian rưỡi, khẩn trương
làm việc với địa phương kéo điện về, còn nước dùng, trước mắt phải dựa vào dân,
rồi khắc phục dần thôi... Tại buổi làm việc trên thực địa hôm ấy, Giám đốc đã đưa
các cơ quan Nhà máy vào cuộc, bộ phận Hành chính, Hậu cần lo thợ xây dựng, lo
chỗ làm nhà trẻ, mẫu giáo khi chuyển các cháu về có chỗ gửi ngay. Phòng Kế hoạch,
Tài chính lo đảm bảo công ăn việc làm cho người ở lại, Phòng Tổ chức cán bộ lo
việc điều động nhân lực, lo bàn với địa phương để giải quyết nhân khẩu tạm thời,
rồi giải quyết hơn 100 các cháu chuyển trường theo bố mẹ...
Ngày 6 tháng 7 năm 1990, chuyến xe đầu tiên thực hiện
lệnh di chuyển các gia đình về Tây Mỗ. Sau những ngày bịn rịn chia tay với làng
thợ, với bà con để về nơi mới, các hộ gia đình phải đối mặt ngay với bao khó
khăn, bỡ ngỡ, gia tài trên từng chuyến ô tô của mỗi gia đình, ngoài đồ đạc, nhà
nào cũng có đến nửa xe củi, bây giờ nghĩ lại ai cũng phá lên cười, khi ấy các
bà, các chị kháo nhau "về Hà Nội không có củi đun đâu" nên nhà nào cũng
ních chặt bạch đàn đem về kiểu "quân tử phòng thân" cứ như không có củi
của các bà, các chị thì chồng con chết đói chả chơi!
Trước đầu năm học mới, hơn 70 hộ đã di chuyển an toàn
về sắp xếp vào các hộ tập thể. Đang ở nơi thênh thang rộng rãi, nay về sống
trong từng gian tập thể, tuy có gò bó nhưng cũng có phần rôm rả, con trẻ được
chạy lăng xăng từ nhà này sang nhà khác chả cần xin phép, các "đức ông chồng"
sau bữa cơm chiều sang nhà hàng xóm làm ấm nước trà, ngồi bên ngọn đèn điện câu
nhờ của dân đỏ như ngọn đèn dầu, đàm đạo với nhau mọi thứ chuyện trên đời.
Rồi mọi chuyện cũng qua dần, từ lúc nhảy xuống mương tắm,
gội, ngày đầu thấy ngại (trên Phú Thọ nhà nào chả có giếng khơi trong mát), nay
không có giếng, tắm đại rồi cũng qua, rồi nước ăn hàng ngày xin mãi của dân cũng
nể, anh em có sáng kiến đề nghị Nhà máy dùng xe cứu hỏa chở nước từ trong Nhà
máy ra cấp cho mỗi nhà vài xô để dùng.
Những tưởng cuộc sống với bề bộn lo toan sẽ làm nảy sinh
những luồng tư tưởng tiêu cực, nhưng mọi người không ai bàn lùi, ai cũng có ý
thức tự lo liệu để dồn tâm lực vào nhiệm vụ sản xuất. Rồi được sự quan tâm của
lãnh đạo Nhà máy, khu tập thể đã có trạm điện, trạm nước, cuộc sống dần đi vào ổn
định.
Ngày tháng trôi qua, làng thợ ngày ấy nay đã thành phố
thợ. Phố thợ chẳng bao giờ quên được. Hôm rồi, có đoàn công tác ở trên về thăm
đơn vị, nghe đồng chí Chủ tịch Công đoàn giới thiệu khu tập thể Nhà máy ở Phú
Thứ đã có trên 60% số hộ xây dựng được nhà tầng, có các tiện nghi vào loại kha
khá như nhà nào cũng có xe máy, có nhà có đến hai ba xe, tivi màu thì đương
nhiên nhà nào cũng có, có nhà mỗi buồng một tivi. Còn tủ lạnh, máy giặt, điều hòa
nhiệt độ cũng không là chuyện hiếm hoi trong khu tập thể. Và cái đáng mừng nhất
là từ khi lập làng thợ mới năm 1990 đến nay, có gần trăm cháu đã trở thành cử nhân,
kỹ sư, bác sĩ và công nhân kỹ thuật, không có cháu nào hư hỏng.
Thú vị nhất vẫn là chuyện ngày xuân, những người thợ có
dịp "ôn nghèo kể khổ". Họ kể lại chuyện chị Biện vợ anh Vọng khóc tức
tưởi và đề đạt nguyện vọng với thủ trưởng Hoạt xin được quay về Nhà máy cũ vì
tiếc cơ ngơi và nhớ bà con trên đó quá. Bây giờ khi nhắc lại chuyện này chị lại
cười xòa và nói "Nhà máy cho đổi đời, chả bao giờ như bây giờ". Ngôi
nhà 3 tầng của anh chị đẹp như một nét vẽ tươi màu trong một bức tranh đẹp của
cả phố thợ, hãnh diện lắm chứ.
Anh Dân, Bí thư Đảng ủy hồi ấy là người rất gần gũi công
nhân, hầu như ngày nghỉ và các buổi tối anh thường đến từng nhà thăm, động viên
anh em.
Còn nhớ một lần anh Dân, anh Độ (khi đó là Phó Giám đốc)
được mời dùng bữa cơm mừng một gia đình công nhân sắm được chiếc xe máy, đang
dùng cơm thì trời đổ mưa kèm theo bão lớn, ngôi nhà cấp 4 chỗ nào cũng dột, chủ
nhà xoay mãi cũng không tìm được một chỗ khô ráo cho khách, đành lấy cho mỗi
người một cái nón, thế là xong. Kỷ niệm cả chủ và khách đội nón trong nhà để ăn
cơm, nhớ lại ai cũng phì cười khi đã có nhà cao, cửa rộng.
Có thể nói cơ ngơi của các hộ gia đình hôm nay ngoài phần
tích lũy, dành dụm từ thu nhập đồng lương, còn có sự chắt chiu, hay lam hay làm
của người thợ. Ngoài công việc Nhà máy, các anh chị ai cũng làm thêm. Thời kỳ đầu
chuyển từ Phú Thọ về, nhà nào cũng nuôi lợn, lợn nuôi ngay trong nhà, khu nuôi
lợn chỉ cách nhà ngủ một bức tường, nên có anh đã vịnh mấy câu sau đây:
Đêm nằm
nghe lợn ngáy
Gió đồng
thổi rì rào
Chuột
thì chạy ào ào
Vợ chồng
chuyện thì thào
Lại một
đêm không ngủ…
Thế đấy, làng thợ và phố thợ đang thay đổi diện mạo từng
ngày. Ai đó về thăm phố thợ hôm nay đều ngỡ ngàng trước những dãy nhà cao tầng
mới được xây cất còn thơm mùi vữa, nhìn phố thợ khang trang lại gợi cho ta nhớ
về "Làng thợ ngày ấy - bây giờ".
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)
0 comments:
Đăng nhận xét