27.5.25

Mã vùng 069 và những tổng đài kỹ thuật số quân sự đầu tiên

Trung tướng Nguyễn Chiến - nguyên Tư lệnh Binh chủng Thông tin liên lạc

Mạng thông tin kỹ thuật số quân sự đã được Binh chủng Thông tin liên lạc đưa vào khai thác, sử dụng 20 năm nay. Nhớ lại những ngày đầu tiên tổ chức, triển khai thực hiện kế hoạch số hoá mạng thông tin quân sự đã để lại trong tôi những kỷ niệm sâu sắc, nhất là mỗi lần cầm tổ hợp ấn mã vùng 069.

Những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, khi nguồn viện trợ quân sự của Liên Xô cũ cho quân đội ta không còn, các cơ sở đào tạo đội ngũ cán bộ thông tin quân sự cho Việt Nam tại Liên Xô tạm dừng. Đây cũng là thời điểm đầu của công cuộc đổi mới đất nước, thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Song ở thời điểm này, Hoa Kỳ vẫn duy trì cấm vận kinh tế đối với nước ta. Vì vậy, việc mua sắm trang thiết bị khí tài thông tin quân sự gặp rất nhiều khó khăn. Trong khi đó khoa học công nghệ, nhất là lĩnh vực viễn thông bước đầu phát triển mạnh, với chiến lược tăng tốc đi thẳng vào kỹ thuật hiện đại - kỹ thuật số.

Từ tình hình chung của đất nước và quân đội, đối với thông tin quân sự vẫn phải duy trì và thực hiện phương châm: cải tiến, giữ tốt dùng bền các trang bị hiện có (thế hệ kỹ thuật tương tự - analog) và từng bước hiện đại trang bị khi điều kiện đầu tư cho phép. Những năm đó, mỗi năm Binh chủng chỉ được dành từ 5 đến 7% ngân sách cho toàn ngành vào việc đầu tư mua sắm trang bị kỹ thuật thông tin; thật quá ít so với yêu cầu đổi mới trang bị. Trong khi nhiệm vụ bảo đảm thông tin đặt ra đối với Binh chủng rất lớn; vừa phải bảo đảm thông tin phục vụ lãnh đạo, chỉ huy thường xuyên từ Bộ Tổng Tham mưu và Bộ Quốc phòng đến các đơn vị thông tin toàn quân, vừa phải thực hiện những nhiệm vụ đột xuất (kế hoạch A, A2, A3...) trong điều kiện chất lượng hệ thống hạn chế, khí tài lạc hậu, không đồng bộ, nhiều chủng loại.

Trong kế hoạch công tác năm 1992, tập thể Đảng ủy và Thủ trưởng Bộ tư lệnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành phát huy năng lực, tính chủ động, sáng tạo của lực lượng thông tin trực thuộc và toàn quân; tạo được sự nhất trí cao trong quá trình tổ chức thực hiện. Tận dụng các điều kiện thuận lợi, từng bước khắc phục khó khăn để xây dựng Binh chủng và hệ thống thông tin quân sự ngày càng phát triển toàn diện.

Tôi còn nhớ, vào một ngày đầu xuân năm 1992, tôi được thay mặt lãnh đạo, chỉ huy Binh chủng, trực tiếp báo cáo đồng chí Bộ trưởng Đoàn Khuê và cơ quan Bộ Tổng Tham mưu - Bộ Quốc phòng về quyết tâm bảo đảm thông tin liên lạc của Binh chủng Thông tin; trong đó có kế hoạch đổi mới trang thiết bị, từng bước tiến hành hiện đại hóa hệ thống thông tin quân sự. Được đồng chí Bộ trưởng và các cơ quan Bộ Quốc phòng nhất trí, đánh giá cao quyết tâm của Binh chủng và chỉ đạo các cơ quan Bộ Tổng Tham mưu - Bộ Quốc phòng tăng cường đầu tư cho Binh chủng Thông tin để thực hiện kế hoạch, cùng Binh chủng xin ngân sách Nhà nước.

Đầu xuôi thì đuôi lọt, tôi nghĩ thế, nhưng trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ cũng không hề đơn giản, nhất là trong việc mua sắm trang bị mới. Làm thế nào để chọn được loại trang bị hiện đại đáp ứng yêu cầu quân sự vừa bảo đảm trước mắt, vừa đáp ứng nhiệm vụ phát triển của hệ thống lâu dài. Trong điều kiện nước ta còn nghèo, đầu tư cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng còn hạn chế; không thể ngay một lúc có thể thay thế một thế hệ khí tài thông tin quân sự được (kể cả những nước có tiềm lực cũng khó vì trang bị khí tài quân sự rất đắt).

Tại thời điểm này, lãnh đạo, chỉ huy Binh chủng đã xác định: Tập trung đổi mới hệ thống thông tin cố định, cơ động, bảo đảm thông tin liên lạc cho Bộ Tổng Tham mưu Bộ Quốc phòng chỉ huy các cấp chiến lược, chiến dịch và khả năng sẵn sàng chiến đấu cho các đơn vị làm nhiệm vụ A2, A3. Đi ngay vào kỹ thuật tiên tiến (kỹ thuật số); tranh thủ nguồn đầu tư của Bộ Quốc phòng và của Nhà nước. Phát huy tối đa hệ thống thông tin Nhà nước phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, xây dựng mạng thông tin quân sự độc lập tương đối phù hợp với nhiệm vụ được giao trong thời bình và sẵn sàng bảo đảm khi có chiến tranh xảy ra.

Nhiều vấn đề được đặt ra trong tổ chức thực hiện phải tính toán thật kỹ, chọn loại khí tài, công nghệ gì, đối tác nào để đầu tư cho hệ thống thông tin cố định hay thông tin cơ động cho phù hợp và mức độ đầu tư như thế nào trong lúc kinh nghiệm của chúng ta còn hạn chế, đội ngũ cán bộ kỹ thuật sâu về chuyên ngành chưa nhiều.

Đề án cải tạo, nâng cấp, hiện đại hoá trang thiết bị thông tin quân sự đã được Bộ Quốc phòng phê duyệt. Với hệ thống thông tin cố định, Binh chủng tập trung triển khai 3 tổng đài kỹ thuật số trung tâm đầu tiên tại 3 khu vực: miền Bắc (Sở chỉ huy thường xuyên Bộ Tổng Tham mưu Bộ Quốc phòng thành Hoàng Diệu), miền Nam (Sở chỉ huy Bộ Quốc phòng Tân Sơn Nhất), miền Trung (Đà Nẵng). Chọn hãng Alcatel của Pháp và hãng Siemens của Đức là 2 đối tác có công nghệ tiên tiến phù hợp với sự phát triển chung của mạng lưới thông tin quốc gia, nhiệm vụ thông tin quân sự trước mắt cũng như lâu dài.

Tại Hà Nội, Binh chủng chọn tổng đài kỹ thuật số đầu tiên của hãng Alcatel (Pháp). Việc đặt tổng đài ở đâu cũng cần phải cân nhắc vì lúc đó A40 đặt ở ngoài Thành - xa sở chỉ huy thường xuyên của Bộ Tổng Tham mưu Bộ Quốc phòng. Nhưng nếu lắp đặt tại khu A (trong Thành Hoàng Diệu), thời gian đầu do chuyên gia kỹ thuật của hãng Alcatel lắp đặt nên cũng có một số cơ quan Bộ Quốc phòng phân vân... Tuy Bộ Tổng Tham mưu nhất trí về vị trí lắp đặt, nhưng trong buổi làm việc, Trung tướng Nguyễn Thế Bôn - Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam phụ trách nội bộ Thành có nói: các đồng chí phải tính kỹ nhé, có thể sau 10 năm nữa là phải di chuyển đấy (năm 2003, Sở chỉ huy Bộ Tổng Tham mưu Bộ Quốc phòng đã di chuyển sang khu vực hiện nay). Binh chủng đã chọn vị trí lắp đặt tổng đài kỹ thuật số tại khu làm việc của Tiểu đoàn 75 thuộc Lữ đoàn 205 hiện nay trong khu A (Sở chỉ huy thường xuyên Bộ Tổng Tham mưu Bộ Quốc phòng).

Với chủ trương vừa làm, vừa học, coi quá trình triển khai là quá trình chuyển giao công nghệ, Binh chủng đã cử các kỹ sư trẻ sang Pháp học tập, nghiên cứu tài liệu, thiết kế kỹ thuật. Khi về nước đã theo sát chuyên gia Pháp trong quá trình lắp đặt, cài đặt chương trình. Tổ chức học tập bổ sung trong quá trình khai thác sử dụng, quản lý sau này. Tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình vận hành, khai thác tổng đài. Chính vì vậy tổng đài kỹ thuật số đầu tiên đã được đưa vào sử dụng đúng thời gian, chất lượng tốt.

Trong quá trình triển khai lắp đặt tổng đài kỹ thuật số đầu tiên tại Hà Nội, một yếu tố rất quan trọng nữa là sự phối hợp và tranh thủ sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Tổng cục Bưu điện. Về cơ bản trong quá trình triển khai thuận lợi, nhưng cũng có lúc chúng tôi phải trao đổi và thảo luận nhiều lần về những vấn đề kỹ thuật cụ thể. Nhất là những yêu cầu khi đấu nối hoà mạng vào hệ thống tổng đài kỹ thuật số hiện hành của Tổng cục Bưu điện. Tổng đài kỹ thuật số của quân đội phải tương thích đáp ứng được yêu cầu hiện tại và phát triển của hệ thống thông tin quốc gia sau này. Riêng về sử dụng "Kho số” lúc đầu cơ quan Tổng cục Bưu điện chưa đồng ý cho ta sử dụng mã vùng riêng, mà yêu cầu tổng đài quân sự khu vực nào thì sử dụng mã vùng của tỉnh, thành phố ở khu vực gần nhất (thuộc kho số của tỉnh). Điều này sẽ hạn chế về sử dụng cùng sự phát triển hệ thống thông tin quân sự sau này.

Một ngày trước khi khánh thành đưa vào khai thác sử dụng tổng đài kỹ thuật số tại Thành Hoàng Diệu, đồng chí Mai Liêm Trực (khi đó là Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện) mới đồng ý cho quân sự sử dụng mã vùng riêng 069 như mã vùng của tỉnh trong hệ thống chung của Nhà nước như Binh chủng đề xuất, mà hiện nay vẫn đang sử dụng.

Sau khi triển khai lắp đặt tổng đài ở Hà Nội xong, Binh chủng chuẩn bị lắp đặt 2 tổng đài trung tâm ở miền Trung và miền Nam. Để giải quyết khó khăn về ngân sách, Binh chủng đã mời đồng chí Nguyễn Sinh Hùng (Bộ trưởng Bộ Tài chính) vào thăm, báo cáo về tình hình, kế hoạch triển khai lắp đặt tổng đài của cả 3 khu vực và mong có sự chi viện của Bộ Tài chính về ngân sách. Đồng chí Nguyễn Sinh Hùng đã gợi ý Bộ Quốc phòng nếu đồng ý sẽ cho Binh chủng Thông tin "vay" tiền, tạo điều kiện để Binh chủng triển khai lắp đặt hai tổng đài trung tâm kỹ thuật số ở 2 khu vực còn lại. Kết quả, Binh chủng Thông tin đã hoàn thành nhiệm vụ sớm hơn kế hoạch dự kiến 1 năm. Sau này nhiều lần làm việc gặp lại đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, anh vẫn nhắc vui tôi: "Anh Chiến còn nợ tôi đấy nhé".

Tôi chỉ biết cười và cảm ơn về sự giúp đỡ kịp thời có hiệu quả của anh đối với Binh chủng Thông tin liên lạc; tạo điều kiện cho Binh chủng hoàn thành triển khai hệ thống thông tin quân sự kỹ thuật số cố định, nâng cao năng lực đảm bảo thông tin liên lạc kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn phục vụ Đảng, Nhà nước và quân đội trong mọi tình huống.

Song song với việc triển khai 3 tổng đài kỹ thuật số ở 3 trung tâm Bắc - Trung - Nam hoà mạng với hệ thống thông tin quốc gia và các tổng đài vệ tinh cấp chiến lược, chiến dịch; thông tin thường xuyên quân sự đã có bước nhảy vọt về chất.

Cùng với hệ thống thông tin quân sự cố định, Binh chủng cũng tổ chức mua sắm một số khí tài kỹ thuật số phục vụ cho nhiệm vụ cơ động sẵn sàng chiến đấu, trang bị được đưa ra sử dụng thử nghiệm cho các đơn vị làm nhiệm vụ theo kế hoạch A3. Chuẩn bị đề án nhập dây chuyền lắp ráp thiết bị thông tin cơ động quân sự báo cáo Bộ Quốc phòng.

Qua công việc trên đã tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật của Binh chủng nhanh chóng tiếp cận làm chủ trang bị kỹ thuật mới, ngày càng tiến bộ trưởng thành, trở thành lực lượng nòng cốt trong lĩnh vực điện tử viễn thông tin học của một binh chủng kỹ thuật trong quân đội, góp phần hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, quân đội giao cho Binh chủng.

Mỗi một chặng đường đã qua, mỗi một công việc đã làm đều để lại trong tôi và trong mỗi cán bộ, chiến sĩ Binh chủng Thông tin liên lạc những kỷ niệm sâu sắc khó quên. Tôi trân trọng ghi lại những dòng ký ức đáng nhớ này về một thời được phục vụ và trưởng thành trong Binh chủng Thông tin liên lạc anh hùng.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn "Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2") 

0 comments:

Đăng nhận xét