Vũ Văn Tiến - nguyên Phó Giám đốc Nhà máy Thông tin M3
Đầu năm 1981 tôi được Ban Giám đốc Nhà máy điều từ
Phân xưởng Tải ba về Phòng Kỹ thuật khi đó đồng chí Mai Đang là Trưởng phòng,
thế là sau 5 năm làm việc tại Phân xưởng Tải ba tôi lại được trở về nơi đầu
tiên mà tôi đến.
Về nhận công tác được ít hôm thì tôi được cử làm Tổ
trưởng Tổ Tải ba, khi đó đồng chí Hàn Ngọc Ích là Tổ trưởng Tổ Cơ khí. Làm việc
ở Phòng Kỹ thuật một thời gian thì đồng chí Mai Đang được trên bổ nhiệm làm Phó
Giám đốc Nhà máy, và Nhà máy cũng bổ nhiệm đồng chí Hàn Ngọc Ích làm Trưởng
phòng Kỹ thuật, tôi được bổ nhiệm làm Phó trưởng Phòng Kỹ thuật, đến kỳ Đại hội
Chi bộ tôi được bầu làm Bí thư Chi bộ Phòng Kỹ thuật.
Việc đầu tiên Tổ Tải ba Phòng Kỹ thuật được giao là
nghiên cứu sản xuất Bàn chỉ huy đảm bảo cho các sở chỉ huy của các quân binh chủng,
các đặc khu, thông qua mạng lưới thông tin để chỉ huy các đơn vị trực thuộc.
Chúng tôi được giao làm theo mẫu của Bàn chỉ huy đặt tại Sở chỉ huy của Binh chủng
Thông tin ở số 1 Giang Văn Minh. Năm ấy là năm 1981, chiến tranh biên giới Việt
- Trung mới nổ ra ngày 17/02/1979 và kết thúc ngày 16/3/1979, song xung đột vũ trang
tại biên giới giữa hai nước vẫn còn tiếp diễn thêm hơn 10 năm nữa, tới năm 1991
mới bình thường hóa quan hệ hai nước và kết thúc chiến tranh.
Việc nghiên cứu sản xuất Bàn chỉ huy theo nhiệm vụ đã
được Tổ Tải ba Phòng Kỹ thuật thực hiện khẩn trương. Tôi được giao về Bộ tư lệnh
Thông tin vẽ mẫu, đo kích thước và tìm hiểu về sơ đồ mạch điện Bàn chỉ huy. Khi
đó tôi vào Ban Sở chỉ huy của Binh chủng Thông tin và được làm việc với đồng
chí Nguyễn Chiến là Phó Ban Sở chỉ huy, thông qua giới thiệu của đồng chí Nguyễn
Chiến và được xem kỹ mẫu Bàn chỉ huy - tôi nắm được đầy đủ. Tôi quay về Nhà máy
và cùng các đồng chí Tổ Tải ba vẽ sơ đồ mạch điện và chuẩn bị vật tư, tôi vẽ sơ
đồ tạo dáng và bố trí các núm nút chuyển sang cho đồng chí Bùi Ngọc Thành - Tổ Cơ
khí vẽ bản vẽ gia công. Thời gian không lâu sau sản phẩm Bàn chỉ huy đã hoàn
thành, được nghiệm thu và đưa vào sản xuất theo số lượng đặt hàng của Binh chủng
Thông tin. Đồng chí Hàn Ngọc Ích và một số đồng chí Phòng Kỹ thuật và Phòng Vật
tư đã trực tiếp áp tải sản phẩm Bàn chỉ huy do Nhà máy Thông tin M3 sản xuất đến
giao cho Sở chỉ huy Đặc khu Quảng Ninh thời bấy giờ.
Đề tài nghiên cứu sản xuất máy ghép kênh 3 đường GK-3
bắt đầu được thực hiện khi đồng chí Phó Tiến sỹ Phạm Ngọc Thụ, trên cương vị là
Chủ nhiệm đề tài, đại diện cho bên nghiên cứu là Trường Đại học Bưu điện lên
làm việc với Nhà máy Thông tin M3 là bên sản xuất để chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
sẽ áp dụng cho sản xuất máy ghép kênh GK-3, Tôi là Phó Chủ nhiệm đề tài, người
đại diện cho bên sản xuất đã trực tiếp nhận bàn giao các tiến bộ kỹ thuật mà đồng
chí Phạm Ngọc Thụ giao cho Nhà máy M3.
Tiến bộ kỹ thuật thứ nhất là hệ thống cung cấp sóng
mang cho máy GK-3 sẽ chế tạo khác hệ thống cung cấp sóng mang máy VBO-3, không
dùng nhiều bộ dao động riêng lẻ và không dùng bộ tạo hài 4 kHz nữa. Nguyên lý của
mạch sóng mang kiểu mới là áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới, theo một “pa-tăng” của
Pháp, do đồng chí Quang - Viện Khoa học Bưu điện, thực tập sinh tại Pháp chuyển
giao cho Đại học Bưu điện, trong đó mấu chốt là một mạch “trừ xung”. Tôi là người
tiếp nhận mạch tạo sóng mang theo kỹ thuật mới từ đồng chí Phạm Ngọc Thụ. Mạch
này dùng bộ dao động chủ 108 kHz, thạch anh vỏ thủy tinh đặt trong hộp sấy.
Thông qua trừ và chia đã tạo được đầy đủ các tần số sóng mang cho máy ghép kênh
3 đường GK-3. Tôi đã nghiên cứu và đề xuất với đồng chí chủ nhiệm đề tài là nên
cải tiến thêm. Tôi dùng dao động 1 MHz (1000kHz) cũng dùng mạch trừ và chia ra
đủ các tần số sóng mang cho máy GK-3. Nhưng ưu việt hơn nhiều so với mạch dùng
dao động chủ 108 kHz. Ưu việt thứ nhất là thạch anh vỏ nhôm, không cần hộp sấy nhiệt,
ưu việt thứ hai là tần số cao hơn nhiều so với tần số 108 kHz nên sau khi thực
hiện phép trừ xung sẽ chia nhiều lần và biên độ sóng hài không dùng sẽ rất nhỏ,
các đốt lọc sau để chọn sóng hình sin sẽ rất đơn giản. Tôi đã lắp một bộ theo
phương án tôi cải tiến đã đạt chất lượng tốt hơn hẳn bộ ban đầu. Đồng chí Phạm
Ngọc Thụ - Chủ nhiệm đề tài sau khi xem xét và đo đạc trực tiếp bằng máy đo tần
số và máy hiện sóng đã đồng ý đề xuất cải tiến của tôi. Để cẩn thận hơn chúng
tôi đã ghép các sóng mang đã tạo theo phương án mới vào máy tải ba VBO-3 kết quả
điều chế các cấp tốt. Như vậy là một việc khó khăn nhất đã được giải quyết.
Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật thứ hai là bộ rẽ mạch điện
trở thay cho bộ rẽ mạch biến áp của máy VBO-3. Như vậy mỗi bộ rẽ mạch không còn
là một hộp máy như trước, mà có thể ghép chung vào một bảng mạch.
Khi áp dụng hai tiến bộ kỹ thuật vào máy GK-3 thì mạch
điện nguyên lý máy ghép kênh 3 đường GK-3 có phần khác với mạch điện nguyên lý
của máy tải ba 3 đường VBO-3 của Hung-ga-ry.
Khi các vấn đề kỹ thuật quan trọng nhất của máy GK-3
đã được giải quyết, Tổ Tải ba khi ấy ngoài tôi và đồng chí Lưu Kim Vân ra còn
có các đồng chí Nguyễn Hợp Trác, đồng chí Đoàn Kết, đồng chí Trương Văn Đề; đều
là các kỹ sư tải ba có kinh nghiệm. Chúng tôi bắt đầu phân công mỗi người một
việc và bắt tay vào chế thử một cặp máy GK-3. Đồng chí Lưu Kim Vân đã học ở
Hung-ga-ry và thực tập ở Nhà máy sản xuất máy VBO-3, VB0-12 đảm nhận phần thiết
kế và thi công hệ thống cáp cho ngăn tạo sóng mang và hệ thống cáp toàn máy.
Đây là công việc khó, nếu người chưa có kinh nghiệm thì làm mất nhiều thời
gian. Các vấn đề còn lại không có gì khó với các đồng chí kỹ sư ở Tổ Tải ba, mọi
việc được thực hiện khá nhanh. Đồng chí Bùi Ngọc Thành đảm nhận khâu thiết kế
cơ khí cũng rất tích cực. Phân xưởng cơ khí, sơn mạ khi ấy đồng chí Lưu Mạnh Đạt
làm Quản đốc cũng rất quan tâm ủng hộ nhóm nghiên cứu sản xuất máy GK-3 nên cặp
máy GK-3 đầu tiên cũng nhanh chóng hoàn thành và được đưa đi thử khai thác trên
tuyến.
Đầu tiên máy được lắp đặt thử tại trạm A40, hầm máy
ngay trong khu vực Bộ tư lệnh Thông tin, do Lữ đoàn 205 quản lý, và trạm A49 Sơn
Tây do Lữ đoàn 134 quản lý. Máy được kết luận đạt chất lượng tốt. Sau máy lại
được khai thác thử theo tuyến Bưu điện Hà Nội và Bưu điện Thái Bình, máy cũng
được kết luận là tốt. Những năm sau, máy ghép kênh GK-3 được đưa tiếp lên vùng
biên giới, đặt khai thác theo tuyển Bưu điện tỉnh Lạng Sơn đến Bưu điện huyện
Đình Lập, độ dài tuyến khoảng 54 km. Kết quả khai thác khẳng định chất lượng máy
tốt.
Năm 1982 – 1983 chiến tranh biên giới phía Bắc vẫn còn
tiếp diễn, quân tình nguyện Việt Nam vẫn còn ở Campuchia, nhu cầu về sửa chữa
máy tải ba vẫn còn, Nhà máy M3 vẫn có đơn hàng đại tu máy tải ba 3 đường và 12
đường. Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc có nhu cầu về xe tải ba 12 đường cơ động,
vì số xe tải ba 12 đường cơ động do Liên Xô viện trợ cho Binh chủng không nhiều.
Bộ tư lệnh Thông tin giao nhiệm vụ cho Nhà máy M3
nghiên cứu sản xuất xe tải ba 12 đường cơ động. Nhiệm vụ này đã được đăng ký chính
thức thành đề tài cấp Bộ Quốc phòng, Nhà máy giao cho tôi làm Chủ nhiệm đề tài,
đồng chí Lưu Kim Vân làm Phó Chủ nhiệm đề tài, các kỹ sư tham gia gồm có đồng
chí Nguyễn Hợp Trác, đồng chí Đoàn kết, đồng chí Trương Văn Đề, đồng chí Bùi Ngọc
Thành Tổ Cơ khí Phòng Kỹ thuật.
Máy ghép kênh 12 đường GK-12 cơ động có độ phức tạp
hơn máy ghép kênh đặt tĩnh GK-3, vì mạch điện của máy là ghép 4 nhóm 3 đường
thành 12 đường, nên số cấp điều chế có tăng, số lượng sóng mang nhiều hơn, máy
lại phải thiết kế đặt trên xe cơ động nên phải thiết kế chống rung xóc. Đầu
tiên chúng tôi thử thiết kế và lắp ráp hệ thống sóng mang, vẫn theo phương án của
máy GK-3 phát triển lên nhiều tần số sóng mang hơn, đủ các tần số sóng mang của
máy ghép kênh 12 đường. Dao động chủ vẫn dùng dao động 1 MHz. Khi hệ thống sóng
mang đã thử nghiệm hoạt động tốt chúng tôi mới triển khai thiết kế bố trí các
khối, trong các khối là các ngăn hộp. Giữa các khối được kết nối với nhau theo
cáp nhiều đôi và ổ cắm 30 chân. Lên bản vẽ tạo dáng công nghiệp cho sản phẩm
GK-12 cơ động, bản vẽ GK-12 cơ động khi đặt trên xe ô tô, là loại xe thùng của
Liên Xô, có cửa sổ hai bên thành và cửa mở 2 cánh phí sau. Các công việc được triển
khai đồng bộ, vừa lắp ráp ngăn hộp mới vừa làm cáp la, các đồng chí cơ khí thiết
kế bản vẽ gia công các khối máy. Kết quả cuối cùng Tổ Tải ba kết hợp với Tổ Cơ
khí và lực lượng công nhân gia công cơ khí, sơn mạ ở Phân xưởng Cơ khí đã thực
hiện xong việc nghiên cứu sản xuất máy ghép kênh 12 đường GK-12 cơ động. Sau khi
thử máy hoạt động đặt tĩnh thấy tốt, máy được lắp lên xe cơ động và thử khai
thác, kết quả khai thác đạt yêu cầu đặt ra của đề tài nghiên cứu. Đề tài được
nghiệm thu và Nhà máy M3 nhận được đơn hàng sản xuất của Bộ tư lệnh Thông tin
liên lạc.
Như vậy là Tổ Tải ba Phòng Kỹ thuật trong những năm đầu
của thập niên 80 luôn có đủ công ăn việc làm, công việc có tính khoa học, có một
chút mới mẻ nên mọi thành viên trong Tổ rất phấn khởi.
Nhờ đâu mà Tổ Tải ba chúng tôi có được những nguồn vui
trong công việc như thế? Điều đầu tiên phải kể đến là sự năng động sáng tạo,
nhìn xa trông rộng của lãnh đạo chỉ huy Nhà máy, đứng đầu là đồng chí Giám đốc
Võ Đặng, thứ đến mới là sự nỗ lực phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ của các thành
viên trong Tổ.
Tôi xin nhờ đầu đề một bài hát Trung Quốc là “Ra khơi
nhờ tay lái vững” mà người Trung Quốc thường hát ca ngợi lãnh tụ của họ, để
khái quát về vấn đề nêu trên. Nhờ có “Tay lái vững của đồng chí Giám đốc Võ Đặng”
nên Nhà máy Thông tin M3 trong những năm đầu thập niên 80 mới có những bước
phát triển mạnh mẽ trong cả hai lĩnh vực sản xuất quốc phòng và kinh tế, là điểm
sáng trong khu vực. Nhà máy lo đủ công ăn việc làm cho cán bộ công nhân viên, đời
sống cán bộ công nhân viên Nhà máy được cải thiện đáng kể.
Tháng 10 năm 1984 tôi được Ban giám đốc Nhà máy điều về
Phòng Kế hoạch của Nhà máy, kèm theo là quyết định bổ nhiệm Trưởng phòng. Tạm
biệt nghề kỹ thuật, tôi lại chuyển sang trải nghiệm trong lĩnh vực mới, lĩnh vực
quản lý kinh tế doanh nghiệp công nghiệp, cũng đúng với nghề tôi đã theo học
trong 5 năm hàm thụ tại Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, tôi vui vẻ ra
đi.
Hà Nội, những ngày giãn cách Covid tháng 8/2021
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức người M3”)
0 comments:
Đăng nhận xét