31.5.25

Thông tin phục vụ chiến dịch Biên giới Tây Nam

Đại tá Đỗ Minh Đính - nguyên Chính ủy Trung đoàn 596

Từ Hà Nội, Tư lệnh Binh chủng Thông tin chỉ thị cho Trung đoàn 596 cử một cán bộ Trung đoàn cùng với cơ quan tham mưu đi khảo sát Núi Ông để chuẩn bị đặt các trạm thông tin. Hôm đó, đồng chí Trung đoàn trưởng đi vắng. Đồng chí Võ Tấn Đường - Trung đoàn phó, trực chỉ huy. Qua hội ý chớp nhoáng, tôi là Chính ủy Trung đoàn, cùng đồng chí Minh Đức, Trợ lý Tiếp sức của cơ quan tham mưu Bộ tư lệnh và anh em lên đường làm nhiệm vụ ngay. Về đường đi, không ai biết, nhưng theo bản đồ và dò hỏi nhân dân chúng tôi cũng đến được vị trí. Núi Ông là một cao điểm độ 200m so với mực nước biển. Ở đây, có căn cứ của Mỹ đã rút chạy trước năm 1975, giáp với Sở Cao su Dầu Tiếng. Qua một buổi nghiên cứu kỹ địa hình, chúng tôi đã lập báo cáo nhanh về Bộ tư lệnh. Tư lệnh Binh chủng quyết định triển khai ngay ở đây một cụm thông tin với các phương tiện thông tin của Quân khu 7 và Trung đoàn 596 để nối thông tin liên lạc với hướng Tây Nam.

Vậy là việc xây dựng các nhà đặt máy và dựng các cột ăngten được bắt đầu. Lần đầu tiên Binh chủng Thông tin sử dụng trực thăng để vận chuyển vật liệu xây dựng và khí tài từ Chơn Thành lên núi. Công việc này do bên không quân đảm nhiệm, còn thi công xây dựng thì Phòng Công trình do đồng chí Võ Trí phụ trách. Công trình được xây dựng với tinh thần "chạy đua với thời gian", nên chỉ trong một thời gian đã hoàn thành. Ngay lập tức, các máy móc thiết bị được lắp đặt, các cột ăngten sừng sững cũng được dựng, trong đó có Trạm thông tin AN/TRC-24 của Trung đoàn 596.

Tiếp đó, Tư lệnh Binh chủng chỉ thị cho Trung đoàn 596 phải tập trung nâng cao chất lượng các thiết bị kỹ thuật của mạng viễn thông nhằm tăng chất lượng phục vụ tốt nhất cho lãnh đạo chỉ huy chiến đấu. Tư lệnh giao thêm hai nhiệm vụ cụ thể:

Một là, tiếp nhận ngay Tiểu đoàn 1 thông tin cơ động của Bộ, tiến hành củng cố tổ chức, bổ sung đủ quân số chiến đấu và các phương tiện khí tài, đưa bộ đội vào trạng thái chiến đấu cao.

Hai là, tổ chức một phân đội AN/TRC-24 với đầy đủ quân số và xe máy, thường trực 24/24 giờ và có thể lên đường chiến đấu bất cứ lúc nào.

Đến lúc này, tuy cấp trên chưa phổ biến nhưng tôi và đồng chí Trung đoàn trưởng Trịnh Đình Chung hội ý và thấy cần phải triệu tập phiên họp bất thường của Đảng ủy nhằm quán triệt nhiệm vụ được giao và để chỉ huy Trung đoàn thông qua quyết tâm cũng như các biện pháp thực hiện. Qua thảo luận, Đảng ủy đã quyết nghị, nhất trí với quyết tâm cũng như các biện pháp của đồng chí Trung đoàn trưởng đã nêu ra. Đảng ủy nhấn mạnh: "Phải làm tốt công tác chính trị, tư tưởng, làm cho bộ đội quán triệt sâu sắc tình hình, nhiệm vụ mới, nêu cao ý chí chiến đấu, không sợ gian khổ, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng, bảo đảm thông tin liên lạc tốt nhất phục vụ cho lãnh đạo chỉ huy chiến đấu thắng lợi".

Khi mọi việc đã được chuẩn bị hoàn tất thì chiến dịch cũng bắt đầu. Lúc này, toàn Trung đoàn, từ Tiểu đoàn 10 ở Đà Nẵng, Tiểu đoàn 11 ở Quy Nhơn, Tiểu đoàn 12 ở Nha Trang, Tiểu đoàn 133 ở Thành phố Hồ Chí Minh, Tiểu đoàn 36 ở Cần Thơ đến Đại đội 16 ở Đà Lạt, Đại đội 17 ở Vũng Tàu đều mở máy 24/24 giờ và trực chiến đấu 100%. Các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật đều cử các đoàn cán bộ xuống kiểm tra, đôn đốc các đơn vị và trực chiến ngày đêm. Sở chỉ huy Trung đoàn thường xuyên nhận được báo cáo và xin ý kiến giải quyết những khó khăn nảy sinh và mọi việc được tháo gỡ nhanh chóng. Thời gian này, Trung đoàn đang có phong trào thi đua lập công được đẩy lên khá sôi nổi, nhờ vậy, tuy số phiên liên lạc tăng gấp đôi, tỷ lệ liên lạc thường xuyên đạt 99% trở lên.

Đối với các đơn vị được lệnh lên đường chiến đấu, không khí càng sôi động hơn. Tiểu đoàn 1 do đồng chí Trần Huỳnh - Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Tuynh – Chính trị viên, đồng chí Đệ - Tiểu đoàn phó, đồng chí Thuận - Chính trị viên phó, cùng phân đội thông tin AN/TRC-24 do đồng chí Lương Xuân Điệu - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 133 làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Sắc - Chính trị viên, đã làm lễ xuất quân, vừa phục vụ chiến đấu, khi đến địa phận Niếc Lương thì đơn vị AN/TRC-24 được lệnh dừng lại chiếm lĩnh một cao điểm trên núi đá, triển khai trạm, đặt máy, dựng ăngten, liên lạc qua cụm thông tin trung gian ở Núi Ông về chỉ huy sở cơ bản ở Tân Sơn Nhất. Còn toàn bộ Tiểu đoàn 1 theo đội hình chiến đấu tiến vào thủ đô Phnôm Pênh, triển khai mạng thông tin ở bên này cầu Mônivông. Sau đó di dời vào trung tâm thành phố, phân chia đóng quân trên một số ngôi nhà vắng chủ, triển khai mạng sóng ngắn liên lạc với tất cả các mặt trận 479, 579, 779, 979 và các đơn vị trực thuộc của Bộ, tỏa mạng hữu tuyến, phục vụ cơ quan tiền phương Bộ Quốc phòng và đoàn chuyên gia giúp bạn.

Riêng Đại đội thông tin tiếp sức 401M của Tiểu đoàn 1 thì triển khai một trạm tại Kông Pông Chàm, một trạm đặt tại ngôi chùa trên núi cao giữa tỉnh Kông Pông Thom, một trạm đặt tại Xêlêampê, một trạm đặt tại Ôămtức ở Kô Công để liên lạc với tiền phương Quân khu 9. Tiếp theo, Trung đoàn 596 triển khai thêm ba trạm thông tin AN/TRC-24, một trạm đặt tại Phnôm Pênh, một trạm đặt tại thị xã Prây Veng, một trạm đặt tại Xiêm Riệp để liên lạc với Mặt trận 479 sát với biên giới Thái Lan.

Quá trình diễn ra chiến dịch Tây Nam cũng đồng thời hình thành cơ quan tiền phương Bộ tư lệnh Thông tin. Do vậy, khi Tiểu đoàn 1 lên đường chiến đấu trên đất bạn cũng là lúc trở về trực thuộc và chịu sự lãnh đạo trực tiếp của tiền phương. Giai đoạn đầu do đồng chí Lương Sĩ Pháp - Tham mưu phó phụ trách quân sự, đồng chí Bùi Văn Toại - Phó Chủ nhiệm chính trị Bộ tư lệnh phụ trách công tác đảng, công tác chính trị. Đảng ủy tiền phương gồm 7 đồng chí do đồng chí Bùi Văn Toại làm Bí thư. Sau đó, các đồng chí lần lượt thay nhau đảm trách. Đồng chí Liên - Phó tư lệnh, đồng chí Chữ, đồng chí Hiệu - Phó Tham mưu trưởng, đồng chí Đỗ Minh Đính - Phó Chủ nhiệm chính trị, đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị, tiếp theo còn một số đồng chí khác. Do tình hình nhiệm vụ ngày càng nặng nề hơn, từ Tiểu đoàn 1 đã phát triển thành Trung đoàn 136 do đồng chí Lê Thành Xếp làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Hữu Chỉnh làm Chính ủy, Trịnh Bá Kể - Trung đoàn phó quân sự, Tống Văn Phú – Trung đoàn phó kỹ thuật..., cho đến khi quân tình nguyện Việt Nam rút về nước.

Tôi là cán bộ sang Cam-pu-chia từ những ngày đầu mới giải phóng. Khi tôi và đồng chí Thứ - Phó Tham mưu trưởng trung đoàn vào Phnôm Pênh khảo sát vị trí đặt trạm thông tin, cả thành phố đều vườn không nhà trống, không có một bóng người dân. Những dấu vết bọn Pôn Pốt lùa hết dân ra khỏi thành phố vẫn còn đó. Nhiều nhà chưa kịp đóng cửa, một bữa cơm đang ăn dang dở, bát đũa còn nguyên. Tôi cũng đã đến các tỉnh Xiêm Riệp, Kôngpông Chưnăng, Kông Pông Thom, Kôngpông Spư, Kông Pông Chàm, Prâyviêng, Kô Công và cảng Xihanúcvin, kể cả những nơi xa xôi, hẻo lánh để thăm hỏi, động viên chiến sĩ ta và kiểm tra thông tin. Do vậy, tôi rất hiểu sự hy sinh và những khó khăn, gian khổ mà bộ đội ta phải chịu đựng. Nhớ lại những ngày đầu tiên mới giải phóng, đi trên đất Cam-pu-chia như đi trên một miền đất chết, tất cả đều là con số không - không trường học, không bệnh viện, không chợ búa, không tiền bạc, không sách báo, không bưu điện thư từ, không tôn giáo... Đi đâu cũng gặp hố chôn người tập thể. Tất cả những người dân mà chúng tôi gặp gỡ, tiếp xúc đều mặc một loại vải đen bạc màu, rách rưới, thân hình gầy guộc, mặt mày phờ phạc, chỉ còn đôi mắt là ánh lên niềm phấn khởi và hy vọng vì họ mới thoát khỏi một thảm họa diệt chủng kinh hoàng.

Trước đây, bộ đội ta đã từng chiến đấu trên đất bạn Lào và Cam-pu-chia. Muốn tồn tại và chiến thắng, nhất thiết phải dựa vào dân. Nhưng giờ đây, do hậu quả của bọn Pôn Pốt để lại, đất nước Cam-pu-chia trở nên xơ xác tiêu điều. Mọi thứ, từ lương thực, thực phẩm, thuốc men, nhu yếu phẩm, vật tư, máy móc, xăng dầu đều phải tiếp tế từ bên nước ta sang, rất xa xôi, cách trở. Ngoài việc phải đối phó với sự quấy phá của bọn tàn quân, cán bộ, chiến sĩ ta còn phải chống chọi với mọi khó khăn đủ bề như: ăn uống thiếu thốn, ốm đau thiếu thuốc men, sách báo, phim ảnh không có, tình cảm thiếu thốn...

Một số trường hợp còn phải trả giá bằng máu, như ở trạm Ôlămtức (Kô Công), hai chiến sĩ ta đã hy sinh vì mìn của địch và một trạm trưởng AN/TRC-24 ở Xiêm Riệp bị thiệt mạng và sau đó một số anh em nữa vì nhiệm vụ mà tiếp tục hy sinh trên đất bạn.

Vì nghĩa vụ quốc tế cao cả, chúng ta tự hào đã góp phần giúp nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi thảm họa diệt chủng của Pôn Pốt - Iêng Xa-ri, đưa đất nước bạn vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc, ấm no và thịnh vượng.

Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”) 

0 comments:

Đăng nhận xét