24.5.25

Đoàn đi công tác đầu tiên của Nhà máy M3

Trần Huy Thành – nguyên Bí thư Đảng ủy Nhà máy Thông tin M3

Được nghe đồng chí Giám đốc phổ biến về nhiệm vụ của Nhà máy Thông tin M3 là: Xây dựng, tự tạo mặt bằng sản xuất sửa chữa, tổ chức các đoàn đi sửa chữa lưu động, phục vụ các chiến trường, tự đào tạo lấy thợ để phục vụ sản xuất sửa chữa vì số thợ Bộ tư lệnh điều về là có hạn.

Mấy ngày làm vệ sinh dọn dẹp và thu nhận quân, có khoảng 20 đồng chí là cơ công của Trung đoàn 205 và các trung đoàn phục vụ chiến đấu và có 2 đồng chí ở Trường Trung cấp Kỹ thuật điều về. Trong số đó, có cả cán bộ chiến sỹ, đồng chí Giám đốc phân công nhiệm vụ ban đầu cho từng đồng chí, bộ phận.

Ngày 20/02/1971, đồng chí Giám đốc có gọi tôi và đồng chí Dương Phúc Trịnh vào trong nhà, nói qua về nhiệm vụ chiến lược của chiến trường và giao nhiệm vụ, trao giấy quyết định điều động của Bộ tư lệnh cho 2 chúng tôi. Với tinh thần là Nhà máy Thông tin M3 cử cán bộ kỹ thuật cùng Bộ tư lệnh và Trung đoàn 134 tổ chức một đoàn công tác tiếp nhận và lắp đặt, hướng dẫn kỹ thuật và khai thác thiết bị mới, phục vụ chiến dịch. Sáng hôm sau, chúng tôi sang gặp thủ trưởng Phòng Hậu cần, được trao cho 1 xe tải Liên Xô còn mới, 1 đồng chí lái xe, đồng chí này đã ra vào chiến trường nhiều lần, có kinh nghiệm phòng tránh bom đạn và thuộc đường vào. Các thứ khác như vũ khí, thiết bị, quân tư trang, lương thực, thực phẩm ăn đường, thuốc men sẽ nhận ở Trung đoàn 134 vào hôm sau.

Sáng ngày 22/02/1971, tôi và đồng chí Trịnh đi bộ từ M3 sang Trung đoàn 134. Tại đây chúng tôi được nhận vũ khí, ba lô, tăng bạt võng, lương thực thực phẩm khô, bố trí phòng ở và đi nhận thiết bị mới, máy tải ba VBO-12T là loại thiết bị mới được Hung-ga-ry trang bị, chưa khai thác của Quân đội nhân dân Việt Nam. Loại này có cả đường tải báo và một số thiết bị đo lường.

Tôi là đoàn trưởng, lúc đó là chuẩn úy, đồng chí Trịnh là trung sỹ, cùng với đồng chí lái xe vào tới chiến trường trong đó có các đồng chí cán bộ, nhân viên kỹ thuật rồi, dưới sự chỉ đạo của đoàn. Đầu ở Hà Nội có cán bộ kỹ thuật ở trạm A40.

Bộ tư lênh giao cho chúng tôi phải đưa được người và thiết bị vào trong an toàn, lắp đặt khai thác, hướng dẫn sử dụng xong trong thời gian 1 tháng, còn lại thời gian sau kiểm tra, sửa chữa, khai thác các thiết bị đã có, bàn giao hướng dẫn cho các đồng chí cán bộ chiến sỹ trong đó, bảo đảm phục vụ chiến trường, khi có lệnh sẽ ra. Qua mấy ngày chuẩn bị, các trang thiết bị đã được sắp đặt lên xe, chằng buộc, ngụy trang chu đáo.

Sáng ngày 24/02/1971, đoàn chúng tôi lên đường. Thời gian này giặc Mỹ tăng cường đánh phá miền Bắc, các đường giao thông huyết mạch của ta, để chặn đường đưa hàng vào chiến trường. Do đó mà đường đi rất vất vả, khó khăn, phải đi đường dã chiến, đi vòng tránh đường giao thông chính nên đi rất lâu, nhiều lúc cứ tưởng lật xe, đầu đập vào nóc cabin liên tục. Đến chiều tối hôm đó mới tới được thị xã Thanh Hóa, tại nơi đây cũng bị bom Mỹ đánh tơi bời, tinh thần cách mạng của nhân dân rất cao. Khi xe của chúng tôi vừa dừng bánh được một lát thì đã thấy có người cầm một mảnh cót, có người cầm vài que củi, có người xách nồi và một mớ rau. Bà con nói, các chú vào trong đó, dừng ở đây nấu cơm ăn rồi mới đi nên bà con mang các thứ này cho các chú. Chúng tôi cảm ơn và chỉ có dùng nước cho vào bi đông rồi luộc rau ăn với lương khô thôi. Đồng chí lái xe bảo, chúng ta phải đi thêm vì ban ngày hay bị bom Mỹ nên chúng tôi ăn xong là đi ngay. Đi suốt đêm, đến tầm buổi sớm hôm sau thì mới đi được vào đất Nghệ An, nơi này cũng bị bom Mỹ đánh tan tành nên bà con cũng đi sơ tán hết. Nhìn thấy có một mái lều, chúng tôi đi vào trong lều có một bà cụ khoảng 80 tuổi, đang ngồi co ro trên chiếc chõng. Tôi chào và hỏi cụ “Ở đây có giếng nước không ạ? Cho chúng con xin một ít.” Cụ nói “Mỹ nó ném bom bà con đi hết rồi, còn mỗi cụ già ở lại đây thôi. Có nước ở ngoài kia các con ra mà dùng, gần đây không có giếng đâu.” Tôi đi ra thì thấy có một cái chum bị bom Mỹ quật vỡ, chỉ còn lại cái trên và một phần tư cái thân có một chút nước ở đó. Tôi không dám đụng đến và bảo các đồng chí, chúng ta đi thôi. Thế là chúng tôi chào cụ, biếu cụ gói lương khô và đi ra. Đi suốt đêm vừa đói vừa mệt, sau ra xe đồng chí lái xe lấy một ít lạc củ cho vào thùng lương khô, rồi đổ ít xăng vào xóc xóc sau bật lửa châm vào, xăng cháy một lát đổ ra, lạc chín đổ ra ăn và nghỉ ngay tại chỗ.

Đến chiều tối thì đến Bến Thủy, phải đi qua phà nên phải chờ đợi lâu quá. Bên cạnh đó là Nhà máy điện, ga tàu Bến Thủy, mới bị bom Mỹ đánh tơi bời, vẫn còn bốc khói. Đêm hôm đó chờ đợi, xe chúng tôi cũng được ưu tiên hàng vào, nhưng cũng phải sáng hôm sau mới sang được bên kia, lại phải đi đường ngầm, mãi mới lên được bờ. Trời sáng đi được một ít km thì lại phải tìm chỗ trú. Đồng chí lái xe nói, sang đường Hà Tĩnh rất nguy hiểm, không cẩn thận là trúng bom hoặc là pháo của hạm đội Mỹ bắn vào. Đêm chúng tôi đi cũng không được bật đèn pha chỉ đi đèn gầm bé tí xíu thôi, nhìn ra biển thấy tàu Mỹ bật điện như thành phố ngoài khơi.

Đoạn đường ngã ba Đồng Lộc thì cực kì khó đi, chỉ có một con đường, hố bom Mỹ dày đặc, cây cối, đất đá lổn nhổn, chỉ sợ xe đổ thôi, các đồng chí thanh niên xung phong phải chỉ dẫn cho xe chúng tôi đi.

Qua Hà Tĩnh đến đất Quảng Bình, qua Sông Danh lại càng sốt ruột vì phải qua phà và đường ngầm dài quá rất khó đi. Đến ngã ba Đồn lại phải nghỉ theo hướng dẫn, tìm chỗ trú cho xe. Đến giờ quy định mới được đi vì ở Quảng Bình chưa nhìn thấy máy bay đã thấy bom nổ nên rất nguy hiểm. Đi đến Bố Trạch thì xe chúng tôi rẽ phải vào đường 20 Quyết thắng, đi ngược lên sang phía Lào. Đang đi nghe bom nổ rung xe. Đi thêm được đoạn ngắn thì có thanh niên xung phong yêu cầu dừng xe tránh bom. Dừng ở đó một hồi lâu, sau nghe thấy có ba tiếng súng nổ, lúc đó đồng chí dẫn đường mới cho đi. Đi được một đoạn thì đã thấy xe chở lương thực, thuốc men bị đổ cháy. Đoạn đường dài bị trúng bom thanh niên xung phong vẫn đang khắc phục, các đồng chí ấy phải chỉ dẫn cho xe đi rất nguy hiểm. Sau đoạn đường này chúng tôi đi tiếp trên đoạn đường 20 Quyết thắng. Sau đó rẽ tay trái đi vào đường rừng núi lại càng khó đi. Xe đi như bò, ỳ à ỳ ạch quăng lên quật xuống, đi được một đoạn xa thì thấy có đường dây thông tin nghĩ là đã đến nơi nhưng không phải vì đó là đường dây ngụy trang. Đi tiếp thêm một đoạn xa nữa thì xe dừng lại. Đồng chí lái xe nói là phải dừng xe ở đây, các đồng chí vào điều quân ra để vận chuyển hàng vào. Thế là chúng tôi đi bộ khoảng 2-3 km nữa thì thấy dốc lên núi. Chúng tôi vào nhìn thấy một dãy lớn nho nhỏ của Ban chỉ huy. Chúng tôi gặp các đồng chí ấy và báo cáo lại tinh thần của Bộ tư lệnh là như vậy, thế rồi các đồng chí ấy bố trí cho 2 chúng tôi một phòng có 2 phản nằm, để ba lô nghỉ ngơi. Rửa chân tay mặt mũi xong thì các đồng chí ấy đã huy động quân và cáng để vận chuyển hàng vào. Chúng tôi cùng các đồng chí ấy khênh cáng thiết bị vào, để tạm ở lán dưới chân núi. Đêm hôm ấy được nghỉ ngơi thỏa mái và cũng thấy mệt mỏi.

Sáng hôm sau dậy sớm, ăn sáng xong là chúng tôi cùng các đồng chí ở trạm chuyển thiết bị lên hang. Đây là đoạn đường ngắn nhưng lại khó, thế là phải cho vào ba lô cõng vào hang. Khung máy dài, nặng nên phải khênh và buộc dây kéo lên. Vận chuyển xong, đêm ấy chúng tôi cho dựng máy luôn và lắp hộp vào. Từ ngày hôm sau trở đi là suốt ngày đêm chúng tôi làm việc trong hang máy. Kiểm tra, đo đạc, sửa chữa, hướng dẫn các đồng chí ở trạm và đầu ở Hà Nội A40.

Hai mươi ngày đêm liên tục, chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ, lắp đặt, kiểm tra, sửa chữa, khai thác, hướng dẫn thiết bị mới cho cả hai nơi: Hà Nội - A72, A72 - Hà Nội, xong báo cáo Bộ tư lệnh. Sau đó, Bộ tư lệnh lại điện vào, các đồng chí cùng với trạm kiểm tra sửa chữa, khai thác các thiết bị hiện có của trạm, từ đó ra Hà Nội và vào tiền phương. Chúng tôi làm trong vòng một tháng xong hết báo cáo thì Bộ tư lệnh chỉ thị các đồng chí tiếp tục ở đó giúp cho trạm, khi nào có xe ra thì Bộ tư lệnh báo trước cho các đồng chí biết.

Thời gian này, đôi lúc nhàn rỗi, đi ngắm vùng núi và sang đơn vị thanh niên xung phong chơi. Thấy hầu hết là nữ và nhiều đồng chí bệnh tật, đầu trọc vì rụng hết tóc, cuộc sống ở đây khó khăn, thiếu rau, thiếu nước sinh hoạt. Một tháng sau khi hoàn thành nhiệm vụ, chúng tôi mới đi tắm, tìm mãi mới thấy một vũng nước chảy róc rách. Chúng tôi phải lấy mũ cối hứng để tắm. Cũng may là thời tiết ở đây lạnh nên không cần tắm mấy cũng được.

Chờ mãi đến tháng 6 năm 1971 mới nhận được lệnh là các đồng chí đi ra trạm sửa chữa ô tô tiền phương, chờ có đoàn xe của Tổng cục Hậu cần thì lên xe ra Hà Nội. Thế là chúng tôi tạm biệt các đồng chí ở trạm và đi ra trạm sửa chữa xe, cũng gần đó khoảng độ hơn chục km. Thấy có đoàn xe của Tổng cục Hậu cần ở đó rồi, tôi báo cáo các đồng chí ấy cho đi nhờ. Đi theo đoàn này lâu quá, mất tới hơn tuần mới ra tới Hà Nội, về Trung đoàn 134 báo cáo và trả lại vũ khí trang bị, lĩnh phụ cấp, nghỉ ngơi, đến 20 tháng 6 thì về Nhà máy. Lúc này đã thấy đông hơn, có tới gần 20 thợ ở M1 về và một số các đồng chí ở Trường Đại học Quân sự. Mới có 2 gian nhà sửa chữa điện thoại từ thạch và máy vô tuyến điện, còn lại vẫn nguyên.

Đây là đoàn đi lưu động đầu tiên của Nhà máy Thông tin M3. Nhiều năm sau đó, kể cả sau hòa bình, có rất nhiều đoàn đi sửa chữa lưu động. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm của Nhà máy được Bộ Quốc phòng, Bộ tư lệnh giao cho, được thế hệ trẻ của Nhà máy Thông tin M3 đảm nhận.

Vào tới nơi công tác tôi có làm một bài thơ tặng các em gái ngã ba Đồng Lộc:

TẶNG EM GÁI NGÃ BA ĐỒNG LỘC

Đồng Lộc em gái yêu ơi

Tung lên dập xuống anh ngồi trong xe

Nghe em tiếng nói rè rè

Sang phải, rẽ trái, xe đi an toàn

Qua rồi vẫn thấy bàng hoàng

Thương em ở mãi cung đường cùng xe

Năm 1971

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức người M3”) 

0 comments:

Đăng nhận xét