Đại tá Đỗ Minh Đính - nguyên Chính ủy Trung đoàn 596
Từ Hà Nội, Tư lệnh Binh chủng Thông tin chỉ thị cho Trung
đoàn 596 cử một cán bộ Trung đoàn cùng với cơ quan tham mưu đi khảo sát Núi Ông
để chuẩn bị đặt các trạm thông tin. Hôm đó, đồng chí Trung đoàn trưởng đi vắng.
Đồng chí Võ Tấn Đường - Trung đoàn phó, trực chỉ huy. Qua hội ý chớp nhoáng,
tôi là Chính ủy Trung đoàn, cùng đồng chí Minh Đức, Trợ lý Tiếp sức của cơ quan
tham mưu Bộ tư lệnh và anh em lên đường làm nhiệm vụ ngay. Về đường đi, không
ai biết, nhưng theo bản đồ và dò hỏi nhân dân chúng tôi cũng đến được vị trí.
Núi Ông là một cao điểm độ 200m so với mực nước biển. Ở đây, có căn cứ của Mỹ
đã rút chạy trước năm 1975, giáp với Sở Cao su Dầu Tiếng. Qua một buổi nghiên cứu
kỹ địa hình, chúng tôi đã lập báo cáo nhanh về Bộ tư lệnh. Tư lệnh Binh chủng
quyết định triển khai ngay ở đây một cụm thông tin với các phương tiện thông
tin của Quân khu 7 và Trung đoàn 596 để nối thông tin liên lạc với hướng Tây
Nam.
Vậy là việc xây dựng các nhà đặt máy và dựng các cột ăngten
được bắt đầu. Lần đầu tiên Binh chủng Thông tin sử dụng trực thăng để vận chuyển
vật liệu xây dựng và khí tài từ Chơn Thành lên núi. Công việc này do bên không
quân đảm nhiệm, còn thi công xây dựng thì Phòng Công trình do đồng chí Võ Trí
phụ trách. Công trình được xây dựng với tinh thần "chạy đua với thời
gian", nên chỉ trong một thời gian đã hoàn thành. Ngay lập tức, các máy móc
thiết bị được lắp đặt, các cột ăngten sừng sững cũng được dựng, trong đó có Trạm
thông tin AN/TRC-24 của Trung đoàn 596.
Tiếp đó, Tư lệnh Binh chủng chỉ thị cho Trung đoàn 596 phải tập trung nâng cao chất lượng các thiết bị kỹ thuật của mạng viễn thông nhằm tăng chất lượng phục vụ tốt nhất cho lãnh đạo chỉ huy chiến đấu. Tư lệnh giao thêm hai nhiệm vụ cụ thể:
Một là, tiếp
nhận ngay Tiểu đoàn 1 thông tin cơ động của Bộ, tiến hành củng cố tổ chức, bổ
sung đủ quân số chiến đấu và các phương tiện khí tài, đưa bộ đội vào trạng thái
chiến đấu cao.
Hai là, tổ
chức một phân đội AN/TRC-24 với đầy đủ quân số và xe máy, thường trực 24/24 giờ
và có thể lên đường chiến đấu bất cứ lúc nào.
Đến lúc này, tuy cấp trên chưa phổ biến nhưng tôi và đồng
chí Trung đoàn trưởng Trịnh Đình Chung hội ý và thấy cần phải triệu tập phiên họp
bất thường của Đảng ủy nhằm quán triệt nhiệm vụ được giao và để chỉ huy Trung đoàn
thông qua quyết tâm cũng như các biện pháp thực hiện. Qua thảo luận, Đảng ủy đã
quyết nghị, nhất trí với quyết tâm cũng như các biện pháp của đồng chí Trung đoàn
trưởng đã nêu ra. Đảng ủy nhấn mạnh: "Phải làm tốt công tác chính trị, tư
tưởng, làm cho bộ đội quán triệt sâu sắc tình hình, nhiệm vụ mới, nêu cao ý chí
chiến đấu, không sợ gian khổ, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng, bảo đảm
thông tin liên lạc tốt nhất phục vụ cho lãnh đạo chỉ huy chiến đấu thắng lợi".
Khi mọi việc đã được chuẩn bị hoàn tất thì chiến dịch cũng
bắt đầu. Lúc này, toàn Trung đoàn, từ Tiểu đoàn 10 ở Đà Nẵng, Tiểu đoàn 11 ở
Quy Nhơn, Tiểu đoàn 12 ở Nha Trang, Tiểu đoàn 133 ở Thành phố Hồ Chí Minh, Tiểu
đoàn 36 ở Cần Thơ đến Đại đội 16 ở Đà Lạt, Đại đội 17 ở Vũng Tàu đều mở máy
24/24 giờ và trực chiến đấu 100%. Các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ
thuật đều cử các đoàn cán bộ xuống kiểm tra, đôn đốc các đơn vị và trực chiến
ngày đêm. Sở chỉ huy Trung đoàn thường xuyên nhận được báo cáo và xin ý kiến giải
quyết những khó khăn nảy sinh và mọi việc được tháo gỡ nhanh chóng. Thời gian
này, Trung đoàn đang có phong trào thi đua lập công được đẩy lên khá sôi nổi,
nhờ vậy, tuy số phiên liên lạc tăng gấp đôi, tỷ lệ liên lạc thường xuyên đạt
99% trở lên.
Đối với các đơn vị được lệnh lên đường chiến đấu, không
khí càng sôi động hơn. Tiểu đoàn 1 do đồng chí Trần Huỳnh - Tiểu đoàn trưởng, đồng
chí Tuynh – Chính trị viên, đồng chí Đệ - Tiểu đoàn phó, đồng chí Thuận - Chính
trị viên phó, cùng phân đội thông tin AN/TRC-24 do đồng chí Lương Xuân Điệu -
Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 133 làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Sắc -
Chính trị viên, đã làm lễ xuất quân, vừa phục vụ chiến đấu, khi đến địa phận Niếc
Lương thì đơn vị AN/TRC-24 được lệnh dừng lại chiếm lĩnh một cao điểm trên núi
đá, triển khai trạm, đặt máy, dựng ăngten, liên lạc qua cụm thông tin trung gian
ở Núi Ông về chỉ huy sở cơ bản ở Tân Sơn Nhất. Còn toàn bộ Tiểu đoàn 1 theo đội
hình chiến đấu tiến vào thủ đô Phnôm Pênh, triển khai mạng thông tin ở bên này
cầu Mônivông. Sau đó di dời vào trung tâm thành phố, phân chia đóng quân trên một
số ngôi nhà vắng chủ, triển khai mạng sóng ngắn liên lạc với tất cả các mặt trận
479, 579, 779, 979 và các đơn vị trực thuộc của Bộ, tỏa mạng hữu tuyến, phục vụ
cơ quan tiền phương Bộ Quốc phòng và đoàn chuyên gia giúp bạn.
Riêng Đại đội thông tin tiếp sức 401M của Tiểu đoàn 1 thì
triển khai một trạm tại Kông Pông Chàm, một trạm đặt tại ngôi chùa trên núi cao
giữa tỉnh Kông Pông Thom, một trạm đặt tại Xêlêampê, một trạm đặt tại Ôămtức ở Kô
Công để liên lạc với tiền phương Quân khu 9. Tiếp theo, Trung đoàn 596 triển
khai thêm ba trạm thông tin AN/TRC-24, một trạm đặt tại Phnôm Pênh, một trạm đặt
tại thị xã Prây Veng, một trạm đặt tại Xiêm Riệp để liên lạc với Mặt trận 479
sát với biên giới Thái Lan.
Quá trình diễn ra chiến dịch Tây Nam cũng đồng thời hình
thành cơ quan tiền phương Bộ tư lệnh Thông tin. Do vậy, khi Tiểu đoàn 1 lên đường
chiến đấu trên đất bạn cũng là lúc trở về trực thuộc và chịu sự lãnh đạo trực
tiếp của tiền phương. Giai đoạn đầu do đồng chí Lương Sĩ Pháp - Tham mưu phó phụ
trách quân sự, đồng chí Bùi Văn Toại - Phó Chủ nhiệm chính trị Bộ tư lệnh phụ
trách công tác đảng, công tác chính trị. Đảng ủy tiền phương gồm 7 đồng chí do
đồng chí Bùi Văn Toại làm Bí thư. Sau đó, các đồng chí lần lượt thay nhau đảm
trách. Đồng chí Liên - Phó tư lệnh, đồng chí Chữ, đồng chí Hiệu - Phó Tham mưu trưởng,
đồng chí Đỗ Minh Đính - Phó Chủ nhiệm chính trị, đảm nhiệm công tác đảng, công
tác chính trị, tiếp theo còn một số đồng chí khác. Do tình hình nhiệm vụ ngày
càng nặng nề hơn, từ Tiểu đoàn 1 đã phát triển thành Trung đoàn 136 do đồng chí
Lê Thành Xếp làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Hữu Chỉnh làm Chính ủy, Trịnh
Bá Kể - Trung đoàn phó quân sự, Tống Văn Phú – Trung đoàn phó kỹ thuật..., cho
đến khi quân tình nguyện Việt Nam rút về nước.
Tôi là cán bộ sang Cam-pu-chia từ những ngày đầu mới giải
phóng. Khi tôi và đồng chí Thứ - Phó Tham mưu trưởng trung đoàn vào Phnôm Pênh
khảo sát vị trí đặt trạm thông tin, cả thành phố đều vườn không nhà trống, không
có một bóng người dân. Những dấu vết bọn Pôn Pốt lùa hết dân ra khỏi thành phố
vẫn còn đó. Nhiều nhà chưa kịp đóng cửa, một bữa cơm đang ăn dang dở, bát đũa còn
nguyên. Tôi cũng đã đến các tỉnh Xiêm Riệp, Kôngpông Chưnăng, Kông Pông Thom,
Kôngpông Spư, Kông Pông Chàm, Prâyviêng, Kô Công và cảng Xihanúcvin, kể cả những
nơi xa xôi, hẻo lánh để thăm hỏi, động viên chiến sĩ ta và kiểm tra thông tin.
Do vậy, tôi rất hiểu sự hy sinh và những khó khăn, gian khổ mà bộ đội ta phải
chịu đựng. Nhớ lại những ngày đầu tiên mới giải phóng, đi trên đất Cam-pu-chia
như đi trên một miền đất chết, tất cả đều là con số không - không trường học,
không bệnh viện, không chợ búa, không tiền bạc, không sách báo, không bưu điện
thư từ, không tôn giáo... Đi đâu cũng gặp hố chôn người tập thể. Tất cả những
người dân mà chúng tôi gặp gỡ, tiếp xúc đều mặc một loại vải đen bạc màu, rách
rưới, thân hình gầy guộc, mặt mày phờ phạc, chỉ còn đôi mắt là ánh lên niềm phấn
khởi và hy vọng vì họ mới thoát khỏi một thảm họa diệt chủng kinh hoàng.
Trước đây, bộ đội ta đã từng chiến đấu trên đất bạn
Lào và Cam-pu-chia. Muốn tồn tại và chiến thắng, nhất thiết phải dựa vào dân.
Nhưng giờ đây, do hậu quả của bọn Pôn Pốt để lại, đất nước Cam-pu-chia trở nên
xơ xác tiêu điều. Mọi thứ, từ lương thực, thực phẩm, thuốc men, nhu yếu phẩm, vật
tư, máy móc, xăng dầu đều phải tiếp tế từ bên nước ta sang, rất xa xôi, cách trở.
Ngoài việc phải đối phó với sự quấy phá của bọn tàn quân, cán bộ, chiến sĩ ta
còn phải chống chọi với mọi khó khăn đủ bề như: ăn uống thiếu thốn, ốm đau thiếu
thuốc men, sách báo, phim ảnh không có, tình cảm thiếu thốn...
Một số trường hợp còn phải trả giá bằng máu, như ở trạm
Ôlămtức (Kô Công), hai chiến sĩ ta đã hy sinh vì mìn của địch và một trạm trưởng
AN/TRC-24 ở Xiêm Riệp bị thiệt mạng và sau đó một số anh em nữa vì nhiệm vụ mà tiếp
tục hy sinh trên đất bạn.
Vì nghĩa vụ quốc tế cao cả, chúng ta tự hào đã góp phần
giúp nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi thảm họa diệt chủng của Pôn Pốt - Iêng
Xa-ri, đưa đất nước bạn vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc, ấm no
và thịnh vượng.
Đăng bởi Quang Hưng (nguồn “Ký ức Cựu chiến binh Thông tin liên lạc - Tập 2”)
0 comments:
Đăng nhận xét