24.5.25

Nhớ về Tổ Tải ba Phòng Kỹ thuật Nhà máy Thông tin M3

Vũ Văn Tiến - nguyên Phó Giám đốc Nhà máy Thông tin M3

Đầu năm 1981 tôi được Ban Giám đốc Nhà máy điều từ Phân xưởng Tải ba về Phòng Kỹ thuật khi đó đồng chí Mai Đang là Trưởng phòng, thế là sau 5 năm làm việc tại Phân xưởng Tải ba tôi lại được trở về nơi đầu tiên mà tôi đến.

Về nhận công tác được ít hôm thì tôi được cử làm Tổ trưởng Tổ Tải ba, khi đó đồng chí Hàn Ngọc Ích là Tổ trưởng Tổ Cơ khí. Làm việc ở Phòng Kỹ thuật một thời gian thì đồng chí Mai Đang được trên bổ nhiệm làm Phó Giám đốc Nhà máy, và Nhà máy cũng bổ nhiệm đồng chí Hàn Ngọc Ích làm Trưởng phòng Kỹ thuật, tôi được bổ nhiệm làm Phó trưởng Phòng Kỹ thuật, đến kỳ Đại hội Chi bộ tôi được bầu làm Bí thư Chi bộ Phòng Kỹ thuật.

Việc đầu tiên Tổ Tải ba Phòng Kỹ thuật được giao là nghiên cứu sản xuất Bàn chỉ huy đảm bảo cho các sở chỉ huy của các quân binh chủng, các đặc khu, thông qua mạng lưới thông tin để chỉ huy các đơn vị trực thuộc. Chúng tôi được giao làm theo mẫu của Bàn chỉ huy đặt tại Sở chỉ huy của Binh chủng Thông tin ở số 1 Giang Văn Minh. Năm ấy là năm 1981, chiến tranh biên giới Việt - Trung mới nổ ra ngày 17/02/1979 và kết thúc ngày 16/3/1979, song xung đột vũ trang tại biên giới giữa hai nước vẫn còn tiếp diễn thêm hơn 10 năm nữa, tới năm 1991 mới bình thường hóa quan hệ hai nước và kết thúc chiến tranh.

Việc nghiên cứu sản xuất Bàn chỉ huy theo nhiệm vụ đã được Tổ Tải ba Phòng Kỹ thuật thực hiện khẩn trương. Tôi được giao về Bộ tư lệnh Thông tin vẽ mẫu, đo kích thước và tìm hiểu về sơ đồ mạch điện Bàn chỉ huy. Khi đó tôi vào Ban Sở chỉ huy của Binh chủng Thông tin và được làm việc với đồng chí Nguyễn Chiến là Phó Ban Sở chỉ huy, thông qua giới thiệu của đồng chí Nguyễn Chiến và được xem kỹ mẫu Bàn chỉ huy - tôi nắm được đầy đủ. Tôi quay về Nhà máy và cùng các đồng chí Tổ Tải ba vẽ sơ đồ mạch điện và chuẩn bị vật tư, tôi vẽ sơ đồ tạo dáng và bố trí các núm nút chuyển sang cho đồng chí Bùi Ngọc Thành - Tổ Cơ khí vẽ bản vẽ gia công. Thời gian không lâu sau sản phẩm Bàn chỉ huy đã hoàn thành, được nghiệm thu và đưa vào sản xuất theo số lượng đặt hàng của Binh chủng Thông tin. Đồng chí Hàn Ngọc Ích và một số đồng chí Phòng Kỹ thuật và Phòng Vật tư đã trực tiếp áp tải sản phẩm Bàn chỉ huy do Nhà máy Thông tin M3 sản xuất đến giao cho Sở chỉ huy Đặc khu Quảng Ninh thời bấy giờ.

Đề tài nghiên cứu sản xuất máy ghép kênh 3 đường GK-3 bắt đầu được thực hiện khi đồng chí Phó Tiến sỹ Phạm Ngọc Thụ, trên cương vị là Chủ nhiệm đề tài, đại diện cho bên nghiên cứu là Trường Đại học Bưu điện lên làm việc với Nhà máy Thông tin M3 là bên sản xuất để chuyển giao tiến bộ kỹ thuật sẽ áp dụng cho sản xuất máy ghép kênh GK-3, Tôi là Phó Chủ nhiệm đề tài, người đại diện cho bên sản xuất đã trực tiếp nhận bàn giao các tiến bộ kỹ thuật mà đồng chí Phạm Ngọc Thụ giao cho Nhà máy M3.

Tiến bộ kỹ thuật thứ nhất là hệ thống cung cấp sóng mang cho máy GK-3 sẽ chế tạo khác hệ thống cung cấp sóng mang máy VBO-3, không dùng nhiều bộ dao động riêng lẻ và không dùng bộ tạo hài 4 kHz nữa. Nguyên lý của mạch sóng mang kiểu mới là áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới, theo một “pa-tăng” của Pháp, do đồng chí Quang - Viện Khoa học Bưu điện, thực tập sinh tại Pháp chuyển giao cho Đại học Bưu điện, trong đó mấu chốt là một mạch “trừ xung”. Tôi là người tiếp nhận mạch tạo sóng mang theo kỹ thuật mới từ đồng chí Phạm Ngọc Thụ. Mạch này dùng bộ dao động chủ 108 kHz, thạch anh vỏ thủy tinh đặt trong hộp sấy. Thông qua trừ và chia đã tạo được đầy đủ các tần số sóng mang cho máy ghép kênh 3 đường GK-3. Tôi đã nghiên cứu và đề xuất với đồng chí chủ nhiệm đề tài là nên cải tiến thêm. Tôi dùng dao động 1 MHz (1000kHz) cũng dùng mạch trừ và chia ra đủ các tần số sóng mang cho máy GK-3. Nhưng ưu việt hơn nhiều so với mạch dùng dao động chủ 108 kHz. Ưu việt thứ nhất là thạch anh vỏ nhôm, không cần hộp sấy nhiệt, ưu việt thứ hai là tần số cao hơn nhiều so với tần số 108 kHz nên sau khi thực hiện phép trừ xung sẽ chia nhiều lần và biên độ sóng hài không dùng sẽ rất nhỏ, các đốt lọc sau để chọn sóng hình sin sẽ rất đơn giản. Tôi đã lắp một bộ theo phương án tôi cải tiến đã đạt chất lượng tốt hơn hẳn bộ ban đầu. Đồng chí Phạm Ngọc Thụ - Chủ nhiệm đề tài sau khi xem xét và đo đạc trực tiếp bằng máy đo tần số và máy hiện sóng đã đồng ý đề xuất cải tiến của tôi. Để cẩn thận hơn chúng tôi đã ghép các sóng mang đã tạo theo phương án mới vào máy tải ba VBO-3 kết quả điều chế các cấp tốt. Như vậy là một việc khó khăn nhất đã được giải quyết.

Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật thứ hai là bộ rẽ mạch điện trở thay cho bộ rẽ mạch biến áp của máy VBO-3. Như vậy mỗi bộ rẽ mạch không còn là một hộp máy như trước, mà có thể ghép chung vào một bảng mạch.

Khi áp dụng hai tiến bộ kỹ thuật vào máy GK-3 thì mạch điện nguyên lý máy ghép kênh 3 đường GK-3 có phần khác với mạch điện nguyên lý của máy tải ba 3 đường VBO-3 của Hung-ga-ry.

Khi các vấn đề kỹ thuật quan trọng nhất của máy GK-3 đã được giải quyết, Tổ Tải ba khi ấy ngoài tôi và đồng chí Lưu Kim Vân ra còn có các đồng chí Nguyễn Hợp Trác, đồng chí Đoàn Kết, đồng chí Trương Văn Đề; đều là các kỹ sư tải ba có kinh nghiệm. Chúng tôi bắt đầu phân công mỗi người một việc và bắt tay vào chế thử một cặp máy GK-3. Đồng chí Lưu Kim Vân đã học ở Hung-ga-ry và thực tập ở Nhà máy sản xuất máy VBO-3, VB0-12 đảm nhận phần thiết kế và thi công hệ thống cáp cho ngăn tạo sóng mang và hệ thống cáp toàn máy. Đây là công việc khó, nếu người chưa có kinh nghiệm thì làm mất nhiều thời gian. Các vấn đề còn lại không có gì khó với các đồng chí kỹ sư ở Tổ Tải ba, mọi việc được thực hiện khá nhanh. Đồng chí Bùi Ngọc Thành đảm nhận khâu thiết kế cơ khí cũng rất tích cực. Phân xưởng cơ khí, sơn mạ khi ấy đồng chí Lưu Mạnh Đạt làm Quản đốc cũng rất quan tâm ủng hộ nhóm nghiên cứu sản xuất máy GK-3 nên cặp máy GK-3 đầu tiên cũng nhanh chóng hoàn thành và được đưa đi thử khai thác trên tuyến.

Đầu tiên máy được lắp đặt thử tại trạm A40, hầm máy ngay trong khu vực Bộ tư lệnh Thông tin, do Lữ đoàn 205 quản lý, và trạm A49 Sơn Tây do Lữ đoàn 134 quản lý. Máy được kết luận đạt chất lượng tốt. Sau máy lại được khai thác thử theo tuyến Bưu điện Hà Nội và Bưu điện Thái Bình, máy cũng được kết luận là tốt. Những năm sau, máy ghép kênh GK-3 được đưa tiếp lên vùng biên giới, đặt khai thác theo tuyển Bưu điện tỉnh Lạng Sơn đến Bưu điện huyện Đình Lập, độ dài tuyến khoảng 54 km. Kết quả khai thác khẳng định chất lượng máy tốt.

Năm 1982 – 1983 chiến tranh biên giới phía Bắc vẫn còn tiếp diễn, quân tình nguyện Việt Nam vẫn còn ở Campuchia, nhu cầu về sửa chữa máy tải ba vẫn còn, Nhà máy M3 vẫn có đơn hàng đại tu máy tải ba 3 đường và 12 đường. Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc có nhu cầu về xe tải ba 12 đường cơ động, vì số xe tải ba 12 đường cơ động do Liên Xô viện trợ cho Binh chủng không nhiều.

Bộ tư lệnh Thông tin giao nhiệm vụ cho Nhà máy M3 nghiên cứu sản xuất xe tải ba 12 đường cơ động. Nhiệm vụ này đã được đăng ký chính thức thành đề tài cấp Bộ Quốc phòng, Nhà máy giao cho tôi làm Chủ nhiệm đề tài, đồng chí Lưu Kim Vân làm Phó Chủ nhiệm đề tài, các kỹ sư tham gia gồm có đồng chí Nguyễn Hợp Trác, đồng chí Đoàn kết, đồng chí Trương Văn Đề, đồng chí Bùi Ngọc Thành Tổ Cơ khí Phòng Kỹ thuật.

Máy ghép kênh 12 đường GK-12 cơ động có độ phức tạp hơn máy ghép kênh đặt tĩnh GK-3, vì mạch điện của máy là ghép 4 nhóm 3 đường thành 12 đường, nên số cấp điều chế có tăng, số lượng sóng mang nhiều hơn, máy lại phải thiết kế đặt trên xe cơ động nên phải thiết kế chống rung xóc. Đầu tiên chúng tôi thử thiết kế và lắp ráp hệ thống sóng mang, vẫn theo phương án của máy GK-3 phát triển lên nhiều tần số sóng mang hơn, đủ các tần số sóng mang của máy ghép kênh 12 đường. Dao động chủ vẫn dùng dao động 1 MHz. Khi hệ thống sóng mang đã thử nghiệm hoạt động tốt chúng tôi mới triển khai thiết kế bố trí các khối, trong các khối là các ngăn hộp. Giữa các khối được kết nối với nhau theo cáp nhiều đôi và ổ cắm 30 chân. Lên bản vẽ tạo dáng công nghiệp cho sản phẩm GK-12 cơ động, bản vẽ GK-12 cơ động khi đặt trên xe ô tô, là loại xe thùng của Liên Xô, có cửa sổ hai bên thành và cửa mở 2 cánh phí sau. Các công việc được triển khai đồng bộ, vừa lắp ráp ngăn hộp mới vừa làm cáp la, các đồng chí cơ khí thiết kế bản vẽ gia công các khối máy. Kết quả cuối cùng Tổ Tải ba kết hợp với Tổ Cơ khí và lực lượng công nhân gia công cơ khí, sơn mạ ở Phân xưởng Cơ khí đã thực hiện xong việc nghiên cứu sản xuất máy ghép kênh 12 đường GK-12 cơ động. Sau khi thử máy hoạt động đặt tĩnh thấy tốt, máy được lắp lên xe cơ động và thử khai thác, kết quả khai thác đạt yêu cầu đặt ra của đề tài nghiên cứu. Đề tài được nghiệm thu và Nhà máy M3 nhận được đơn hàng sản xuất của Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc.

Như vậy là Tổ Tải ba Phòng Kỹ thuật trong những năm đầu của thập niên 80 luôn có đủ công ăn việc làm, công việc có tính khoa học, có một chút mới mẻ nên mọi thành viên trong Tổ rất phấn khởi.

Nhờ đâu mà Tổ Tải ba chúng tôi có được những nguồn vui trong công việc như thế? Điều đầu tiên phải kể đến là sự năng động sáng tạo, nhìn xa trông rộng của lãnh đạo chỉ huy Nhà máy, đứng đầu là đồng chí Giám đốc Võ Đặng, thứ đến mới là sự nỗ lực phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ của các thành viên trong Tổ.

Tôi xin nhờ đầu đề một bài hát Trung Quốc là “Ra khơi nhờ tay lái vững” mà người Trung Quốc thường hát ca ngợi lãnh tụ của họ, để khái quát về vấn đề nêu trên. Nhờ có “Tay lái vững của đồng chí Giám đốc Võ Đặng” nên Nhà máy Thông tin M3 trong những năm đầu thập niên 80 mới có những bước phát triển mạnh mẽ trong cả hai lĩnh vực sản xuất quốc phòng và kinh tế, là điểm sáng trong khu vực. Nhà máy lo đủ công ăn việc làm cho cán bộ công nhân viên, đời sống cán bộ công nhân viên Nhà máy được cải thiện đáng kể.

Tháng 10 năm 1984 tôi được Ban giám đốc Nhà máy điều về Phòng Kế hoạch của Nhà máy, kèm theo là quyết định bổ nhiệm Trưởng phòng. Tạm biệt nghề kỹ thuật, tôi lại chuyển sang trải nghiệm trong lĩnh vực mới, lĩnh vực quản lý kinh tế doanh nghiệp công nghiệp, cũng đúng với nghề tôi đã theo học trong 5 năm hàm thụ tại Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, tôi vui vẻ ra đi.

Hà Nội, những ngày giãn cách Covid tháng 8/2021

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức người M3”) 

0 comments:

Đăng nhận xét