Đại tá Lê Văn Lịch - nguyên Phó Giám đốc Nhà máy M3
Ngày 22 tháng 12 năm 1970, Bộ ký quyết định thành lập
Xưởng Thông tin M3 trực thuộc Bộ tư lệnh Thông tin, sử dụng địa điểm Kho K94 của
Binh chủng ở Tham Vàng thuộc thôn Gia Quất - xã Ngọc Thụy - huyện Gia Lâm - Hà
Nội.
Địa điểm K94 vốn là khu biệt thự của một viên tham tán
tên là Vàng từ thời Pháp thuộc có diện tích trên một héc-ta, có một toà nhà 8
mái được xây dựng rất nguy nga, xung quanh có vườn cây ao cá.
Lúc mới thành lập, Bộ tư lệnh Thông tin điều động đồng
chí Trần Tân Nhất - nguyên Trưởng phòng Kỹ thuật Nhà máy M1 về làm Giám đốc,
cùng về với đồng chí Nhất còn có các đồng chí Trần Tịnh - cán bộ quân lực, đồng
chí Nguyễn Đức Hoạt - cán bộ kỹ thuật và một số học viên mới tốt nghiệp trung cấp
tải ba như Vũ Hữu Đãi, Đỗ Mai Hồng...
Tháng 2 năm 1971, Kho K94 mới bàn giao cho Xưởng M3 một
phần khu biệt thự để tập kết quân và triển khai việc xây dựng xưởng. Tiếp sau
đó nhiều cán bộ kỹ thuật và công nhân được điều động về theo biên chế ban đầu
là 48 người.
Tôi còn nhớ trong số đó có 5 đồng chí đi thực tập và đại
tu máy tải ba, tải báo ở Hung-ga-ri về nước tháng 12 năm 1970 có đồng chí Lê
Văn Lịch, Dương Phúc Trịnh, Trần Huy Thành, Phạm Khánh Hòa và Ngô Văn Thủ. Rất đông
các đồng chí ở Nhà máy M1 như đồng chí Hoàng Thị Vương, Đỗ Văn Dung, Nguyễn Văn
Luân, Bùi Trọng Tố, bác Phượng, bác Tại, cô Quế, cô Linh, cô Nguyệt, cô Tần... cùng
các đồng chí khác như Nguyễn Văn Hành - quân y sĩ, Nguyễn Quang Quỳ - cán bộ kỹ
thuật ở Trường Trung cấp kỹ thuật cũng được điều về Xưởng M3. Đa số các đồng
chí từ Nhà máy M1 được về M3 công tác đều có gia đình, có vợ chồng, con cái hoặc
bố mẹ ở khu vực Hà Nội. Đây là thể hiện sự quan tâm của Thủ trưởng Bộ tư lệnh
Binh chủng về việc hợp lý hóa gia đình cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên của
Binh chủng, tạo điều kiện để họ yên tâm công tác, gắn bó lâu dài với Nhà máy.
Vào giữa năm 1971, theo hiệp định hợp tác, tương trợ giữa
hai nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Nhân dân Hung-ga-ri về việc
Hung-ga-ri giúp đỡ Việt Nam xây dựng Nhà máy đại tu máy tải ba, một đoàn cán bộ
chuyên gia của quân đội và Nhà nước Hung-ga-ri sang làm việc trực tiếp với Binh
chủng Thông tin để khảo sát tình hình trang bị máy móc của Quân đội nhân dân Việt
Nam mà cụ thể là của Binh chủng Thông tin do Hung-ga-ri sản xuất và xác định địa
điểm xây dựng Nhà máy M3. Ngoài khu vực Tham Vàng, Bộ tư lệnh Binh chủng đã cử
cán bộ đưa bạn đi khảo sát một số địa danh khác như khu đất Vĩnh Tuy - Hà Nội,
lúc đó đang là địa điểm đóng quân của Trung đoàn 205. Tiếp theo là đến khảo sát
khu bên cạnh Nhà máy M2 ở Ngãi Cầu - Hà Đông. Nhưng qua 3 địa điểm ở Thủ đô và
ngoại vi Hà Nội, giữa ta và bạn không tìm được tiếng nói chung. Do đó ta lại
đưa bạn đến một địa điểm gần thị xã Sơn Tây, đó là A49 đang là trạm cơ vụ của
Trung đoàn Thông tin 134. Cuối cùng đến địa điểm thứ 5 là khu đồi trọc dưới
chân núi Đùm thuộc địa phận thôn Mỹ Chung, xã Xuân Sơn, huyện Ba Vì ngày nay.
Ngày 19 tháng 12 năm 1971 Bộ Tổng Tham mưu đã ký quyết định thành lập Nhà máy
M3 và xác định địa điểm tại đây. Qua bàn bạc trao đổi giữa ta và bạn, xét thấy
địa điểm này có những ưu điểm khá đặc biệt và hấp dẫn, vì ở đây vừa có đồi núi,
lại có hồ Xuân Khanh rộng mênh mông, thấy là sơn thủy hữu tình, vừa xa đường quốc
lộ, lại xa khu dân cư. Về mặt quân sự đảm bảo được tính bí mật, mặt khác trong
lúc đế quốc Mỹ đang tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại trên miền Bắc thì khi cần
sơ tán người và trang bị máy móc Nhà máy có thể đào hầm, hào trong núi Đùm sát
ngay cạnh Nhà máy để cất giấu được an toàn.
Lại nói đến những ngày đầu tiên của Nhà máy, là những
ngày chung sống hòa bình, cùng công tác, cùng làm việc giữa Xưởng M3 và Kho
K94. Công việc chủ yếu của K94 là thu gom và vận chuyển vật tư, thiết bị, khí tài
đi các kho khác của Binh chủng. Còn cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên Xưởng M3
thì tiếp thu các nhà kho để tu sửa, cải tạo thành nhà ở, nhà làm việc, nhà ăn, nhà
bếp...
Thời gian đầu năm 1971, đang là mùa khô, nước dùng cho
sinh hoạt rất hiếm. Có một cái giếng đất, nhưng hàng ngày chị nuôi phải vét từng
gầu nước để lo cơm nước cho bộ đội. Chúng tôi phải đào một cái giếng sâu trong
lòng cái ao bằng cách dùng các ống đúc sẵn bằng bê tông có đường kính khoảng
80cm và độ dài 1m lấy xi măng ghép nối lại với nhau, chủ yếu là để lấy nước ăn,
còn muốn tắm giặt thì phải rủ nhau ra bãi tắm sông Hồng cách đơn vị khoảng hơn
một cây số.
Ở đây mùa khô thì thiếu nước, nhưng mùa mưa thì nước lại
quá dư thừa, nước trở thành tai họa. Mọi người đã về đây giữa năm 1971 không ai
quên được mùa nước lụt rất to năm đó. Con đường đê dọc sông Hồng từ cầu Long Biên
đi vào Tham Vàng nước lũ mấp mé con trạch, lúc nào cũng như muốn nuốt chửng tất
cả những gì có ở trong đê. Lúc này tất cả máy móc, thiết bị đều được chuyển hết
lên nhà 8 mái, các xe công trình thông tin thì được sơ tán lên mặt đê. Các đội
tuần tra canh đê của đơn vị thường xuyên trực trên mặt đê 24/24 giờ. Với tinh
thần trách nhiệm cao, không quản ngày đêm dầm mưa, dãi nắng suốt cả 7-8 ngày trời,
tổ canh đê của đơn vị đã dùng máy nổ 2CĐB cùng hệ thống chiếu sáng dò tìm được
một số ổ mối làm rò rỉ, thấm nước qua đê, rất dễ có nguy cơ làm rạn nứt và vỡ đê
là rất nguy hiểm.
Do những thành tích xuất sắc trong phòng chống lũ lụt năm
1971, Xưởng M3 được Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm và Bộ tư lệnh Binh chủng tặng
Giấy khen. Thông qua đợt lũ lụt này, cùng với sự quan hệ đoàn kết quân dân gắn
bó giữa M3 và địa phương, nên cán bộ, nhân dân xã Ngọc Thụy đã tận tình giúp đỡ
M3 về nhiều mặt trong những tháng khó khăn ban đầu và kể cả sau này khi nhà máy
đã chuyển lên Ba Vì - Sơn Tây.
Đến nay K94 - Tham Vàng, nơi đóng quân của Xưởng Thông
tin M3 - tiền thân của Nhà máy M3 đã chuyển thành khu tập thể của hơn chục hộ
gia đình cán bộ, công nhân viên của Binh chủng Thông tin, mà trong đó có một số
đồng chí đã từng công tác tại M3.
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)
0 comments:
Đăng nhận xét