23.5.25

Đường cụt

Lại Văn Hay – nguyên giáo viên, Khối trưởng học viên Trường Văn hóa Binh chủng Thông tin

Từ chiến trường ra Bắc, nghỉ phép năm xong, ngày 5-7-1976, tôi có mặt ở Nhà máy Thông tin M3 nhận công tác...

Nhà giáo Lại Văn Hay

Trung tuần tháng 12-1976 thì khánh thành Nhà máy. Tối đến, Nhà máy Thông tin M3 nổi lên ở khu vực đập Xuân Khanh, xã Mỹ Chung như một thiên đàng. Chiều 22-12-1976 là ăn mừng khánh thành nhà máy. Anh hùng Đặng Đức Song Giám đốc nhà máy M1 cũng ngồi cùng mâm chúng tôi.

Hôm sau, ngày 23-12, cả nhà máy im ỉm, hầu như mất sức chiến đấu. Riêng tôi lại rực lửa chiến đấu. Vì anh Tất Thắng đưa cho quyết định chuyển về Trường Văn hóa Thông tin ở ngã ba Cầu Chui, chợ Ô Cách. Sáng đó bàn giao béng, hai phút là xong. Khoác ba lô đi khắp các cửa phòng của khu tập thể, đi các nhà khu gia đình chào tạm biệt.

Vợ con biết tin về Gia Lâm, mừng quýnh.

Chiều muộn 1-1-1977 tôi có mặt ở Trường Văn hóa Binh chủng Thông tin. Ngày tết tây, đơn vị được nghỉ, vắng tanh. Cảnh chiều đông giá rét, lạ nước lạ cái, tôi cảm thấy buồn tẻ. Khoác ba lô vào nhà chỉ huy - một cái nhà ba gian, nền cao, rộng rãi, hạ trần hướng Nam. Gian bên Đông là ba đồng chí chỉ huy ở. Gian bên Tây là tổ giáo viên toán ở. Gian giữa to rộng bằng cả hai gian Đông Tây cộng lại, có một cái hiên to. Hai gian Đông Tây trổ cửa ra hiên. Gian giữa dùng làm phòng hội đồng. Bảng lịch công tác tuần, bảng phân công giảng dạy, bảng thông báo... treo ở tường. Hai cửa sổ đằng sau to rộng như cửa ra vào, trong kính ngoài chớp. Sau mới biết đây vốn là nhà của thằng Tây trắng, chỉ huy trưởng sân bay Gia Lâm. Năm 1954, bộ đội Trung đoàn Thủ đô tiếp quản. Chỉ huy đơn vị của anh hung Bùi Quang Mại đóng ở đó.

Vào phòng chỉ huy, anh giới thiệu: Tôi là Lâm Châu, Chính trị viên Nhà trường. Anh Trần Phong Diệu là trợ lý văn hóa của Bộ tư lệnh, biệt phái sang phụ trách chuyên môn. Anh Nguyễn Thanh Lạc phụ trách hậu cần. Có các tổ: anh Nhân tổ Toán, anh Mậu tổ Lý, anh Ngọc tổ Hóa Sinh, anh Thưởng tổ Văn Sử Địa, anh Nhưng tổ trưởng giáo viên cấp 2. Đồng chí ở tổ Toán giáo viên cấp 3 do anh Nhân phụ trách. Sau khi nhận phòng và đồ dùng cá nhân, tôi sang phòng hội đồng, thì gặp anh Huy.

Anh cho biết anh quê phố Sặt, là công nhân viên quốc phòng do bên Quân lực quản lý. Tổ Toán có anh Nhân, Huột, Tế. Tổ giáo viên cấp 2 có anh Nhưng, anh Mỹ, chị Loan - vợ nhà thơ Quang Chuyền.

Tối đến, anh em ở tập thể về đông đủ. Mọi người đến chơi hỏi thăm đồng chí mới là Lại Văn Hay tôi. Số giáo viên nội trú ở cái nhà ngói cổ ba gian, cạnh phía bên Tây. Trước đây thằng Tây làm cho vợ nó người Việt Nam thờ cúng. Còn tổ giáo viên ở nhờ nhà dân lân cận.

Trường có bốn khu vực, ở xen với dân.

Bấy giờ thực hiện chế độ bồi dưỡng theo giờ dạy. Tôi dạy hai lớp 8 mỗi tuần 20 tiết, tháng nào cũng được mì tôm, đường, sữa; sữa nhiều nhất tổ giáo viên. Không đủ hàng bồi dưỡng thì lĩnh tiền mặt. Tháng hai ba lần phát bồi dưỡng mang về cho vợ con. Đường phải đựng vào hũ nước mắm gắn xi măng, dùng đũa cái nhồi chặt như nêm, lấy lá chuối khô đậy miệng cho nửa hòn gạch lục chèn vào. Mỗi hũ đường để vào cái trôn chum chĩnh vỡ, đổ ít nước. Kiến gián chuột cứ bò xung quanh mà khóc.

Năm 1978 có khối luyện thi đại học khá đông và quy mô. Bộ tư lệnh điều hẳn một thiếu úy của e132 về phụ trách. Hết khóa, anh em thi đại học ra trường về đơn vị chờ kết quả.

Tháng 11-1978, anh Châu điều tôi xuống phụ trách khối luyện thi. Lúc ấy có cả cô Thược dạy Lý và cô Băng dạy văn. Tài nghệ hài hước của hai cô này miễn chê. Được phụ họa trêu anh Châu làm tôi khoái.

Năm 1978, anh Nguyễn Thi lúc ấy về làm hiệu phó thay anh Lạc, trao cho tôi quyết định Thiếu úy. Bàn giao việc dạy cho cô Ngân, tôi nhận công tác trưởng khối luyện thi đại học, địa điểm ở làng Lệ Mật. Ông Kịch Đội trưởng Đội 6 cho mượn nhà thờ họ Trương, sư Đinh cho mượn nhà khách của chùa để làm hai lớp học cho khối B, cụ Tính già làng cho mượn tào mạc đình để làm lớp học cho hai lớp khối A. Ông Quế giáo viên chuyên trách bổ túc văn hóa xã cho mượn nhà văn hóa làm lớp học cho hai lớp khối A. Khối C có 14 học sinh, học trên hiệu bộ. Vậy là xong hội trường cho 7 lớp học. Khóa luyện thi là 4 tháng rưỡi. Kết thúc khóa học có nói chuyện ngoại khóa.

Hồi tôi mới về Trường Văn hóa (1976), cứ gọi là trường cho oai chứ thực ra ở bên Bộ tư lệnh các anh vẫn gọi là Lớp Văn hóa. Kể cũng hơi miệt thị. Lớp gì mà lại có 2 lớp 10, 2 lớp 9, 2 lớp 8 và một lớp cấp 2? Từng vụ lại có khối luyện thi đại học cho khối A, B, C ba bốn trăm quân nhân chứ đâu có ít gì? Cả cán bộ, giáo viên, nhân viên phục vụ có ngót nghìn người. “Lớp văn hóa” là một bộ phận của Ban Tuyên huấn thuộc Phòng Chính trị của Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc, nó tương đương như một đại đội.

Cuối năm 1979, anh Châu phái tôi đến Trường Văn hóa của Quân khu Thủ đô nắm tình hình để sáp nhập với họ. Bẵng đi một thời gian không thấy gì, bộp một cái, ngày 1-1-1980 có quyết định của Cục Nhà trường thành lập Trường Văn hóa Thông tin, ngang cấp trung đoàn. Có triện tròn đàng hoàng. Nhiệm vụ là thu nhận học sinh của Binh chủng Thông tin, Hóa học, Đặc công và cơ quan Bộ Tổng Tham mưu. Tổ chức của Nhà trường gồm Ban giám hiệu có hiệu trưởng (là anh Nguyễn Đăng Ô) và các hiệu phó, chính trị viên. Dưới Ban giám hiệu là các ban khoa: Ban Giáo vụ, Khoa Giáo viên, Ban Chính trị, Ban Hậu cần. Học viên có 4 khối: khối 8, khối 9, khối 10 và khối luyện thi đại học. Trường tổ chức 3 bếp ăn ở 3 khu: Lệ Mật, Kim Quan, Trường Lâm. Bếp Trường Lâm là bếp ăn hiệu bộ. 

Năm 1981, anh Hậu ở Đoàn 4 về học văn hóa. Giữa năm 1982 anh được phong Đại úy. Học xong lớp 10, anh về 139 rồi làm Bí thư Đảng ủy Binh chủng Thông tin liên lạc. Rồi sau này anh lên đến Thiếu tướng, Chính ủy Binh chủng Thông tin.

Giữa năm 1982 anh Ô nghỉ hưu, anh Cao Ngọc Thụy về thay hiệu trưởng. Trường Văn hóa ít học viên dần qua từng năm. Năm 1985, tôi thôi Khối trưởng học viên (tướng không có quân), rồi Hiệu trưởng Nguyễn Xuân Nhuận bảo: “Đảng ủy thì ai cũng làm được nhưng làm rẫy thì... Cậu đi Kim Quan làm rẫy”. Thực ra, rẫy là khu đất tăng gia của Trường, ruộng trồng lúa, bờ trồng bí ngô. Tôi không có lựa chọn khác, phải chấp hành. Hai năm sau, Trường Văn hóa có quyết định giải thể, tôi về hưu khi mới 48 tuổi. Đường quân ngũ cụt từ đây.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Miền ký ức không phai”) 

0 comments:

Đăng nhận xét