Vũ Văn Tiến, nguyên Phó Phòng Kế hoạch Vật tư, Công ty
Thông tin M3
Chúng tôi thuộc thế hệ sau, thế hệ kế tiếp của Nhà máy
Thông tin M3 sau 1976, lúc đó Nhà máy đã khánh thành và đi vào hoạt động. Không
được chứng kiến những công lao to lớn của những người đi trước mà chỉ nghe kể lại
của các chú, các anh chị đã từng xây dựng lên một Nhà máy Thông tin M3 nguy
nga, bề thế, rộng lớn và to đẹp nhất khu vực thời bấy giờ. Đó là lời kể của chú
Nguyễn Tất Thắng, nguyên Bí thư đảng ủy thời kỳ 1972 - 1981, chú Võ Đặng nguyên
Giám đốc Nhà máy thời kỳ 1977-1988, hay anh Lại Quang Thảo nguyên Phó Giám đốc,
và rất nhiều các anh chị khác nữa.
Chúng tôi lên thăm các gia đình ở Nhà máy Thông tin M3
vào dịp đầu xuân năm mới, tất cả đều có nhà và ra ở riêng, có người tự mua đất
làm nhà, có người được Nhà máy phân đất làm nhà, nhưng tất thảy đều có một điểm
chung đó là nhà ở gần khu vực xung quanh Nhà máy Thông tin M3. Chúng tôi vào
nhà chú Nguyễn Tất Thắng đầu tiên, khi chúng tôi vào chú đang khai bút làm một
bài thơ về đồng đội. Rồi chú đọc thơ cho chúng tôi nghe, thơ của chú nhiều lắm,
nhiều nhất là viết về đồng đội, rồi chú kể chuyện của chú cho chúng tôi nghe:
Chú kể: Chú đi bộ đội thời còn là thiếu sinh quân, vào
học trường Lục quân khóa 5, đến năm 1951 được cử đi học tiếp trường Lục quân Việt
Nam tại Trung Quốc, chuyên ngành Thông tin điện đài, học xong chú được phân
công về phục vụ Bác Hồ và các đồng chí Trung ương Đảng.
Tháng 01/1956, chú được Tổ chức bí mật cho vượt vĩ tuyến
17 vào miền Nam làm điện đài Khu ủy Khu 5. Sau 9 năm ra Bắc làm Thông tin Bộ Quốc
phòng 6 năm.
Tháng 5/1972, Bộ điều chú về Nhà máy M3 làm Chính trị
viên. Nhà máy ở Tham Vàng, huyện Gia Lâm, Hà Nội nhưng lúc đó tất cả đã sơ tán
về xã Dương Quang, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Lúc này Nhà máy tổ chức Liên
Chi ủy, chú Nhứt làm Giám đốc kiêm Bí thư Liên chi, chú làm Phó Bí thư Liên
chi. Đến ngày 01/6/1973 Đại hội Đảng bộ lần thứ nhất, Nhà máy thành lập Đảng bộ,
bầu chú làm Bí thư và làm tiếp nhiệm vụ này đến hết khóa 4 (1981).
Chú kể tiếp, thời kỳ ở M3 không nhiều (9 năm) nhưng đã
để lại ở chú những kỷ niệm khó quên, đó là thời kỳ 1971 - 1976 đây cũng là thời
kỳ vất vả nhất của Nhà máy. Nhà máy vừa xây dựng vừa sửa chữa thiết bị khí tài
thông tin phục vụ cho các đơn vị chiến đấu để đảm bảo thông tin được thông suốt.
Nói về xây dựng Nhà máy thì không thể không kể đến
công lao to lớn của các tập thể trong đó phải kể đến là C3, là công trường xây dựng
của anh Sơn và các đồng chí như đồng chí Kim Cư, đồng chí Trần Văn Đạt, đồng
chí Đoàn Trinh, đồng chí Phùng Minh, v.v... đây là các đồng chí, khi cỏ xanh
thì các đồng chí đến, khi ngói đỏ thì các đồng chí đi. Nhưng không ai quên được
tình hữu nghị Việt Nam Hungary, nước bạn đã cực kỳ giúp đỡ để xây dựng lên Nhà
máy M3 về vật chất cũng như trang thiết bị vật tư, và cử các đoàn chuyên gia
sang làm việc tại Nhà máy để kịp tiến độ, đúng như kế hoạch đã đề ra và cũng
như mong ước của nhiều người. Nhà máy M3 được cắt băng khánh thành vào đúng
ngày 10/12/1976, đây cũng là công trình chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
4 (1976) và là công trình của tình hữu nghị Việt Nam - Hungary từ đó đến nay.
Sau khi khánh thành, thời kỳ 1976-1981, Nhà máy đi vào
hoạt động với chức năng nhiệm vụ chính là sửa chữa, sản xuất trang thiết bị khí
tài thông tin, đồng thời phải thường xuyên cử các đoàn cán bộ công nhân đi sửa
chữa lưu động tại các trạm Thông tin và ở các đơn vị trong toàn quân.
Lúc này những khó khăn mới lại ập đến với một Nhà máy
non trẻ, thiếu thốn đủ bề về vật tư và trang thiết bị nhất là vật tư thay thế, thiếu
về nguồn nhân lực lao động, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý và cả công nhân
lành nghề. Thấy được những khó khăn đó nên nhà nước Hungary đã ký kết hiệp ước
không hoàn lại cho Việt Nam toàn bộ vật tư trang thiết bị cho Nhà máy M3 đảm bảo
Nhà máy vận hành chạy thử và hoạt động bình thường cho những năm tiếp theo. Bên
cạnh sự viện trợ về vật tư, trang thiết bị nước bạn còn thường xuyên cử các
đoàn chuyên gia sang theo dõi, chỉ đạo việc vận hành Nhà máy. Nhà máy đã cử cán
bộ đã từng học tập ở Hungary để làm việc, học hỏi kinh nghiệm và tiếp nhận hàng
viện trợ từ nước bạn Hungary.
Để phục vụ cho công tác quản lý, vận hành và đảm bảo
nhiệm vụ chính trị trên giao. Lúc này Nhà máy đang gặp khó khăn về nhân lực, Ban
Giám đốc đã đề nghị Bộ tư lệnh và được Bộ tư lệnh điều động thêm một số cán bộ
kỹ thuật và cán bộ quản lý về Nhà máy, đồng thời điều động thêm một số cán bộ
công nhân viên ở hai Nhà máy M1 và M2 về làm nòng cốt cho các phân xưởng như
các anh: Lưu Mạnh Đạt, Nguyễn Đình Quang, Vũ Văn Bào, Ngô Quang Tin, Nguyễn Đức
Ưu. (còn lại các cậu tự lo – Bộ tư lệnh nói) và rồi cái câu “Các cậu tự lo” đó
đã được tập thể lãnh đạo, chỉ huy Nhà máy thời bấy giờ lo được thật. Đó là mở
các khóa huấn luyện đào tạo các chuyên ngành mà Nhà máy đang cần như tải ba, đo
lường, linh kiện, cơ khí (đây là lớp thế hệ của chúng tôi bây giờ), nhưng khó
khăn là thiếu giáo viên nên các cán bộ, kỹ sư lại phải soạn thảo giáo án và lên
lớp giảng dạy như thầy giáo: Đoàn Kháng, Nguyễn Văn Định, cô giáo Lưu Kim Vân,
và rất nhiều thầy cô khác nữa, bên cạnh đó Nhà máy tích cực xin Bộ tư lệnh bổ
sung giáo viên các trường kỹ thuật thông tin về Nhà máy như thầy - cô Hiếu Tuyết,
thầy Trình, thầy Lộc, và đã hình thành lên bộ khung huấn luyện của Nhà máy
Thông tin M3 từ đó. Còn về học sinh Nhà máy tuyển con em của các cán bộ trong Bộ
tư lệnh và dần ưu tiên tuyển học sinh địa phương lân cận quanh địa bàn Nhà máy
đóng quân. Việc làm này đã đem lại tình cảm, tình quân dân sâu sắc và gắn bó
cho đến bây giờ.
Sau 2 năm đào tạo, rèn luyện lớp công nhân tải ba đầu
tiên cũng đã được xuống xưởng làm việc, và rồi vẫn những thầy cô ấy (thầy Vũ
Văn Tiến, cô Lưu Kim Vân) lại cầm tay chỉ việc tại nơi thực tế mong sao thế hệ
kế tiếp gánh vác và thay thế được thế hệ thầy cô. Cứ thế hàng năm Ban huấn luyện
lại cho ra lò từ 50 đến 100 học sinh đủ các ngành nghề từ tải ba, đo lường, tổng
đài, điện thoại và sau cùng là đào tạo thợ cơ khí để phục vụ cho phân xưởng cơ
khí đủ lực lượng để sản xuất sản phẩm.
Năm 1977 anh Võ Đặng về làm Giám đốc (thay anh Lê Văn
Lịch - quyền Giám đốc lúc bấy giờ) cho đến năm 1988, thời kỳ anh Võ Đặng làm
Giám đốc cũng có nhiều chông gai vất vả nhưng cũng đã vượt qua, đặc biệt là làm
kinh tế. Về thời kỳ này thì các cậu nên gặp anh Võ Đặng và anh Lại Quang Thảo
thì sẽ rõ hơn. Sau câu chuyện, chú tiễn chúng tôi ra tận ô tô đỗ ở đầu ngõ với
những bước đi chắc nịch và nụ cười rạng rỡ chứa đựng sự mãn nguyện của một thời
đã qua, và chúng tôi càng ngưỡng mộ hơn khi một người chỉ còn mấy tháng nữa là
bước sang tuổi 90 mà trí nhớ vẫn còn minh mẫn, sức lực dồi dào, cơ thể cường
tráng đến như vậy, âu cũng là do khổ luyện.
Tôi theo chân anh Lại Quang Thảo cùng Ban liên lạc Hội
Truyền thống M3 sang thăm gia đình chú Võ Đặng ở khu tập thể Thành Công (thăm
cô Liên vợ chú Đặng – đang bị ốm thì đúng hơn), mở cửa đón chúng tôi chú bảo
“nói khẽ để cô ngủ” nhưng cô đâu có ngủ, chúng tôi vào thăm cô mà thấy lòng
dâng trào cảm xúc, một cảm xúc thực sự và nước mắt cứ thế chảy ra vì cô bị ốm
và nằm một chỗ như thế đã hơn 10 năm nay và còn kính nể hơn nữa một người chồng
đã hết mực yêu thương chăm sóc cho vợ từng ly từng tý từ bữa ăn, giấc ngủ đến vệ
sinh cá nhân... đều do một mình chú chăm sóc và hình như tất cả những tình yêu
thương hơn 10 năm qua chú đều dành hết cho vợ. Rồi chú bảo chúng tôi ra bàn ngồi
nói chuyện, chú mở tủ lấy chai rượu đưa cho tôi và nói “Tiến rót rượu hộ chứ” cầm
chai rượu từ tay chú tôi cảm nhận thấy tay chú hơn run run và mắt ngấn lệ vì cảm
động khi chúng tôi tới thăm. Chú bắt đầu hỏi thăm tình hình trên Nhà máy, hỏi
thăm ê kíp lãnh đạo mới, chú hỏi thăm đến anh chị em công nhân đã từng làm việc
ở Nhà máy giờ ra sao và điều đặc biệt ở chú đó là chú sắp bước qua tuổi 90 và
cũng đã xa cách nhau đến 30 – 40 năm mà sao chú vẫn nhớ và đọc vanh vách họ tên
từng người, vị trí làm việc ở đâu, chú cũng gửi lời chia buồn những người đã
khuất qua Ban liên lạc. Chúng tôi nâng ly chúc sức khỏe chú và vẫn với giọng miền
Nam trầm ấm chú nói: “Hồi ở M3 vui thật, cứ chiều đến hết giờ làm là anh em lại
chúc nhau bằng bia hơi Hà Nội”, bia được chở bằng téc từ hầm nhà máy bia Hà nội
về M3 để cung cấp cho anh em”; chú nói tiếp: “để có được những giờ phút vui vẻ
đó là cả một quá trình lo âu, vất vả của bao người đã vật lộn với thương trường,
nghiên cứu sản phẩm mới, tạo công ăn việc làm cho hơn một nghìn công nhân. Lúc
này Nhà máy đang bị dư thừa công nhân, dư thừa trang thiết bị do chỉ tiêu trên
giao bị cắt giảm, thiết bị máy móc ở các đơn vị đưa về sửa chữa ít nền công
nhân không đủ việc làm, thu nhập thấp”. Nói đến đây chú hơi xúc động và liếc mắt
nhìn sang anh Thảo, dường như hiểu được ý của thủ trưởng cũ, anh Thảo bảo chuyện
đó để em! Rồi anh kể:
Năm 1981 xuất phát từ Quyết định 25-CP của HĐCP về một
số chủ trương và biện pháp nhằm phát huy quyền chủ động sản xuất kinh doanh và
quyền tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh, quyết định cũng nêu rõ
trên cơ sở đảm bảo sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước mở rộng quyền tự
chủ kinh doanh của xí nghiệp, tăng cường quyền tự chủ tài chính của xí nghiệp,
thúc đẩy xí nghiệp tính toán sử dụng các nguồn vốn thiết bị, vật tư, lao động sẵn
có của xí nghiệp nhằm đạt hiệu quả cao nhất trên cơ sở đó giải quyết đúng đắn 3
lợi ích: Nhà nước, tập thể xí nghiệp và cá nhân người lao động. Trước tiên là
khuyến khích người lao động tăng năng suất, nâng cao sản lượng để tăng thu nhập
cải thiện đời sống cho người lao động đồng thời đảm bảo nguồn thu cho ngân sách
Nhà nước. Quyết định cũng nêu rõ tạo mọi điều kiện cho xí nghiệp hoàn thành kế
hoạch Nhà nước, đồng thời khuyến khích xí nghiệp tận dụng mọi nguồn lực để sản
xuất thêm của cải cho xã hội, củng cố vững chắc kinh tế quốc doanh và quan hệ sản
xuất xã hội chủ nghĩa. Trong Quyết định số 25-CP ngày 20/01/1981 cũng đã chỉ cụ
thể “Dựa trên kế hoạch chung Giám đốc xí nghiệp có quyền bố trí kế hoạch sản xuất
kinh doanh cụ thể của xí nghiệp để thực hiện, trên cơ sở tôn trọng pháp luật của
Nhà nước và đảm bảo thực hiện đầy đủ những chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao”.
Chớp thời cơ Quyết định 25-CP của Hội đồng Chính phủ
do Thủ tướng Đỗ Mười đã ký, tháng 3 năm 1981 đồng chí Võ Đặng – Giám đốc kiêm
Bí thư Đảng ủy tổ chức một cuộc họp khẩn cấp với chuyên đề làm kinh tế gồm các
đồng chí trong Đảng ủy, các đồng chí đầu ngành với mục tiêu tháo gỡ các nút thắt
mà bấy lâu nay cơ chế trong xí nghiệp quốc doanh và nhất là xí nghiệp quốc
phòng không cho phép là tận dụng khả năng kỹ thuật của đội ngũ cán bộ công nhân
viên cũng như tận dụng năng lực thiết bị dư thừa để tạo ra các sản phẩm phục vụ
cho nền kinh tế.
Cuộc họp đã diễn ra khẩn trương, có tính thống nhất
cao và tất cả đều quyết tâm. Ngay sau
khi cuộc họp kết thúc Giám đốc Võ Đặng đã tập hợp một số cán bộ kỹ thuật chủ chốt
như anh Hàn Ngọc Ích, anh Nguyễn Văn Định, anh Ngô Nhật Phong, anh Vũ Hồng Loan
và các anh ở khối kinh doanh như anh Lại Quang Thảo, anh Phạm Hữu Tảo, anh Vũ
Văn Tiến, và một số cán bộ khác. Giám đốc Võ Đặng giao cho đồng chí Lại Quang
Thảo phụ trách kinh doanh phải tìm cho bằng được những sản phẩm mà nền kinh tế
đang cần và giao cho đồng chí Hàn Ngọc Ích phụ trách kỹ thuật cùng phối hợp để
lên phương án cho sản phẩm mới. Chỉ sau một thời gian ngắn tìm tòi vật lộn với
thị trường và cũng không ngần ngại xông thẳng vào các Tổng Công ty, xí nghiệp để
đặt vấn đề về các sản phẩm mang tính kỹ thuật cao mà họ đang phải nhập ngoại. Kết
quả là chiếc đồng hồ DS9 ra đời dùng để hiển thị điện áp đầu ra của súp vôn tơ,
cho nhà máy Điện Thông – Bộ Công thương, từ DS9 đến DS94 anh Thảo lại ngược xuôi
cùng bộ phận kinh doanh tìm đến các công ty khác, đã xuống tận Quảng Ninh để
làm việc với mỏ than Cọc 6, mỏ than Hà Lầm, mỏ than Hà Tu, và Xí nghiệp điện Mỏ,
rồi về làm việc với Công ty Phụ tùng – Bộ Vật tư ở Đức Giang, Hà Nội và chiếc đồng
hồ A263 ra đời. Là loại đồng hồ chỉ dòng nạp ác quy trên các loại xe ô tô (lúc
đó trong nước chưa sản xuất được mà phải nhập khẩu từ Liên Xô), đến năm 1984 đồng
hồ A263 chính thức được Trung tâm Đo lường Chất lượng Nhà nước công nhận “Chất
lượng cấp Nhà nước” (cấp 1) từ đó dòng sản phẩm này được phân phối trên thị trường
Việt Nam thông qua kênh phân phối chính thức của Công ty Phụ tùng – Bộ Vật tư.
Tiếp đà thắng lợi của các dòng sản phẩm DS9, SD94,
A263 Nhà máy tiếp tục các phương án chế tạo các loại thiết bị khác cho ô tô như
bộ điều khiển dòng nạp PP350, bộ đánh lửa TK102, rơ le Bơm BT... các sản phẩm
này đã được mỏ than Cọc 6 thuộc Công ty Than Hồng Gai chấp nhận và thử nghiệm
trên các loại xe có trọng tải nặng và chuyên dùng ở mỏ. Thực tế mà nói Nhà máy
chúng ta đã có những người bạn hàng rất tốt, nhiệt tình và cùng chí hướng, các
bạn hàng nói phải có sản phẩm của Việt Nam, với chất lượng tiêu chuẩn của nhà sản
xuất để phục vụ cho nhu cầu trong nước tránh phải dùng ngoại tệ để nhập khẩu.
Tính ra trong thời kỳ này (1980-1990) Nhà máy M3 đã sản
xuất và tiêu thụ ra thị trường được hàng chục nghìn đồng hồ A263, tiết chế PP350,
bộ đánh lửa TK102... Ngoài các sản phẩm chủ lực đó, Nhà máy còn nghiên cứu sản
xuất các sản phẩm phục vụ ngành nông nghiệp như: Máy đo độ pH của ao thả cá,
máy đo độ ẩm thóc dùng cho kho thóc... Bộ phận kinh doanh do anh Thảo phụ trách
mạnh dạn đề xuất với Giám đốc Võ Đặng là phải có sản phẩm để xuất khẩu, thế là
Kim đồng hồ (hay còn gọi là Kim Hung), Tóc xoắn đồng hồ, nôi cho trẻ em, được
Nhà máy Thông tin M3 sản xuất và xuất khẩu sang Hungary với số lượng hàng trăm
nghìn sản phẩm mỗi năm, rồi đến các loại ghế gỗ, thông qua Công ty XNK
Artexport sang châu Âu. Song song với các sản phẩm kinh tế Nhà máy đã mạnh dạn
nghiên cứu cải tiến và sản xuất các thiết bị phục vụ quốc phòng như Tổng đài 10
số, tổng đài 40 số (gồm hai khối), Điện thoại TA-57, Bàn chỉ huy, máy ghép kênh
3 đường GK3, máy ghép kênh 12 đường GK12 cơ động và đồng hồ vạn năng VN32 thay
thế cho đồng hồ vạn năng 108 của Trung Quốc.
Có thể nói thời kỳ 1980 - 1990 là thời kỳ đỉnh cao của
Nhà máy, cán bộ công nhân viên có mức thu nhập rất cao, ngoài lương còn có thu
nhập tăng thêm như ăn ca, làm thêm giờ, thưởng tháng, thưởng quý, thưởng năm.
Chính vì những điều này mà đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ công nhân
viên được cải thiện rất nhiều (hàng tuần có xe tuyến chở cán bộ công nhân viên
về Hà Nội với gia đình) và là điểm sáng về làm kinh tế của các xí nghiệp quốc
phòng thời bấy giờ. Cùng với Quyết định 25-CP của Chính phủ và với việc làm kinh
tế có hiệu quả của Nhà máy, nhiều phân xưởng cũng đã chủ động tìm kiếm việc làm
thêm cho công nhân, điển hình như phân xưởng Tải ba của chị Lưu Kim Vân (quản đốc)
đã thiết kế và sản xuất các sản phẩm kinh tế như Bộ đổi điện cho tủ lạnh, các
loại biến áp cung cấp cho thị trường, và cũng xuất phát từ việc làm kinh tế của
phân xưởng tăng thêm thu nhập cho công nhân, phân xưởng còn tổ chức cho các gia
đình công nhân trong phân xưởng đi nghỉ mát tắm biển và tổ chức cho các cháu đi
vui chơi trại hè ở các điểm du lịch. Đây cũng là phân xưởng điển hình của Nhà
máy trong việc làm kinh tế và chăm lo tốt đời sống vật chất, tinh thần cho cán
bộ công nhân
viên.
Kể đến đây anh Thảo nói tiếp: Còn sau này thì mọi người
biết rồi đấy. Tháng 10/1988, Giám đốc Võ Đặng được Bộ tư lệnh điều về làm Phó
Chủ nhiệm Cơ quan Kỹ thuật Binh chủng Thông tin. Bộ tư lệnh Binh chủng giao nhiệm
vụ cho đồng chí Võ Đặng chuẩn bị luận chứng kinh tế - kỹ thuật và tờ trình báo
cáo Bộ Quốc phòng và các cơ quan chức năng Nhà nước về việc xây dựng Tổng Công
ty Điện tử Thiết bị Thông tin. Ngày 01/6/1989 Tổng Công ty Điện tử Thiết bị
Thông tin được thành lập (tên giao dịch quốc tế là SIGELCO), theo quyết định của
Hội đồng Bộ trưởng. Ngày 28/7/1989 Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra quyết định bổ nhiệm
đồng chí Võ Đặng làm Tổng Giám đốc Tổng Công ty Điện tử Thiết bị Thông tin. Đây
là đơn vị tiền thân của Tập Đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội (Viettel) ngày
nay.
Sau khi Giám đốc Võ Đặng chuyển đi, anh Mai Đang được
bổ nhiệm làm Giám đốc cho đến năm 1998, sau này đến thời kỳ anh Võ Hữu Ba, anh
Nguyễn Văn Lực làm Giám đốc. Nhà máy đã chuyển sang khai thác mạnh về ngành cơ
khí và đã ký được hợp đồng sản xuất vỏ và khung đồng hồ công tơ điện cho Công
ty Cổ phần Thiết kế đo điện, đã kết hợp được giữa sản xuất hàng Quốc phòng để
phát phát triển kinh tế cụ thể: sản xuất dây điện thoại dã chiến theo kế hoạch
Quốc phòng kết hợp sản xuất dây điện thoại để cung cấp cho Bưu điện. Sau đó Nhà
máy đã cải tiến công nghệ sang sản xuất cáp đồng từ 10 đôi đến 200 đôi vừa phục
vụ Quốc phòng vừa bán cho Bưu điện các tỉnh thành trong cả nước. Sau thời kỳ sản
xuất cáp đồng và dây điện thoại bằng đồng, lúc này công nghệ thông tin trên thế
giới phát triển nhanh chóng, để bắt nhịp xu thế chung Nhà máy cũng phải thay đổi
công nghệ, máy móc thiết bị mới để chuyển đổi từ sản xuất cáp đồng sang sản xuất
cáp quang và các phụ kiện quang. Đến năm 2010 Nhà máy đổi tên thành Công ty
Thông tin M3 trực thuộc Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội Viettel, là
một trong những Công ty có sản lượng cáp quang lớn nhất cả nước, doanh thu hàng
nghìn tỷ đồng mỗi năm, thu nhập của cán bộ công nhân viên rất cao, đời sống vật
chất, tinh thần được cải thiện, Công ty ngày càng phát triển toàn diện và vững
mạnh.
Lời kết:
Cảm phục trước những việc làm của các chú, các anh đã
kinh qua các chiến trường chống Pháp, chống Mỹ, rồi cũng là những con người ấy
đã đặt nền móng xây dựng lên các nhà máy, các công ty để rồi vẫn màu áo lính ấy
các chú, các anh lại xông pha ra thương trường đầy chông gai và khốc liệt để
làm kinh tế mang lại việc làm và thu nhập cao cho bao con người.
Càng cảm phục và biết ơn hơn các chú, các anh đã đào tạo
nên các thế hệ các em, các cháu để kế tục sự nghiệp cho đến ngày nay, và bây giờ
đây giữa lòng Thủ đô Hà Nội yêu dấu, vẫn những con người ấy với tinh thần, nhiệt
huyết ấy đã quy tụ lại tất cả anh em, bạn bè đã từng có thời gian làm việc tại
Nhà máy M3 để thành lập lên “Hội Truyền thống Công ty Thông tin M3 bây giờ.
Đến nay Hội đã có hơn 200 hội viên, Ban liên lạc vẫn
là các đồng chí cựu lãnh đạo thời xưa như chú Võ Đặng, anh Lại Quang Thảo. Tiêu
chí của Hội là mỗi năm gặp mặt và liên hoan một lần vào dịp ngày thành lập Nhà
máy (19/12) để chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, san sẻ những khó khăn của từng hội
viên.
Hội đã đi vào hoạt động có quy củ, nề nếp, có quy chế
của Hội, có quỹ Hội tương đối dồi dào, do Tập đoàn Viettel và Công ty Thông tin
M3 hỗ trợ, và mỗi năm hè đến Hội lại tổ chức cho gia đình các hội viên đi nghỉ
mát hoặc tham quan du lịch một lần, các hoạt động tình nghĩa của Hội luôn được
đặt lên hàng đầu như thăm hỏi ốm đau, nằm viện hoặc gia đình hội viên có tin buồn.
Chúng tôi cũng xem đây là địa chỉ tin cậy, là ngôi nhà
chung để các hội viên chia sẻ “Ký ức người M3” của một thời đã qua.
Hà Nội những ngày giãn cách, tháng 9 năm 2021
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức người M3”)
0 comments:
Đăng nhận xét