Đại tá Nguyễn Đức Hoạt - nguyên Giám đốc Nhà máy M1
Ngày 15 tháng 12 năm 1989 Bộ Quốc phòng quyết định
chuyển Nhà máy M1 về khu vực An Khánh, với nhiệm vụ sửa chữa lớn, sản xuất các
thiết bị thông tin và nguồn điện. Chân ướt chân ráo, chuyển từ Phú Thọ về cần nhanh
chóng ổn định nơi ăn ở để triển khai nhiệm vụ kế hoạch trong năm của Bộ giao.
Việc khó khăn nhất lúc bấy giờ là giải quyết công ăn việc làm cho trên 500 cán
bộ, công nhân viên của hai nhà máy kết hợp lại với quân số định biên của Bộ chỉ
đảm bảo công việc cho 300 công nhân, quân số dôi dư là 200 người, bằng nhiều biện
pháp như: Những cán bộ, công nhân đủ niên hạn thì giải quyết chế độ, chuyển
công tác theo nguyện vọng để dần dần đạt được quân số theo định biên. Trong lúc
khó khăn, lãnh đạo, chỉ huy đang băn khoăn lo lắng giải quyết công ăn việc làm cho
số người dôi dư thì đồng chí Nguyễn Tiến Dũng, một kỹ sư cơ khí tình nguyện nhận
một số công nhân thành lập tổ kinh tế tự lo công việc và đời sống cho anh em.
Lúc đầu chỉ có 8 người và xin Nhà máy sử dụng một số thiết bị thô sơ như máy cắt,
máy hàn, máy khoan, bệ lò rèn... Tổ sẽ hạch toán độc lập, tự lo lương và trả khấu
hao thiết bị cho Nhà máy.
Với ý nghĩ này, tư duy lúc bấy giờ chưa được mọi người
đồng tình ủng hộ, trong cơ chế bao cấp, chỉ muốn tập trung một đầu mối. Tổ kinh
tế phải dưới sự quản lý tập trung của Phòng Kế hoạch Nhà máy điều hành. Bước đầu
trình độ khả năng quản lý có hạn nên gặp nhiều khó khăn, kém hiệu quả, không thực
hiện được. Thấy trước vấn đề đó, Giám đốc đồng tình ủng hộ thành lập tổ kinh tế
trực thuộc Giám đốc giao cho đồng chí Nguyễn Tiến Dũng chỉ huy, điều hành. Với
một ý nghĩ đơn giản là: hoạt động của tổ kinh tế phải đạt được 3 lợi ích, có
doanh thu và đưa lại lợi nhuận cho Nhà máy; tổ phải phát triển lớn mạnh; công nhân
cán bộ phải có thu nhập, cuộc sống ổn định. Cùng với hai kỹ sư là đồng chí Cao
Sơn và đồng chí Phan Anh, người tổ trưởng năng động Nguyễn Tiến Dũng đã lo tìm việc
làm cho anh em, có thu nhập, dần dần từ tổ kinh tế tự lo lương, quân số tăng
lên 20 rồi 30 công nhân, doanh thu năm 1992 đạt 400 triệu đồng, rồi 500, 1 tỷ,
rồi 1,5 tỷ đồng, năm 2000 doanh thu đạt đến 4 tỷ đồng. Từ tổ kinh tế nay đã
phát triển thành phân xưởng.
Trong thời kỳ đổi mới, phân xưởng đã có tới trên 50
cán bộ, công nhân với ban quản lý gọn nhẹ làm việc có khoa học và hiệu suất
cao. Phân xưởng chuyên nhận các công trình lớn như xây lắp các cột ăngten viba,
tháp truyền hình, cột ăngten điện thoại di động cho Viettel trên khắp mọi miền
Tổ quốc, từ đồng bằng đến núi cao, vùng sâu, vùng núi non hiểm trở, hải đảo và
vượt xa sang cả nước bạn Lào.
Tay nghề công nhân ngày càng được nâng cao, sản phẩm đạt
chất lượng ISO-2000, có sản phẩm ngang tầm quốc tế. Có tín nhiệm với nhiều bạn
hàng, doanh thu đạt hàng chục tỷ đồng, chiếm 50% doanh thu hàng kinh tế của Nhà
máy. Điều quan trọng là đã thu hút thêm nhiều lực lượng trẻ và cán bộ kỹ thuật
có trình độ công nghệ cao, đã gây một phong trào làm kinh tế cải thiện đời sống
ở các phân xưởng trong Nhà máy. Phân xưởng đã mở ra mối quan hệ đối ngoại rộng
khắp, công nghệ mới được áp dụng, góp phần đáp ứng cho việc thực hiện nhiệm vụ
quốc phòng.
Được như ngày nay phải nói đến công sức và lòng nhiệt tình
của đồng chí Quản đốc Nguyễn Tiến Dũng và Phó Quản đốc Phan Anh, những con người
sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, vì Nhà máy, vì đồng đội.
Thật đáng khâm phục. Điều ấn tượng sâu sắc, tâm đắc của
người chỉ huy lãnh đạo, tôi không bao giờ quên.
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)
0 comments:
Đăng nhận xét